Hoàngquang’s Blog

08/12/2010

Về mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường

Filed under: TƯ TƯỞNG — hoangquang @ 2:55 chiều
Tags:

Mai Thái Lĩnh
Gần đây, sau một loạt bài viết rất có giá trị về chủ đề “Nhân văn Giai phẩm” phổ biến trên trang mạng của đài RFI (Pháp), nhà phê bình văn học Thụy Khuê đã mở rộng đề tài, trong đó có phần đề cập đến những hoạt động của nhóm Ngũ Long tại Pháp vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Nhóm Ngũ Long (năm con rồng) bao gồm 5 người: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (sau này trở thành Hồ Chí Minh). Riêng danh xưng Nguyễn Ái Quốc – một cái tên lúc đầu được dùng chung cho cả nhóm nhằm để đánh lạc hướng thực dân Pháp, về sau lại trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành. Điều này đã gây ra sự lẫn lộn cho việc nghiên cứu các hoạt động của nhóm Ngũ Long (nhất là các tác phẩm ký tên Nguyễn Ái Quốc), khiến nhiều điều tồn nghi mãi đến nay vẫn chưa thể xác minh rõ ràng.
Trong phạm vi của bài viết này, tôi chỉ tập trung vào một số chi tiết có liên quan đến cuộc đời hoạt động của Phan Châu Trinh – nhất là mối quan hệ giữa nhà dân chủ yêu nước này với nhà yêu nước Phan Văn Trường nhằm giúp cho độc giả có được cái nhìn khách quan, đúng đắn hơn về một trào lưu đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử của nước ta trong thế kỷ 20, nhưng những di sản để lại vẫn còn có ảnh hưởng kéo dài qua thế kỷ 21.
1) Về việc thành lập Hội Đồng Bào Thân Ái (La Fraternité des Compatriotes): Tiến sĩ Thu Trang viết về việc thành lập Hội này như sau:
“Trong khi thực dân yên chí về Phan Châu Trinh trong quan hệ với vị luật sư mang quốc tịch Pháp, có tác phong và ngôn ngữ rất Tây, thì hai vị cùng họ Phan này đã bàn bạc và thực hiện nhiều việc quan trọng: – Họ chuẩn bị thành lập tổ chức Người Việt yêu nước đầu tiên tại Pháp. Hội lấy một tên rất dung dị dễ hiểu nói lên tình nghĩa giữa những người xa xứ: “Hội Đồng Bào Thân Ái” do chính Phan Văn Trường làm chủ tịch. Hội đã ra mắt ngày 18.1.1912 tại trường Parangon nơi có đông sinh viên Việt Nam học. Phát biểu tại buổi Hội ra mắt có Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Jules Roux. (…) Hội không khai báo với sở cảnh sát. Các buổi họp thường tiến hành ở các tiệm cà phê hay ở tiệm ăn Tàu. Phan Châu Trinh không chính thức tham gia Hội nhưng cuộc họp nào ông cũng có mặt, có phát biểu và được lắng nghe một cách “thành kính”. Các cuộc họp đều có biên bản được đánh máy ra và phân phát.” (Thu Trang, tr. 48)
Trong bài viết của Thụy Khuê, bà đã trích lại từ hồi ký của ông Phan Văn Trường các đoạn văn như sau:
“Một ngày trong năm 1912, sau khi đưa đám một thiếu niên An Nam, học sinh trường Parangon [trường Nguyễn Thế Truyền học], một số đồng bào đưa ra ý kiến lập hội Ái hữu Sinh viên An Nam tại Pháp (Association amicale des étudiants annamites en France). Họ đề nghị tôi nghiên cứu dự trình để thực hiện càng sớm càng tốt. Tôi trả lời ngay: “Làm thì dễ, Pháp có luật 1/7/1901, tự do lập hội. Nhưng luật không chưa đủ, còn phải tính đến chính sách thuộc địa nữa. Các bạn nên biết, nếu ta lập hội mà không có phép, chính quyền thuộc địa sẽ tìm cách dẹp ngay.” (PVT, trang 87). Tuy nói vậy, nhưng ông cũng làm: “Tôi bắt tay vào việc. Viết bản nội quy và thảo một chương trình [hành động] dài. Hội được thành lập trong sự hoan hỉ của đồng bào đã giao phó trách nhiệm cho tôi. Tôi yêu mến đặt tên nó là Thân Ái (La Fraternité). Hội có mục đích:
1. Giúp sinh viên Đông Dương xa gia đình có cơ hội gặp gỡ, kết bạn, đến chơi và giúp đỡ nhau trong trường hợp rủi ro, bệnh hoạn.
2. Học chung với nhau để trao đổi kiến thức khoa học và văn chương.
Hội Thân Ái mỗi tháng tổ chức nhiều cuộc hội họp, và diễn thuyết.” (Hồi ký PVT, chương 13, trang 87-88).
Dựa vào những đoạn hồi ký trên đây, bà Thụy Khuê đã đưa ra kết luận: “Qua sinh hoạt của hội, Phan Văn Trường gặp Phan Châu Trinh năm 1912. Sau này, người ta thường viết Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường lập hội là không đúng. Người lập hội là Phan Văn Trường.” (Thụy Khuê, XV, Phan Khôi, ch. 1b)
Nhiều tài liệu được tìm thấy trong văn khố của Pháp có thể giúp chúng ta làm rõ sự kiện này:
– Trong một tài liệu lưu trữ tại Pháp (CAOM-SLOTFOM XV/3), có bản báo cáo của một người Việt làm chỉ điểm cho thực dân Pháp, với nội dung tường trình lại cuộc họp thành lập Hội Đồng bào Thân ái vào ngày 18.1.1912 ở trường Parangon. Chúng ta đọc được đoạn văn đây: “Sau đám tang của Dang, ông Trinh và những người cùng đi đã mời tất cả người Đông Dương đến họp nghe nói chuyện tại Parangon. Đó là một cuộc mời họp đột xuất. Ông Trinh cùng một người tôi không biết rõ tên đã nói trước tiên.” Cuối bản báo cáo, kẻ chỉ điểm này viết: “Ông Trường và ông Trinh không căn dặn chúng tôi đừng nói lộ việc trên ra. Nhưng tôi mong Ngài đừng nói việc đó với ai vì sẽ gây cho bản thân tôi một sự trở ngại nghiêm trọng mà Ngài chưa thể nhận thấy được.” (Lê Thị Kinh, I, 3, tr. 134-136)
Như vậy là Phan Châu Trinh có mặt ngay tại cuộc họp thành lập Hội và còn là người phát biểu trước tiên để giới thiệu Hội với đồng bào của mình. Phải chăng đây là một trong những căn cứ khiến cho nhiều người tin rằng Phan Châu Trinh là người đồng sáng lập Hội chứ không phải chỉ là người tham gia về sau?
– Bà Thụy Khuê đã viết: “Qua sinh hoạt của hội, Phan Văn Trường gặp Phan Châu Trinh năm 1912.” Thật ra, không phải đợi đến năm 1912, sau khi thành lập Hội Đồng Bào Thân Ái, hai người mới gặp nhau, mà hai người đã gặp nhau từ những tháng cuối năm 1911. Báo cáo của J. Fourès gửi Toàn quyền Đông Dương đề ngày 30.12.1911 viết: “Tôi xin báo Ngài là người Annam Phan Châu Trinh được mạnh khỏe, có một cuộc sống bình thản và biệt lập trong nhà trọ ông ta đã ở từ 4 tháng nay tại đường Assas số 78. Ông ta rất ít ra ngoài và chỉ tiếp rất ít đồng bào ông ta đang sống ở Paris. Người Annam Phan Văn Trường, cử nhân luật, phụ giảng tiếng Annam ở trường Ngôn ngữ Phương Đông hay đến thăm ông ta nhiều hơn các người khác và Phan Châu Trinh thỉnh thoảng có đến thăm ông ta. Thỉnh thoảng cả hai đến tiệm ăn Tàu để có dịp ăn một bữa cơm để nhớ quê hương. Không có gì đặc biệt được báo cho tôi.” (CAOM-SPCE 372, Lê Thị Kinh, I, q.3, tr.72)
– Điều khiến ta ngạc nhiên là qua các đoạn văn mà bà Thụy Khuê vừa trích, dường như Phan Văn Trường không chủ động lập hội, mà chỉ lập hội do yêu cầu của người khác. Nhưng ai là người gợi ý lập hội? Ông Trường không nói rõ, chỉ nói một cách mơ hồ: lập hội là do “một số đồng bào đưa ra ý kiến”. Hơn nữa, theo ông, ý kiến được đưa ra “sau khi đưa đám một thiếu niên An Nam, học sinh trường Parangon”, có nghĩa là sau ngày đưa tang đó ông mới chuẩn bị việc thành lập hội. Trong thực tế, việc thành lập hội đã được công bố đúng vào ngày đưa tang (nghĩa là vào ngày 18.1.1912), điều đó có nghĩa việc bàn bạc, chuẩn bị phải diễn ra từ trước.
Hơn thế nữa, việc lập hội lại liên quan đến trường Parangon. Tiến sĩ Thu Trang giới thiệu trường này như sau: “Người Việt Nam sống ở Pháp lúc Phan Châu Trinh mới qua không quá 100 người, ngoài số bồi bếp được chủ đưa về và một số quan chức nhỏ, còn có khoảng 40 sinh viên phần lớn là con cháu các gia đình có thế lực được học bổng sang học ở trường Parangon do Nhóm giáo dục Đông Dương quản lý với mục đích không dấu diếm là để “Pháp hóa tối đa” tạo ra những người tuyệt đối trung thành với “mẫu quốc”. Nhưng các sinh viên này đã cùng các trí thức Việt Nam khác rủ nhau đến với Phan Châu Trinh.” (Thu Trang, tr. 45-46).
Qua tài liệu lưu trữ tìm thấy, chúng ta được biết theo đề nghị của Toàn quyền Pháp Albert Sarraut, lúc đầu J. Fourès (Giám đốc Nhóm giáo dục Đông Dương) đã có ý định đưa Phan Châu Trinh và con trai là Phan Châu Dật vào trường Parangon, nhưng đề nghị này đã vấp phải sự chống đối của Salles – Phó Tổng thư ký của Alliance française1 đồng thời cũng là tổng thư ký Ủy ban Paul Bert. Lá thư của Fourès gửi Toàn quyền đề ngày 18.10.1911 có đoạn: “Ngài đã bảo tôi đưa Phan Châu Trinh và con trai ông ta vào trường Parangon, nhưng mặc dầu tôi đã hết sức vận động nhưng ông Hiệu trưởng Rousseau vẫn khăng khăng không chịu nhận vì ông Salles – Tổng thư ký Ủy ban Paul Bert, đã phản đối; ông này cho rằng y sẽ biến học trò An nam đang học ở đây thành đồ đệ các tư tưởng cải cách của y. Sự phản đối của ông Salles khá bất ngờ vì ta nhớ chính ông Salles đã là người đầu tiên muốn bảo vệ Phan Châu Trinh khi ông này mới tới. Và chỉ cách đây 3 tháng chính ông ta đã đưa Phan Châu Trinh đến Parangon như là khách danh dự của trường này và trong suốt một buổi chiều đã đưa ông ấy đi xem khắp lượt cho thấy tất cả tiện nghi của trường.” (CAOM – SPCE 372, Lê Thị Kinh, I, 3, tr. 68-69) Như vậy là Phan Châu Trinh đã từng có dịp tham quan ngôi trường này vào lúc ông đặt chân đến Paris – khoảng tháng 7 năm 1911.
– Sự chống đối của Salles bắt nguồn từ sự lo ngại của ông ta về việc Phan Châu Trinh có thể gây ảnh hưởng đến những du học sinh này. Salles đã viết trong lá thư đề ngày 3.10.1911 gửi cho một quan chức của Bộ Thuộc địa: “Tôi suy nghĩ về thông tin của Ngài báo tôi sáng nay là Phan Châu Trinh sẽ được đến ở Parangon và tôi rất lo ngại về điều đó. (…) Tôi không tin là những kẻ lãnh đạo, những tên cầm đầu ấy đã từ bỏ kế hoạch của họ. Trong những điều kiện ấy tôi cho rằng sẽ rất phi chính trị, rất nguy hiểm nếu để Phan Châu Trinh tiếp xúc hàng ngày trực tiếp với nhóm học sinh An nam khá đông mà chúng ta đã bố trí ở Parangon.” (CAOM-SPCE, Lê Thị Kinh, I, 3, tr. 66-67). Do sự phản đối của Salles mà Phan Châu Trinh và con trai đã không thể đến ở tại Parangon. Cuối cùng thì hai cha con phải chuyển đến trọ tại số 78 đường Assas. Phan Châu Dật tiếp tục việc học tại trường làng trong quận Montparnasse.
Bà Thu Trang có trích một văn bản của Salles trong đó có đoạn: “Không nên để Phan Châu Trinh gặp các sinh viên An Nam khá đông (40 người) ở Parangon. Chúng ta đang cố gắng Pháp hóa tư tưởng chúng, Phan Châu Trinh sẽ cản trở, thậm chí còn lôi kéo họ bằng những cuộc nói chuyện. Bà quản lý ký túc xá nơi Phan Châu Trinh ở rất ngạc nhiên khi thấy đám sinh viên quý trọng ông như thế nào… Ông ta nói một giờ rưỡi, hai giờ và họ há hốc mồm nghe một cách say mê. Ông ta hoạt bát và năng động, mới đến mà đã quen biết và quan hệ với nhiều người châu Á tại tiệm ăn Tàu đường Cardinal Lemoine. Đã có lệnh tránh các cuộc tiếp xúc báo chí nhưng ông ta phớt lờ vì vậy đã có bài phỏng vấn ngày 17.7.1911 trên báo Le Temps.” (Thu Trang, tr. 46)
Nhưng mặc dù đã tìm cách tách Phan Châu Trinh ra khỏi số học sinh của trường Parangon, Bộ Thuộc địa Pháp và những người chủ trương chính sách thực dân vẫn không thể ngăn cản việc họ đến với Hội Đồng bào Thân ái. Sáu tháng sau khi Hội Đồng Bào Thân Ái được thành lập, trong lá thư gửi Capus (Phái viên của Toàn quyền Đông Dương tại Bộ Thuộc địa) đề ngày 30.6.1912, Salles viết:
Hôm qua sau khi Ngài rời đi, tôi đã có suy nghĩ thêm: Ông Fourès hay có thói quen tập trung các học trò của ông ta về trường Parangon vào cuối tháng 7 rồi từ đó đưa chúng đi với nhau về những nơi chúng sẽ nghỉ hè tập thể. Như vậy nếu Ngài cũng thực hiện cùng cách đó thì sẽ tạo cho Trinh một cơ hội để tác động vào các trẻ hiện nay ở xa Paris bằng cách hoặc là gọi chúng đến hội Đồng Bào, hoặc y đến nghỉ hè cùng với chúng nó dù được Ngài cho phép hay không. Ngài có thấy tốt hơn nên phân tán các trẻ ra và cho chúng ở các gia đình ở gần hoặc xa các trường chúng đang học để tránh lây nhiễm? Gì thì gì, tốt hơn là đưa Trinh đi xa sau ngày 14.7 và trước khi các trẻ được tập trung về Parangon. Tuy nhiên tôi lo y không chịu vậy đâu. Ngài nghĩ thế nào?” (CAOM-SPCE 373, Lê Thị Kinh, I, 3, tr.89).
Như vậy là nửa năm sau khi Hội Đồng Bào Thân Ái được thành lập, những người Pháp thực dân vẫn tìm mọi cách ngăn cản Phan Châu Trinh lôi kéo các học sinh của trường vào sinh hoạt của Hội. Và điều đáng ngạc nhiên là người mà họ lo sợ lại là Phan Châu Trinh chứ không phải là ông Chủ tịch Hội Phan Văn Trường.
Những chi tiết nêu trên khiến cho ta phải đặt giả thuyết rằng chính Phan Châu Trinh mới là người chủ động lập Hội, còn Phan Văn Trường chỉ là người chăm lo các thủ tục pháp lý và đứng tên làm Chủ tịch. Điều này lại càng hợp lý khi ta so sánh quá trình hoạt động của hai người: Phan Văn Trường vào lúc này chỉ là một trí thức dấn thân chưa có kinh nghiệm gì trong khi Phan Châu Trinh đã là một nhà hoạt động chính trị có nhiều kinh nghiệm trong việc tập hợp và giáo dục quần chúng. Trong bản thảo “Pháp-Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam”, ông có kể ra những hội mà ông đã thành lập trong Phong trào Duy Tân. Những hội đã lập: hội buôn, trường tiểu học phổ thông ở hương thôn, hội tân học, hội diễn thuyết, hội trồng cây, hội cắt tóc, mặc áo ngắn; những hội lập mà chưa thành: hội cải lương tơ tằm, hội cải lương vải Nam. (Tuyển tập PCT, tr. 592) Việc thành lập hội trở thành chủ trương suốt cả cuộc đời của PCT. Trong những năm ở Pháp, ông lập hết hội này đến hội khác. Vào năm 1922, ông đã dự định thành lập Hội xã hội chủ nghĩa Đông Dương tại Pháp (Association Socialiste Indochinoise en France) tại Marseille. Hội cuối cùng mà ông thành lập là Hội Liên hiệp Pháp – Đông Dương tại Paris vào đầu năm 1925, do đích thân ông làm Chủ tịch.
– Ngày 13.11.1912, Salles đã gửi thư cho một quan chức ở Bộ Thuộc địa trong đó có đoạn: “Như tôi đã hứa với bạn mấy hôm trước đây, nay tôi xin cung cấp cho bạn các thông tin tôi đã thu lượm gần đây về Hội Đồng Bào do Phan Châu Trinh thành lập với Phan Văn Trường làm chủ tịch. Anh này làm phụ giảng ở trường Ngôn ngữ Phương Đông. (…) Người ta cũng thông báo với tôi là Hội Đồng Bào có 3000 frs trong quỹ, riêng Phan Châu Trinh đã đóng 500 f tiền túi của y. (…) Hội Đồng Bào năm 1912 có vẻ muốn nối tiếp truyền thống của Hội Đồng Bào năm 1908 ở Trung Kỳ. Ngày trước họ muốn học đòi các cuộc biểu tình hòa bình của dân trồng nho phía nam nước Pháp. Ngày nay họ chỉ đòi quyền tự do lấy trong chương trình giáo dục của chúng ta những gì thích hợp cho họ, và thêm vào đó họ xin được nhập quốc tịch Pháp. Chủ trương mới này mang tính lâu dài hơn nhưng còn khôn khéo hơn nhiều, có thể tóm tắt như sau: “nấp dưới luật pháp của Pháp để chống chính sách của Pháp ở Đông Dương.” (CAOM-SPCE 371, Lê Thị Kinh, I, 3, tr. 153-157)
Trong đoạn văn trên đây, Salles nhận định rằng: “Hội Đồng Bào do Phan Châu Trinh thành lập với Phan Văn Trường làm chủ tịch”. Ý kiến này rõ ràng là một nhận định dựa vào thực tế, căn cứ vào cả một quá trình theo dõi suốt gần một năm trời, không phải chỉ là một nhận xét vu vơ.
2) Ai là tác giả của bản Thỉnh nguyện thư của Nhân dân An Nam gửi Hội nghị Versailles năm 1919?Trong lời tựa viết cho cuốn sách Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925 của Tiến sĩ Thu Trang, học giả Hoàng Xuân Hãn nhận xét về bản văn này như sau: “Hình như ta còn thấy dấu vết sự phân công: Phan Châu Trinh soạn Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn, Nguyễn Tất Thành dịch ra Việt văn bằng bài ca lục bát đề là Việt nam yêu cầu ca. (Thu Trang, trang 8). Trong bài viết của mình, bà Thụy Khuê đã bác bỏ ý kiến này. Bà viết: “Nhưng qua văn bản, chúng tôi có thể xác định: Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, vì đây là chủ đề một buổi diễn thuyết của ông năm 1913 (Les revendications indigènes – Những thỉnh nguyện của người bản xứ), như đã nói ở trên. Lời văn trong bài phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: Kín đáo, kiêu kỳ, mỉa mai, thâm thuý. Phan Châu Trinh dịch sang Hán Văn. Nguyễn Tất Thành làm bài thơ (đúng hơn là vè).“ (Thụy Khuê, XV, Phan Khôi, 1b)
Như vậy là theo Thụy Khuê, không phải Phan Văn Trường dịch sang Pháp văn mà ngược lại, chính Phan Châu Trinh mới là người dịch sang Hán văn. Bà đã dựa trên chứng cứ sau đây: “Ngày 13/3/19142, Phan Văn Trường diễn thuyết về đề tài Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ) tại trường Cao Đẳng Xã Hội (Ecole des Hautes Études Sociales), bài nói chuyện này là nguồn cội của bản Thỉnh nguyện của Dân tộc An Nam (Revendications du Peuple Annamite) gửi Hội nghị hoà bình thế giới ở Versailles, năm 1919.”3
Khi cho rằng “Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp vì đây là chủ đề của một buổi diễn thuyết của ông năm 1913”
(hay 1914?), còn Phan Châu Trinh chỉ là người “dịch sang Hán văn”, có lẽ bà Thụy Khuê cho rằng toàn bộ tư tưởng chứa đựng trong bản văn nói trên là của Phan Văn Trường, còn Phan Châu Trinh chỉ là người dịch – nghĩa là không có tư tưởng gì của riêng mình?
Nhiều tư liệu thu thập được cho chúng ta thấy: ngay khi đặt chân đến Pháp, trước khi gặp Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh đã gửi cho Bộ trưởng thuộc địa và Toàn quyền A. Sarraut 5 bản kiến nghị, tất cả đều do Roux dịch sang tiếng Pháp (Lê Thị Kinh, I, q.3, tr.34-40).
5 kiến nghị vắn tắt đó có nội dung như sau:
1)Yêu cầu xét lại các bản án xử các nho sĩ Trung Kỳ, 31.5.1911;
2) Về báo chí và diễn thuyết (tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp), 2.6.1911;
3) Về các điều luật và về việc thành lập tòa án bổ sung, 4.6.1911;
4) Bãi bỏ các biện pháp cấm sách Trung Hoa (lập hội dịch các sách Pháp và Trung Hoa sang chữ quốc ngữ và mở các phòng đọc sách), 5.6.1911;
5) Về việc đóng cửa các trường học (sự trừng phạt đối với những người lập trường học và việc họ bỏ trốn ra nước ngoài), 5.6.1911.

Cả 5 lá thư này đều được soạn từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 năm 1911 và được gửi cho Albert Sarraut trước ngày 20.7.1911 (ngày Roux viết thư báo tin cho Phan Châu Trinh).
Hãy so sánh nội dung của 5 kiến nghị nói trên với 8 yêu cầu ghi trong Bản thỉnh nguyện của Nhân dân An Nam (Revendications du Peuple Annamite) gửi Hội nghị Versailles năm 1919:
1- Ân xá toàn diện tất cả những chính trị phạm người bản xứ.
2- Cải tổ ngành tư pháp Đông dương bằng cách bảo đảm cho người bản xứ những điều kiện về luật pháp như người Âu châu. Bãi bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt – những công cụ khủng bố và đàn áp chống lại bộ phận lương thiện nhất của dân tộc An Nam.
3- Tự do báo chí và tự do tư tưởng.
4- Tự do lập hội và hội họp.
5-Tự do di dân và du lịch ở nước ngoài.
6-Tự do giáo dục và thiết lập những trường kỹ thuật và chuyên nghiệp dành cho người bản xứ.
7- Thay thế chế độ pháp luật.
8- Phái đoàn đại diện thường trực của người bản xứ được bầu hoạt động bên cạnh Nghị viện Pháp để thông báo những nguyện vọng của người dân bản xứ.
Chúng ta có thể thấy 7 điểm đầu tiên trong bản thỉnh nguyện thư chính là sự phát triển của các ý kiến nằm trong 5 bản kiến nghị, tức là các ý tưởng mà Phan Châu Trinh đã tích lũy trong đầu trước khi gặp Phan Văn Trường.
Ba yêu cầu (1), (2) và (7) liên quan đến việc ân xá cho các tù chính trị, cải tổ hệ thống pháp lý ở Đông Dương, chính là các vấn đề mà Phan Châu Trinh đặc biệt quan tâm. Vào tháng 7 năm 1911, khi trả lời phỏng vấn báo Le Temps, Phan Châu Trinh tập trung vào 3 vấn đề: (1) tổ chức tòa án, (2) tuyển chọn quan lại và (3) thu thuế. Về vấn đề (1), ông nói: “Chúng tôi mong muốn có sự phân quyền để một viên quan không đồng thời cai trị và xử án. Sự phân quyền này đã có ở Nam Kỳ và mặc dầu chưa phải việc xét xử luôn được công minh nhưng tổ chức tòa án nhìn chung khả dĩ được dân chúng chấp nhận. Tiếc thay, ở Bắc kỳ và Trung kỳ thì không được như vậy. Các viên chức Chính phủ tự quyền xét xử hay ra lệnh cho các tòa án xét xử mọi vụ án.” (Lê Thị Kinh, I, q. 3, tr. 42-43)
Việc gặp gỡ Phan Văn Trường trên đất Pháp đã giúp ích cho Phan Châu Trinh rất nhiều. Qua trao đổi, thảo luận, vị luật sư này chắc chắn đã giúp cho Phan Châu Trinh phát triển, hệ thống hóa và cô đúc các yêu cầu đó một cách sắc bén hơn, logic hơn. Nhưng điều ta có thể khẳng định là trước khi gặp Phan Văn Trường, trong đầu của Phan Châu Trinh đã hình thành phần lớn các ý tưởng này.
Riêng điểm thứ 8, chúng ta thấy yêu cầu đó chỉ có thể xuất phát từ một người không chỉ quan tâm đến các quyền tự do mà còn nghĩ đến dân chủ – tức là xây dựng một chế độ đại nghị. Ý kiến này chính là của Phan Châu Trinh. Sáu năm sau khi bản thỉnh nguyện thư ra đời, ông đã trình bày lại ý kiến đó một cách rõ ràng hơn trong một cuộc họp của Hội Liên hiệp Pháp – Đông Dương vào chiều ngày 22.2.1925. Cuộc họp này với khoảng 200 người tham dự đã diễn ra tại số 8 đường Danton – Paris, dưới sự chủ tọa của Phan Châu Trinh. Bản mật báo của Désiré có ghi như sau: “Trước mắt, Phan Châu Trinh muốn có càng đông càng tốt người An nam nhập Pháp tịch để có đại diện ở Hạ viện, vì Đông Dương có 20 triệu dân, từ đó có thể có số Hạ nghị sĩ khá lớn. Số này có thể thành một nhóm đông và với sự ủng hộ của những người Pháp bênh vực dân bản xứ thì có thể đạt được đa số… và với cách đó, chúng ta có thể được giải thoát.” (CAOM-SLOTFOM 15/2, Lê Thị Kinh, II, tr. 492)
Trong bản báo cáo của Vụ chính trị Bộ thuộc địa gửi Bộ trưởng Daladier đề ngày 11.5.1925, cũng có ghi: “Hồi tháng 2 năm 1925, ông (tức Phan Châu Trinh) nêu ý kiến trong một cuộc họp do ông chủ tọa là cần có thật đông người An Nam vào Pháp tịch để được cử ra nhiều hạ nghị sĩ nhằm giải phóng dân Nam. Tháng 4-1925, ông ta khẳng định ý đồ về Đông Dương sau khi nhập Pháp tịch để khỏi bị “khuấy rầy”. (CAOM, SLOTFOM 15/2, Lê Thị Kinh, II, tr. 500).
Rõ ràng “đưa người Việt Nam vào Hạ viện Pháp” là chủ trương của Phan Châu Trinh, và giải pháp này hoàn toàn phù hợp với đường lối đấu tranh chính trị một cách ôn hòa để đòi tự trị, vừa kết hợp sức mạnh của dân tộc vừa tận dụng sức mạnh của những người Pháp cấp tiến tại chính quốc. Mặc dù đối với người Việt Nam và đối với hệ thống thuộc địa của Pháp, đây là một sáng kiến rất mới lạ; nhưng điều này lại không hề xa lạ đối với hệ thống thuộc địa của Anh. Ngay từ năm 1892, người Ấn đã có đại diện tại Hạ viện Anh. Vị dân biểu Hạ viện (MP) đó là chính là Dadabhai Naoroji (1825-1917), một trong những người có công trong việc hình thành tổ chức Đại hội Quốc dân Ấn Độ (Indian National Congress – tiền thân của Đảng Quốc Đại ngày nay). Ông là một lãnh tụ thuộc phái ôn hòa ba lần được bầu làm Chủ tịch INC (1886, 1893 và 1906).
Tóm lại, chúng ta có thể xác định: các yêu cầu nêu trong thỉnh nguyện thư 1919 xuất phát từ quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh, gắn bó với đường lối đấu tranh chính trị ôn hòa để đòi các quyền tự do căn bản và thiết lập một chế độ dân chủ đại nghị.
Riêng về mặt văn bản, giữa nhận xét của giáo sư Hoàng Xuân Hãn (Phan Châu Trinh soạn Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn) và nhận xét của bà Thụy Khuê (Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, Phan Châu Trinh dịch sang Hán Văn), ý kiến nào gần với sự thật hơn, xin nhường lại sự phán xét cho các nhà ngôn ngữ học và phê bình văn học.
Về vai trò của Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, không phải ngẫu nhiên mà Hồ Hữu Tường đã viết những dòng như sau: “Khi ra tù, hai cụ được Nguyễn Thế Truyền, học xong ở Toulouse lên hiệp tác. Đầu tháng bẩy cụ Tây Hồ móc nối được với Nguyễn Tất Thành, lúc đó ở London, nên viết thơ gọi về Paris. (…), Đến 1918, nhóm nầy lại được Nguyễn An Ninh ở Sài gòn sang nhập bọn. Người ngoài cho đó là năm con Rồng, bởi người Việt xưng mình là “con Rồng”. Linh hồn của nhóm “Ngũ long” nầy là cụ Phan Châu Trinh.” (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 18-19; trích theo Thụy Khuê).
“Phan Châu Trinh là linh hồn của nhóm Ngũ Long”. Nhận xét đó của Hồ Hữu Tường có thể được coi là một nhận xét mang tính khách quan, vô tư, bởi vì xét về mặt tư tưởng và khuynh hướng chính trị, Hồ Hữu Tường gần gũi và có thiện cảm với Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường hơn là với Phan Châu Trinh. Cho nên, nếu không tìm được những chứng cứ nào khác để bác bỏ điều này, chúng ta có thể khẳng định: ít nhất là cho đến đầu thập niên 1920, Phan Châu Trinh vẫn là linh hồn của nhóm Ngũ Long.
3) Về tính khách quan của cuốn hồi ký của Phan Văn Trường:
Theo bà Thụy Khuê, Phan Văn Trường để lại cuốn hồi ký tựa đề Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’indochine (Câu chuyện những người An Nam âm mưu (chống Pháp) tại Paris hay Sự thật về Đông dương) đăng từng kỳ trên báo La Cloche Fêlée (Chuông rè) từ 30/11/1925 đến 15/3/1926. Năm 1928, Nxb Gia Định (Sàigòn) in thành sách và L’Insomniaque, Paris, tái bản năm 2003.
Trong hồi ký của mình, Phan Văn Trường đã dùng những lời lẽ khá nặng nề để phê phán người bạn của mình, người mà ông đã cộng tác chặt chẽ trong thời gian khoảng 10 năm. Lời phê phán nặng nề nhất là câu sau đây: “Tạm nói mà không hề có ý miệt thị rằng, người này – vẫn bám vào chính quyền thuộc địa, bị đuổi cửa trước thì luồn vào cửa sau – người mà chính quyền thuộc địa hai lần buộc tội âm mưu chống Pháp! Phan Châu Trinh là một người thông minh, một người tử tế, một người bạn tốt; nhưng những đức tính này không đủ để làm nên một người cách mạng” (PVT, trang 73-74-75).
Có thể nói nội dung của lời phê phán này rất gần gủi với lời chỉ trích mà những người cộng sản sau này đã dành cho Phan Châu Trinh: “Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận ra điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.” 4 Chữ “anh” trong đoạn văn này dùng để chỉ Nguyễn Tất Thành, người sau này trở thành Hồ Chí Minh – lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bà Thụy Khuê nhận xét về lời phê phán của Phan Văn Trường như sau: “So với lời Phan Châu Trinh phê phán Phan Bội Châu, trong bài “Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp”, thì lời Phan Văn Trường phê phán Phan Châu Trinh, cũng còn là nhẹ.” (Thụy Khuê, Phụ lục: Nguyễn Ái Quốc, lai lịch và văn bản – phần 2a)
Sự so sánh này hoàn toàn khập khiễng. Bởi lẽ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu sau một giai đoạn ngắn làm quen với nhau đã chia tay mỗi người mỗi ngả, không hề cộng tác với nhau. Hơn thế nữa, Phan Châu Trinh đã bỏ dở nửa chừng, không hoàn tất bản thảo “Liên hiệp Pháp-Việt hậu chi tân Việt Nam”, và người ta chỉ được biết đến nó sau khi ông mất. Suốt đời, ông vẫn giữ gìn tình cảm đối với Phan Bội Châu, và vẫn hy vọng có ngày thuyết phục được nhà yêu nước này. Trong khi đó, Phan Văn Trường lại cho công bố rộng rãi một bản hồi ký trong đó chỉ trích một người đã cộng tác với mình trong một thời gian khá dài, vào một thời điểm hoàn toàn không thích hợp.
Bà Thụy Khuê viết: “Chân dung này, Phan văn Trường viết khoảng 1923, mục đích bênh vực Phan Châu Trinh, bị Pháp kết tội oan, vì không hiểu rõ chủ trương Pháp Việt đề huề của ông. Nhưng đồng thời cũng nói lên sự khác biệt trong chủ trương tranh đấu của Phan Văn Trường với Phan Châu Trinh, đó cũng là sự khác biệt sâu xa giữa những người Nho học và Tây học.” (Thụy Khuê, bđd)
Không rõ nhận định này dựa vào căn cứ nào? Nhưng lý do “bênh vực Phan Châu Trinh bị Pháp kết tội oan” thật đáng nghi ngờ, bởi lẽ Phan Châu Trinh chẳng cần đến sự bênh vực của Phan Văn Trường. Cả hai lần bị bắt, ông đều nhờ có sự giúp đỡ của những người khác để thoát khỏi cảnh ngục tù; đó là chưa kể đến việc ông có thể tự biện hộ. Nếu Phan Văn Trường viết hồi ký vào năm 1923, sao không cho công bố sớm để người bạn mình có thể phản biện? Hơn thế nữa, tại sao lại cố tình đánh đồng chủ trương “Pháp-Việt liên hiệp” của Phan Châu Trinh với chủ trương “Pháp-Việt đề huề” của Đảng Lập hiến trong khi hai chủ trương này tuy có điểm chung nhưng vẫn có nhiều điểm khác biệt?
Vậy thì lý do thật sự của việc công bố bản hồi ký là gì?
Như chúng ta đã biết, giữa năm 1925, nhờ cuộc đấu tranh của những người cánh tả Pháp – nhất là của hạ nghị sĩ Marius Moutet, Phan Châu Trinh đã trở về Việt Nam. Ông về đến Sài Gòn vào ngày 26.6.1925, cùng đi với ông là Nguyễn An Ninh – một người thuộc phái tả. Nhưng kể từ đầu năm 1925, các hoạt động của Phan Châu Trinh đã bắt đầu gắn bó với phái hữu ôn hòa – nhất là Đảng Lập hiến. Vì thế tất cả các hoạt động của ông kể từ đó đều có sự cộng tác của cả phái tả lẫn phái hữu.
Hạ tuần tháng 11.1925, Toàn quyền Varennes đến thăm Sài Gòn. Mặc dù sức khỏe không được tốt, Phan Châu Trinh đã tham gia đón tiếp ông Toàn quyền và tối ngày 19.11, đã diễn thuyết về đề tài “Luân lý và đạo đức Đông Tây”. Chiều ngày 27.11.1925, đoàn đại diện nhân dân ba kỳ đã trao Thỉnh nguyện thư cho Toàn quyền, trong đoàn bên cạnh Phan Châu Trinh có mặt cả Phan Văn Trường (cánh tả) lẫn Nguyễn Phan Long (cánh hữu). Tối hôm đó, mặc dù bị sốt cao, Phan Châu Trinh đã thực hiện buổi diễn thuyết thứ hai về đề tài “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”. Hai buổi diễn thuyết đã nâng cao uy tín của Phan Châu Trinh nhưng sau các hoạt động này, ông phải vào bệnh viện điều trị trong 15 ngày. Từ ngày 27.12.1925, do sức khỏe sa sút, Phan Châu Trinh phải chuyển lên Hóc Môn ở nhà ông Nguyễn An Cư (chú của Nguyễn An Ninh) để điều trị bằng đông y. Đến đầu tháng 2.1926, bệnh ông ngày càng nặng. Ông mất vào ngày 24.3.1926, lúc 21h30. (Lê Thị Kinh, II, tr. 583-610)
Hồi ký của Phan Văn Trường đã được đăng trên nhiều số của báo La Cloche Fêlée, từ 30.11.1925 đến 15.3.1926. Đây chính là thời gian Phan Châu Trinh đang sa sút về sức khỏe và sắp sửa lìa đời. Việc đăng hồi ký chỉ trích ông đúng vào lúc ông không có khả năng đối đáp không thể được coi là cách tốt nhất để bênh vực một người bạn.
Một chi tiết đáng lưu ý khác là sự kiện bản Tuyên ngôn cộng sản được bắt đầu đăng công khai trên tờ La Cloche Fêlée vào ngày 29.3.1926, 5 ngày sau khi Phan Châu Trinh qua đời, 6 ngày trước khi đưa tang Phan Châu Trinh. Đó là chưa kể đến sự kiện Nguyễn An Ninh bị bắt đúng vào sáng ngày 24.4.1926, ngay tối hôm đó Phan Châu Trinh qua đời. Đây là lần đầu tiên Nguyễn An Ninh bị bắt giam và bị kết án 2 năm tù trong phiên tòa diễn ra vào ngày 23.4.1926 (sau khi kháng án rút xuống còn 18 tháng tù).
Điều này cho thấy bản hồi ký này được đăng tải đúng vào lúc diễn ra cuộc tranh chấp gay gắt giữa phái tả (Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh) và phái hữu (Đảng Lập hiến) để tranh giành ảnh hưởng ở Nam Kỳ. Phan Văn Trường chỉ trích Phan Châu Trinh là vì nhà dân chủ này chủ trương hợp tác với phái hữu trong cuộc đấu tranh để giành quyền tự trị cho nhân dân Việt Nam – một mục tiêu ban đầu cần đạt tới trước khi tiến tới đấu tranh giành độc lập hoàn toàn.
4) Lý do gây ra sự rạn nứt của nhóm Ngũ Long:
Cuối cùng là vấn đề khiến chúng ta quan tâm nhiều nhất: lý do làm rạn nứt nhóm Ngũ Long. Sự tập hợp nhóm này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường – khởi đầu từ cuối năm 1911. Đỉnh cao của sự hợp tác giữa hai nhân vật này chính là bản thỉnh nguyện năm 1919 gửi Hội nghị Versailles.
Thế nhưng, kể từ đầu thập niên 1920, tình bạn và tình đồng chí giữa hai nhà yêu nước họ Phan này bắt đầu rạn nứt. Những bất đồng ngày càng gay gắt, không thể hóa giải và sự phân ly trở nên rõ rệt kể từ cuối tháng 3 năm 1923. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn thấy sự rạn nứt này của nhóm Ngũ Long, nhưng lại không thể giải thích được một cách thỏa đáng lý do sâu xa làm cho nhóm này phân hóa. Có người tìm cách giải thích sự rạn nứt này bằng cách dựa vào cá tính. Vd: cho rằng Phan Châu Trinh “thẳng thắn đến thô bạo”, do đó gây va chạm với Phan Văn Trường và những người khác trong nhóm. Nhưng lý do này không đủ để giải thích một số mâu thuẫn về tư tưởng bộc lộ qua một số lá thư trao đổi giữa những người trong nhóm.
Trong một lá thư đề ngày 25.1.1925 gửi cho một du học sinh tên là Đông ở Montpellier, Phan Châu Trinh đã viết như sau: “Tôi xem anh là người thông minh, và các anh em ở Montpellier, nhiều anh em ham học lắm, nhưng khốn nạn thay, nòi giống ta bây giờ như giống tằm bị bệnh lâu năm, con hư thì hư rồi, còn con có thể làm kén được, cũng bị độc đó, mà tơ chỉ chẳng ra gì, hại thay! Thật thế, tôi xem anh Nguyễn Ái Quốc, anh Nguyễn Thế Truyền và ông Phan Văn Trường, rất là người thông minh bực nhứt xứ ta, nhưng xem ra ông nào cũng bị một chứng bệnh nặng cả, chẳng biết ngày sau có làm ra công hiệu gì cho nòi giống ta được nhờ chăng? Hay là trước học tàu là ông đồ hủ nho, nay học Tây là anh đồ hủ Âu mà thôi!” (Tuyển tập PCT, tr. 832)
Tại sao Phan Văn Trường nhận xét rằng Phan Châu Trinh không có đủ những đức tính “để làm nên một người cách mạng” trong khi Phan Châu Trinh lại cho rằng những người khác trong nhóm Ngũ Long đã mắc “một chứng bệnh nặng”, có nguy cơ trở thành những “anh đồ hủ Âu” tương tự như những “ông đồ hủ nho” ngày trước?
Thật ra, lý do sâu xa làm nên sự rạn nứt của nhóm Ngũ Long liên quan đến sự khác biệt về tư tưởng và quan niệm chính trị. Người nắm vững lý do này chính là Nguyễn An Ninh – một người có mối quan hệ thân thiết với cả Phan Châu Trinh lẫn Phan Văn Trường. Ông đã trình bày điều này trong một bài viết có nhan đề “Vài lời nhắc nhở – Điếu văn khóc Phan Văn Trường”, đăng trên báo Trung Lập ngày 27.4.1933.
Theo Nguyễn An Ninh, đã có một sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức của Phan Văn Trường kể từ khi có sự phân ly trong Đảng Xã hội. Ông viết: “Hai chữ giác ngộ để khuyến khích thiên hạ ngày nay, trước kia nó không lạ tai gì với Phan Văn Trường. Sự chia rẽ trong Đảng Xã hội Pháp, lúc toàn quốc hội nghị ở Tours năm 1920, có ảnh hưởng một cách sâu xa trong đầu óc của Phan Văn Trường.”5
Như chúng ta đã biết, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (lúc đó có tên là SFIO), một bộ phận (chủ yếu là giới trẻ) đã tách khỏi SFIO để gia nhập Quốc tế cộng sản, lúc đầu lấy tên là Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản (Section française de l’Internationale communiste, SFIC) – tiền thân của Đảng cộng sản Pháp (Parti communiste français, PCF) sau này. Về mặt số lượng, đa số trong đảng đã ngả theo phía cộng sản: 120.000 đảng viên gia nhập vào Đảng cộng sản, trong khi SFIO chỉ còn có 40.000 đảng viên. Mặc dù phần lớn các nghị sĩ tại Quốc hội và các đại biểu dân cử cấp địa phương vẫn còn ở lại với SFIO nhưng đảng này đã chịu một sự thiệt hại lớn lao khi tờ báo đảng l’Humanité cùng với giám đốc tờ báo là Marcel Cachin đã đi theo phái cộng sản. Hiện tượng « người già ở lại với đảng dân chủ – xã hội, người trẻ bỏ đảng để đi theo con đường cộng sản của Lenin » không phải là hiện tượng cá biệt ở Pháp, mà ở hầu khắp các nước châu Âu.
Đại hội Tours năm 1920 với sự ra đời của Đảng cộng sản Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của Phan Văn Trường. Mặc dù không trở thành một người cộng sản hay một nhà mác-xít thực thụ, Phan Văn Trường ít nhất đã trở thành một nhà mác-xít về mặt nhận thức.
Nguyễn An Ninh so sánh Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh như sau: “Phan Văn Trường nghiên cứu chủ nghĩa “Mã Khắc Tư”, nhờ nó mà hiểu rõ sự tiến hóa của xã hội. Còn Phan Châu Trinh trọn mười mấy năm ở Pháp cứ ôm bộ “Ẩm Băng Lương Khải Siêu” cho đến ngày về nước cũng còn đem theo tàu để lót đầu nằm, thì làm sao hai người không chọi nhau được. Song hai anh em cũng cứ giữ thái độ bạn già mà đối với nhau. Tôi nhắc đến câu chuyện này là cốt ý chỉ rằng Phan Văn Trường là người giác ngộ hơn Phan Châu Trinh. Mà Phan Châu Trinh lại được quý trọng như kia. Còn sự chết của Phan Văn Trường ngày nay, chắc ít người chú ý đến.”(bđd)
Chữ “giác ngộ” mà Nguyễn An Ninh sử dụng có nghĩa là “tiếp thu chủ nghĩa Mã Khắc Tư (chủ nghĩa Marx)”, tức là tiếp thu “quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử”, nhờ đó mà “hiểu rõ sự tiến hóa của xã hội”. Ông đánh giá Phan Châu Trinh là người “kém giác ngộ hơn” vì đầu óc ông này vẫn còn “u mê, lạc hậu”, chìm đắm trong tư tưởng của Lương Khải Siêu. Nhận xét này đúng ở chỗ: Phan Châu Trinh hoàn toàn không chấp nhận chủ nghĩa Marx mà trước sau vẫn là một nhà tự do (libéral, liberal), một nhà dân chủ (démocrate, democrat). Tuy nhiên, Nguyễn An Ninh đã không đúng khi cho rằng Phan Châu Trinh chỉ dừng lại ở tư tưởng của Lương Khải Siêu. Như tôi đã trình bày qua một số bài viết, so với khi mới đọc tân thư, qua tìm hiểu thực tế của nền dân chủ hiện đại, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh đã phát triển một cách khá hoàn chỉnh và có thể nói, ông nắm rất vững những nguyên tắc căn bản của chế độ dân chủ hiện đại chứ không phải chỉ hiểu biết một cách lơ mơ theo kiểu sách vở, từ chương.
Mặc dù quý trọng cả hai người, nhưng do chịu ảnh hưởng phần nào của chủ nghĩa Marx, Nguyễn An Ninh vẫn thiên về phía Phan Văn Trường: “ Phan Châu Trinh lắm khi bị ông ta (tức Phan Văn Trường) phê bình dữ dội, cũng là vì cái tính ngay thẳng của ông ta không hạp với cái tính đầu cơ của Phan Châu Trinh.”(bđd) Tính ngay thẳng, theo cách hiểu của Nguyễn An Ninh có nghĩa là: tả ra tả, hữu ra hữu, không thể có chuyện tả lại cộng tác hay thỏa hiệp với hữu. Tính ngay thẳng cũng có nghĩa là quyết liệt chống Tây, không thỏa hiệp với Tây. Việc hợp tác với phái hữu, hợp tác với người Pháp được coi là có “tính đầu cơ”. Để hiểu những lời lẽ này, chúng ta phải tìm hiểu mối quan hệ giữa những người mác-xít và những người xét lại, hay giữa những người cộng sản và những người dân chủ – xã hội.
Như tôi đã phân tích trong cuốn Huyền thoại về một Nhà nước tự tiêu vong6, từ cuối thế kỷ 19, cánh tả ở châu Âu đã dần dần tách đôi thành hai phái: cải cách và cách mạng. Sự phân ly này càng rõ rệt hơn sau khi cuộc Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở Nga vào năm 1917. Đầu thập niên 1920, sự phân ly này đã dội vào phong trào cánh tả ở Pháp, xé đôi Đảng Xã hội (SFIO) và làm tan rã nhóm Ngũ Long – hạt nhân của phong trào cánh tả Việt Nam.
Bài báo nói trên của Nguyễn An Ninh giúp chúng ta nhìn thấy được lý do thúc đẩy sự phân ly giữa hai nhân vật họ Phan: Phan Văn Trường tiếp thu chủ nghĩa Marx, ngả sang xu hướng cách mạng, trong khi Phan Châu Trinh vẫn giữ lập trường cải cách. Quan niệm chính trị cũng như mục tiêu, phương pháp hoạt động của Phan Châu Trinh khiến ông gần gũi với những người dân chủ – xã hội hơn là những người cộng sản và những người mác-xít trung thành. Đó là lý do cho đến cuối đời, Phan Châu Trinh vẫn gắn bó với những người dân chủ – xã hội Pháp như đảng SFIO (tiền thân của Đảng Xã hội) hơn là những người cộng sản Pháp.
Mặc dù là một người xuất thân từ cánh tả, Phan Châu Trinh là một trong những người hiếm hoi của cánh tả thừa nhận sự tồn tại của cánh hữu như một điều kiện cần thiết của chế độ dân chủ hiện đại. Đó là lý do ông có thể chấp nhận sự cộng tác với những người cánh hữu ôn hòa (vd: Đảng Lập hiến), mặc dù lập trường chính trị của hai bên khác nhau. Có thể coi Phan Châu Trinh là cái gạch nối giữa cánh tả và cánh hữu. Mất cái gạch nối đó, cánh tả và cánh hữu không còn có thể hợp tác với nhau, ngược lại còn đấu tranh với nhau một cách gay gắt.
Có thể nói sau khi Phan Châu Trinh qua đời, sợi dây liên kết giữa hai cánh tả và hữu đã biến mất. Chỉ còn lại sự xung đột gay gắt tả – hữu, tiêu biểu là sự xung đột giữa một bên là Đảng Lập hiến và bên kia là cánh tả bao gồm cả hai phái cộng sản đệ tam và đệ tứ. Nguyễn An Ninh – con người ôn hòa nhất trong cánh tả, vẫn không chấp nhận cộng tác với những người thuộc cánh hữu. Bi kịch của nhà yêu nước này là trong khi cố gắng tạo ra một sự đoàn kết của cánh tả, cuối cùng ông lại mắc kẹt trong cuộc xung đột gay gắt giữa những người cộng sản theo Stalin (như Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn) và những người cộng sản theo Trotsky (như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm). Ông là một trường hợp lạ kỳ, vừa được Đảng cộng sản Việt Nam công nhận là liệt sĩ, vừa được những người trốt-kít như Ngô Vân vinh danh. Ông vừa là người anh hùng trong con mắt của những người trốt-kít, đồng thời lại là người góp phần quan trọng vào thắng lợi của Đảng cộng sản – một đảng chính trị nhân danh tự do tuyệt đối để thiết lập một chế độ độc tài tuyệt đối.
Thật ra, tất cả những xung đột chính trị tả – hữu này chỉ có thể giải quyết một cách hòa bình trong khuôn khổ của một chế độ chính trị dân chủ. Kinh nghiệm của các nước châu Âu (nhất là Bắc Âu) cho ta thấy rõ điều đó. Từ chối những thiết chế chính trị dân chủ, xung đột tả – hữu chỉ có thể trở thành đấu tranh một mất một còn. Tấn bi kịch của nước ta bắt nguồn từ đó. Đám tang của Phan Châu Trinh tại Sài Gòn vào ngày 4.4.1926 đánh dấu sự đoàn kết cuối cùng của những phái chính trị tả và hữu của nước ta. Kể từ sau đám tang đó, sự xung đột tả – hữu ngày càng trở nên gay gắt. Những người cánh tả coi những người cánh hữu – dù là ôn hòa, đều là tay sai của thực dân Pháp và từ chối hoàn toàn sự cộng tác. Cuối cùng thì đấu tranh chính trị trở thành chiến tranh, và cuộc chiến ngày càng trở nên phức tạp khi xung đột tả – hữu giữa những người Việt Nam bị che đậy bởi những chiêu bài giành độc lập, chống đế quốc, v.v…
Trở lại với tinh thần Phan Châu Trinh đồng nghĩa với việc từ bỏ những hình thức đấu tranh một mất một còn, để tiến tới tôn trọng sự khác biệt của nhau. Điều đó đòi hỏi một sự hợp tác giữa tả và hữu – nhất là giữa phái tả ôn hòa và phái hữu ôn hòa. Chỉ bằng cách đó người Việt Nam mới có thể loại bỏ được những xu hướng cực đoan về phía tả cũng như về phía hữu, xây dựng một nền chính trị dân chủ trong đó lá phiếu của người dân là tiêu chuẩn đánh giá khả năng cầm quyền của bất cứ phe phái nào.
Tự do chỉ có thể được bảo đảm được bằng dân chủ. Từ chối dân chủ, chúng ta không thể có tự do, vì làm thế nào có được tự do khi ta không tôn trọng chính kiến của người khác? Không dựa trên những nguyên tắc dân chủ, tự do của mỗi người có thể trở thành sự tước đoạt tự do của người khác.
Đà Lạt, 30.11.2010
MAI THÁI LĨNH
Dân luận 6.12.2010: http://danluan.org/node/7211
Dân luận 7.12.2010: http://danluan.org/node/7213
Tài liệu tham khảo:
1) Những bài viết của Thụy Khuê đăng trên RFI nằm trong hồ sơ “Nhân Văn Giai Phẩm”:
– Phần XV: Phan Khôi – Chương 1a : Những phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX, RFI 5.9.2010-7.9.2010: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100905-phan-xv-phan-khoi-chuong-1a-nhung-phong-trao-chong-phap-dau-the-ky-xx
– Phần XV: Phan Khôi – Chương 1b : Ai viết bài ký tên Nguyễn Ái Quấc tại Pháp từ 1919 đến 1923? RFI 5.9.2010-13.11. 2010: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100905-phan-xv-phan-khoi-chuong-1b-ai-viet-nhung-bai-ky-ten-nguyen-ai-quac-tai-phap-tu-19
– Phụ Lục : Nguyễn Ái Quốc, lai lịch và văn bản:
Phần 1: RFI 13.11.2010: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101113-phu-luc-nguyen-ai-quoc-lai-lich-va-van-ban-phan-1;
Phần 2a: RFI 19.11.2010: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101119-phu-luc-nguyen-ai-quoc-lai-lich-va-van-ban-phan-2a;
Phần 2b: RFI 19.11.2010: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101119-phu-luc-nguyen-ai-quoc-lai-lich-va-van-ban-phan-2b
2) TS Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Nxb Văn Nghệ TP. HCM, 2000.
3) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 1, Nxb Đà Nẵng, 2001. Tập này được xếp thành 4 quyển.
4) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, Nxb Đà Nẵng, 2003.
5) Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2006.
6) Trung tâm nghiên cứu quốc học, Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, Nxb Văn học, 2009.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: