Hoàngquang’s Blog

26/09/2010

Trần Huy Liệu – Trích Nhật ký Cải cách Ruộng đất

Filed under: TƯ LIỆU — hoangquang @ 4:23 sáng
Tags:

Trần Huy Liệu – Trích Nhật ký Cải cách Ruộng đất
25/09/2010 |
Tác giả: talawas

Hoàng Nhật Tân – Trích hồi ký “Thiên thu định luận”: Chương VI “Sửa sai đấu tranh chính trị và phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất”

Cuộc đấu tố thí điểm địa chủ Nguyễn Văn Bính tức, Tổng Bính tại xã Dân Chủ ngày 18-5-1953

18-5-1953
Nhưng mình không dự hội nghị, mà đi dự cuộc đấu địa chủ Nguyễn Văn Bính tức Tổng Bính tại xã Dân Chủ… Theo lối rẽ vào xã Trung Thần, đã thấy từng tốp người từ các ngả đường kéo đến…, trong đó có cả những bà bồng bế con thơ… đôi người đàn bà mặc quần mới. Lũ trẻ con giành nhau chạy trước. Một thanh niên leo lên cây me vệ đường rung cây cho quả rơi xuống để mọi người nhặt… Mình có ấn tượng như đi xem hội ở vùng quê. Họ không nói chuyện gì về đối tượng sắp đem tranh đấu cả. Vào một nhà tập hợp. Những ủy viên chấp hành nông hội xã và cán bộ đội công tác đương tíu tít về những công việc tổ chức. Ban tiếp tế nấu từng chảo cơm, bày từng dãy mâm cơm cho những “tân khách”, ai muốn ăn thì ghi tên vào với giá tiền 3.000 đồng một bữa. Mình mặc dầu đã mang cơm nếp đi theo cũng ngồi vào ăn. Dọc đường đi đến trường sở ở trong rừng, có dân quân du kích và công an xã vác súng đi lại canh gác. Từng chòm người ngồi xúm xít dưới gốc cây hay trong một chiếc nhà trống. Một chị phụ nữ bán xôi và bánh khúc tha hồ đắt hàng. Nhưng cho mãi đến gần 11 giờ, cuộc đấu mới bắt đầu. Vì thôn nọ phải chờ thôn kia, xóm nọ phải chờ xóm kia. Có người đi từ sáng sớm, chưa kịp ăn cơm. Có người gần trưa mới tới. Ban tổ chức đã không giao trách nhiệm chặt chẽ những người phụ trách các khu vực hướng dẫn quần chúng đến cho được đúng giờ hay ít nhất là không chậm trễ quá. Mình cố ý ngồi lẫn vào từng đám quần chúng để nghe ngóng dư luận, nhưng không thấy gì. Một anh bạn hỏi người ngồi bên thì y nói: “Tôi đối với ông ấy (chỉ địa chủ Tổng Bính) cũng không có chuyện gì”. Ban tổ chức đi gọi người nào có “vấn đề” với địa chủ thì vào trước. Một số lững thững đi vào. Có người không chịu vào trước, nói: “Tôi có ít thôi, để nói vào cuối cùng”. Nhưng có ai biết được người tố cuối cùng sẽ là ai? Trường sở tranh đấu tại một khu rừng thưa, gần cánh đồng, bên một cái đình. Không có hầm hố tránh máy bay gì cả. Cũng may trời nắng ráo. Mưa thì sẽ ra sao? Ngoài lá quốc kỳ và ảnh Hồ Chủ tịch, những khẩu hiệu “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm”, “Triệt để giảm tô, kể cả thoái tô. Thực hiện giảm tức, phát triển sản xuất. Thực hành tiết kiệm” và một chiếc băng dài đề “Đả đảo và trừng trị xứng đáng tên địa chủ cường hào gian ác Nguyễn Văn Bính”. Mình nhận thấy không có một khẩu hiệu phản đế nào. Một thói quen trong lúc này là người ta mải nhìn vào địa chủ phong kiến mà quên kẻ thù đương phải tranh đấu bằng vũ trang là đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ. Trước mấy chiếc bàn để dành cho chủ tịch đoàn và ban thư ký, một chiếc bục kê lên cho địa chủ quỳ và đằng sau có những biển quy định chỗ ngồi: “địa chủ ngoan cố”, “địa chủ đã thanh toán”, “phú nông nói láo”, “phú nông chưa thành khẩn” và “những người phú nông”. Số quần chúng đến dự độ 700 trở lại. Có cả một số bộ đội và nhân viên cơ quan ở gần. Ban điện ảnh Nha Thông tin có đến quay phim. Theo lời căn dặn của chủ tịch đoàn, thì, khi máy quay phim kêu sè sè, mọi người không nên nhìn vào, mà phải “căm thù địa chủ”. Lễ khai mạc bắt đầu. Trên ghế chủ tịch đoàn là ban chấp hành nông hội, nghĩa là bần, cố, trung nông. Có cả một phụ nữ và một thương binh. Phát ngôn nhân của chủ tịch đoàn cũng dõng dạc mạnh bạo, không kể vô số những sai lầm về danh từ cũng như về văn phạm. Nhưng những lời tuyên bố đầu tiên đã lộn xộn giữa phú nông và địa chủ. Người ta không nói ngay đến địa chủ thủ phạm, mà đã kể đến từng “tên” phú nông thuộc các loại, do du kích áp giải “mời” đến hội trường. Chủ tịch truyền lệnh cho cử tọa hễ thấy địa chủ vào thì hô đả đảo. Một việc làm không cần đến mệnh lệnh. Đến lượt địa chủ vào. Hai tay bị trói quặt ra sau, nhưng vẫn phải bò từ ngoài vào, đeo bên mình những gói quần áo. Ngoài tiếng hô đả đảo, những người ngồi gần lối y vào cũng với tay ra đánh tát tơi bời. Không đợi để quỳ lên bục, một người đã túm lấy tóc mà “tố”. Trận vũ bão bắt đầu.
Mình đã đọc hồ sơ của B., biết rõ tội ác của B. B. trước làm lý trưởng rồi phó tổng hồi Pháp thuộc. Sau Cách mạng tháng Tám, B. làm chủ tịch Uỷ ban Hành chính Kháng chiến xã rồi UBHCKC huyện. B. cũng là đảng viên cộng sản đầu tiên ở đây. Một số người vào tố đầu tiên buộc tội B. đã làm tay sai cho Cung Đình Vận, tuần phủ Thái Nguyên ngày trước, để lùng bắt Việt Minh và đồng chí Chu Văn Tấn.
Tuy vậy, ngoài một người ra, hầu hết những người khác đều không đem được ra những bằng chứng cụ thể. Có người không nói được rõ cả việc xảy ra ở đâu ngày tháng nào. Kết quả là B. chỉ nhận sau cuộc Nhật đảo chính Pháp, có nhiều trộm cướp xảy ra, mình làm tổng lý phải đem lính dõng và tuần phiên đi canh gác, thế thôi. Đến lượt tố các vấn đề kinh tế. Một điểm đáng chú ý là trong khi đấu tố địa chủ mà không nổi bật lên cái gì là chiếm đoạt ruộng đất hay tô tức. Người ta chỉ len vào những việc phụ khác như ăn hối lộ, quỵt tiền công, tham ô, đánh người… Có một số người mà phần nhiều là phụ nữ tố tên B. bằng một giọng kể lể tự nhiên thì được công chúng nghe rõ ràng và thấm thía. Một bà đau xót vì chồng bị B. đánh 3 cái ba toong và khi B. vào nhà bà sục bắt cán bộ thời bí mật, cán bộ chạy làm vỡ một rổ bát để nhà bà không có cái bát mà ăn. Một chị ở giơ cái chân khấp khểnh vì bị sâu quảng để truy nguyên vì B. mà què chân. Một anh ở khác tố cáo vì B. không cấp thẻ thuế thân trong thời Pháp thuộc nên không đi đâu được. Tuy vậy, có bà kể lể vì bị quỵt 3 nồi thóc, đi tới kết quả là con ốm bị chết để kết luận bằng câu: “Vậy mày có trả tao 3 nồi thóc không?”. Cũng một bà khác có anh ở cho B. ốm chết, rồi cũng suy luận theo kiểu trên để đi tới đòi mấy nồi thóc tiền công. Một chị chấp hành nông hội, ngồi ghế chủ tịch đoàn là chị Bân đã tố B. cướp một con trâu với tinh thần căm tức dào dạt, nhưng chị vừa nói vừa vỗ tay xỉa xói vào mặt B. khiến mình có cảm tưởng như nghe cuộc cãi nhau của một mụ bán hàng chua ngoa ở chợ Đồng Xuân.
Ngoài ra, không thiếu những điều vô lý đến phì cười Có người tố B. đã quyên tiền của mình để đóng cho Việt Minh trước cuộc Cách mạng tháng Tám mà không nói rõ B. đe dọa nếu không quyên thì sẽ bị giết. Có người tố B. đã làm chết hai du kích chỉ vì B. đã phái đi bố trí trong khi quân Pháp tiến lên Thái Nguyên năm 1947. Có người còn tố B. đã làm thịt lợn đãi du kích mà con lợn đó là lợn nhà của B. Một anh tự xưng là bộ đội Anh Bắc trước cuộc cách mạng trong khi tố B. đã không quên “quảng cáo” cho B. là B. đã đốt bằng sắc của thời Pháp thuộc. Một anh phu phà nhắc lại chuyện năm xưa đã bị B. đánh một cái tát vì té nước vào quần B. rồi cứ sừng sộ mãi: “Mày có phải là cán bộ không?”. Nhiều người tố giác B. đã thừa cơ ăn cắp vải, đồng hồ, súng lục… khi quân ta đánh chiếm Thái Nguyên tháng 8-1945. Rồi sau khi nghe B. phân trần, người ta vẫn cứ truy mãi: “Thế còn đạn mày lấy ở đâu?”. Cuộc tranh đấu càng kéo dài, những vấn đề đem ra tố càng trở nên lung tung, tản mạn. Một chị phụ nữ là y tá của một cơ quan cũng lăng xăng chạy vào hỏi chiếc bút Pắc-ke bị mất năm trước khi cơ quan còn đóng ở nhà B. Một người khác kể tội B. khi dạy học đã dùng thước đánh mình. Nói tóm lại, người ta không còn thấy gì là tính chất giai cấp đấu tranh của nông dân chống địa chủ nữa.
Nếu mình hôm ấy chỉ là một người xa lạ đến dự thì sẽ không biết B. có phải là địa chủ cường hào gian ác không và vì sao phải đem ra đấu tố? Khuyết điểm là chủ tịch đoàn, trước khi đem tố, không giới thiệu tóm tắt những tội trạng của y rồi mọi người đem bằng cớ ra để chứng thực. Những phần tử cốt cán đem ra tố, đã bị bồi dưỡng theo một kiểu cách sai lệch đến lố bịch. Đại đế anh nào chạy ra cũng đầu tiên vỗ ngực bằng một câu hỏi: “Mày có biết tao là ai không?” và “Mày đã dựa vào thế lực nào?”, “Đéo mẹ tiên sư mày, không nhận tao đánh bỏ mẹ bây giờ”… bằng những cử chỉ hùng hổ và quát tháo om sòm, lại không có lý lẽ gì cũng như không đem được ra chứng cứ. Ngu ngốc đến nỗi khi nhắc đến những việc làm thời Pháp thuộc của B, rồi hỏi: “Mày đã dựa vào thế lực nào?”, là có ý chỉ vào thế lực đế quốc cái đó đã đành. Tới khi hỏi những việc làm của B. bằng danh nghĩa chính quyền của ta, cũng cứ gạn hỏi: “Mày đã dựa vào thế lực nào?”. Và nếu quên hỏi câu này thì lại có người nhắc hỏi. Đã thế, không cho “phạm nhân” được trả lời, vì trả lời tức là “ngoan cố”. Những tiếng quát tháo: “Mày còn chối tao đánh bỏ mẹ bây giờ” và những tiếng hò hét của công chúng ở ngoài: “Không cho nó nói”, “Không cho nó phân trần” chỉ tỏ ra những hèn kém, yếu ớt không tin được vào lý lẽ của mình. Sau khi chủ tịch đoàn đọc bản cáo trạng, mình phải lấy làm ngạc nhiên là cuộc tố đã không nêu ra được tội trạng của B. Chẳng những thế, người ta bắt tội nhân phải quỳ trên sàn gỗ tính ra từ 11 giờ đến 4 giở rưỡi chiều. Mỗi khi tội nhân run rẩy gục xuống thì những tiếng thét từ xung quanh lại vang lên: “Quỳ cao lên!”. Anh du kích đứng sau lưng thỉnh thoảng lại dọi một báng súng mỗi khi thấy phạm nhân quỳ thấp xuống, nghĩa là đặt đít vào hai gót chân. Có lúc chủ tịch đoàn ra lệnh cho B. được ngồi xuống một tí thì người tố và quần chúng lại bắt quỳ cao lên. Ngoài hình phạt bắt quỳ thường xuyên, người ta đã đánh đập tội nhân rất tàn nhẫn. Mỗi người ra tố, theo thói quen và bắt chước lẫn nhau, đều nắm tóc tội nhân để giật hỏi. Sau mấy câu hỏi không đi đến đâu, người tố thấy mình trơ trẽn nên phải kết thúc bằng một cái tát để xuống đài. Có người đã thoi vào mang tai tội nhân. Có người đã đá phốc lên bụng. Trong khi ấy, chủ tịch đoàn hay một vài người ở ngoài chỉ khuyên bằng một câu nhè nhẹ “Không cần đánh nó!” hay “Đánh nó thêm bẩn tay!”. Trước mắt mình đã có một ấn tượng rất xấu: một anh, cứ cách năm, mười phút lại lên nắm tóc tội nhân hay xen vào cuộc đấu tố của người khác để hỏi một vài câu trống rỗng, rồi theo đó một cái tát. Mình không thể thấy được ở y một căm thù giai cấp mà chỉ thấy ở y một hèn nhát của một kẻ đánh hôi trong trận đòn hội chợ. Mình còn thấy ở y, cũng như một số khác trong khi đánh đập tội nhân còn có ý biểu dương tinh thần trước mặt cán bộ. Cũng hôm nay, mình còn thấy hai đứa trẻ con trong đám quần chúng cốt cán cũng luôn chạy ra bắt địa chủ phải quỳ cao và túm tóc đánh tát theo kiểu này. Họ hiểu lầm hai chữ “đấu lực” bằng cách dùng nhục hình vô nhân đạo. Họ không biết sức mạnh của giai cấp không phải đánh hôi một cách hèn nhát, có tính chất báo thù cá nhân. Hiện tượng xấu xa này còn do ở những cán bộ của chúng ta, trong khi huấn luyện trong lớp cũng như nói ngoài quần chúng, là: “Kỷ luật thì cấm đánh ẩu, giết ẩu, nhưng nếu nông dân người ta căm thù quá độ mà đánh tát một vài cái thì cũng không sao”. Câu nói này đã trở nên như một châm ngôn. Nó gợi bảo quần chúng là có thể đánh một vài cái được, miễn là đừng đánh chết. Rồi đó, những kẻ lưu manh đã thừa cơ đánh để trả thù hay đánh để chơi, đánh cho thích. Mình thật không muốn thấy nhục hình khôn nạn còn diễn ra dưới chính quyền dân chủ nhân dân này!
Hôm ấy, còn diễn ra một cảnh tượng nữa là người trong gia đình tên B. cũng được áp giải ra hội trường. Trong đó có một bà cụ già khọm, mẹ của B, và một đứa trẻ độ 3, 4 tháng nằm trên bàn tay vợ của B. Chủ tịch đoàn gọi vợ B. lên khuyên chồng thú nhận tội lỗi. Cảnh này chỉ gây cho công chúng rủ lòng thương những kẻ mặc dầu đã sống vào bóc lột và áp bức đương bị trả thù!
Sau trận đấu, chủ tịch đọc bản cáo trạng và cho phép B. được ngồi nghe. Đến lượt cho nói, B. phân trần là trước kia làm tổng lý thì sự áp bức bóc lột nông dân là điều không tránh khỏi. Nhưng sau khi giác ngộ thì B. đã thấy rõ cuộc cách mạng của ta là đánh đổ phong kiến và đế quốc, làm cách mạng ruộng đất. Trên con đường tiến của Liên Xô vĩ đại, B. không dại gì đi vào con đường chết. Từ sau Cách mạng tháng Tám, B. đã tích cực phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nếu có những việc lặt vặt xảy ra, thì nó chỉ là bột phát, không chủ ý. Nếu nhân dân giết y thì y chịu, chớ y không chịu nhận là phản cách mạng, mưu bắt cán bộ. B. nói có thực không, đó là một chuyện. Điều đáng ghi ở đây là cuộc đấu hôm nay đã không đạt được mục đích yêu cầu và không làm cho B. khuất phục. Tuy vậy B. vẫn phải ký vào bản cáo trạng kể trên.
*
Đến lượt Phùng Thái Ký, một Hoa kiều địa chủ kiêm công thương nghiệp. Từ sáng, Phùng vẫn ngồi dưới tấm biển đề “địa chủ ngoan cố”. Thực ra Phùng không phải mục tiêu định đem đấu hôm nay. Nhưng chủ tịch đoàn vừa gọi ra chất vấn, Phùng nói líu tíu khó hiểu, thì mấy nông dân Hoa kiều đã ồ lại thoi đánh túi bụi con của Phùng. Đến đây thì trật tự bị mất hẳn. Chủ tịch đoàn bị động.
Cuộc chất vấn trở thành cuộc đấu. Những việc đem ra tố đều thuộc về hiềm thù cá nhân, xích mích xóm giềng giữa một số Hoa kiều, không có gì là tính chất của nông dân đấu địa chủ. Hầu hết mọi người lại chỉ nhằm vào thằng con của Phùng, một thanh niên ngỗ ngược. Khác với Nguyễn Văn Bính, thằng con của Phùng không thể quỳ cho người ta đánh, mà lăn ra khóc hu hu. Cuối cùng, hai bố con Phùng cũng phải ký vào bản cáo trạng, nhận bồi thường cho nông dân.
*
Ngoài hai địa chủ, đến lượt một số phú nông. Từ sáng, một số phú nông đã phải ngồi theo từng loại.
Khi mà cuộc đấu tố B. đến lúc quyết liệt nhất thì chủ tịch đoàn truyền lệnh cho đem những “phú nông” chưa chịu thanh toán ra một chỗ bắt phải nhận bồi thường cho nông dân. Mà ai cũng thấy rõ là một hình thức uy hiếp phú nông rõ rệt, vượt quá phạm vi “trung lập phú nông” theo sách lược của Đảng.
*
Sau cùng là những lời tuyên bố không phải của chủ tịch đoàn, mà của anh NQC, trưởng đội công tác xã Dân Chủ. Anh hoan hô cuộc thắng lợi của nông dân và nhắc nhở về việc củng cố nông hội.
Nhưng cái điệu lệch của cán bộ là chỉ nhắc đến Hồ Chủ tịch, đến Đảng, mà không nói đến chính quyền dân chủ nhân dân. Những khẩu hiệu hô trước khi mít tinh giải tán cũng thiếu hẳn khẩu hiệu chống đế quốc.
*
4 giờ rưỡi, mít tinh giải tán, mình ra về trong đám quần chúng, nhưng không nhặt được một dư luận nào thêm. Nhọc mệt. Bực bội. Một vài ấn tượng xấu trong cuộc mít tinh vẫn ám ảnh trong đầu mình.
Cuộc đấu tố thí điểm địa chủ Nguyễn Thị Năm tức Cát Hanh Long ở hai xã Đồng Bẩm và Dân Chủ ngày 22-5-1953
Số người tới dự độ 1 vạn trở lại, ngồi chen chúc trong một khu đất dưới lùm cây hai bên là núi. Hôm nay nắng nhiều, ánh mặt trời rọi vào khiến nhiều người phải cầm cành cây vừa che cho đỡ nắng, vừa để ngụy trang chống máy bay. Nhưng làm thế thì hàng trước sẽ che lấp hàng sau, không nhìn thấy gì, nên kết cục là phải bỏ cành lá đi và khi nắng quá thì dồn người sang hai bên…
Hôm nay cũng như hôm trước, chủ tịch đoàn lại phạm một khuyết điểm là ra lệnh cho quần chúng hễ thấy địa chủ vào là đả đảo kịch liệt. Một việc làm thừa! Nguyễn Thị Năm và hai con Hanh, Công cùng đầy tớ là đội Hàm, Chính, Chiêu vào. Quần chúng hô đả đảo vang dậy và đòi phải đứng lên cao quay mặt tứ phía cho ai nấy đều trông thấy mặt để đả đảo. Chủ tịch đoàn giới thiệu từng tên với một tràng lý lịch tư pháp mà không nêu tội ác. Tuy vậy quần chúng cũng chấm dứt từng đứa bằng một làn sóng đả đảo. Quần chúng ghét nhất là đội Hàm, vì tội ác đã đành, mà còn vì đôi mắt đầy khiêu khích. Nhiều người hô bắt nó phải cúi mặt xuống.
Rút kinh nghiệm lần trước, chủ tịch đoàn tuyên bố đề nghị quần chúng phải giữ vững trật tự và không cần đánh đập tội nhân hay bắt quỳ, bò. Bọn mẹ con và tay sai địa chủ được ngồi trên một cái bục dưới gốc cây. Quần chúng lần lượt vào tố, từ loại vấn đề kinh tế đến chính trị và sau hết là chống chính sách chính phủ và nói xấu cán bộ. Những người đấu tố hôm nay cũng có một phong độ và một nghệ thuật khác hôm đấu Tổng Bính. Những tiếng hò hét “Mày có biết tao là ai không?”, “Mày dựa vào thế lực nào?” kèm theo cái tát để xuống đài không còn nữa. Những người tố được quần chúng cảm động và tán thưởng nhiều nhất là bà Sâm, chị Đăng và anh Cò. Bà Sâm, với một giọng gợi cảm, kể lể vì Thị Năm mà mình phải suốt đời cô độc, có người rơi nước mắt. Nhưng sự thực, nội dung câu chuyện không có gì. Chị Đăng, một người ở với Thị Năm lâu ngày, tố lên rất nhiều sự việc bí mật và chi tiết. Nhưng, với một giọng lưu loát quen thuộc, chị trở nên một tay “tố nghề” và ít làm cho ai cảm động.
Còn anh Cò, một người thiểu số đã bị Hoàng Công, con Thị Năm, bắt vì có tài liệu Việt Minh, trước cuộc Cách mạng tháng Tám, bị tra tấn rất dã man, rồi trốn thoát trước giờ Công định lấy đầu nộp cho Cung Đình Vận. Bằng một giọng chân thành đến ngây ngô, anh đã làm cho Công không chối cãi được nửa lời.

Cũng có không ít những người nói không đạt ý, không rõ việc. Bà Minh nói việc chẩn bần tại đồn điền Đồng Bẩm năm 1945 đã làm bao nhiêu người chết đói, rồi kết luận bằng những câu: “Mày đừng nhận là chủ đồn điền có được không?”, “Mày chỉ có hình thức thôi” và “Mày nói nhân nghĩa mà mày không nhân nghĩa gì cả” khiến người nghe không hiểu tội Thị Năm ở đâu? Sự thực thì hồi ấy dân chết đói nhiều quá, bọn thống trị Pháp, Nhật muốn che lấp tội ác của chúng, bắt các chủ đồn điền phải hàng ngày xuất ra một số gạo phát chẩn cho dân. Thị Năm đã bớt và khai man số gạo này, nghĩa là ăn cắp số gạo mà dân đói đáng được hưởng để chết đói thêm. Ông Giồng tố cáo Thị Năm đã cướp gánh cỏ của ông cho ngựa nó ăn và giỏ củ mài làm cho cả nhà nhịn đói. Câu chuyện của ông đã được một văn nghệ sĩ làm thành một bài thơ tràng thiên rất cảm động Nhưng hôm nay, ông đã thuật lại một cách nhạt nhẽo. Con gái ông Giồng, hơn mười tuổi, đáng nhẽ cứ kể rành rọt cảnh đói rét của nhà mình phải chịu vì sự bóc lột của Thị Năm, nhưng nó lại nói bằng một giọng “bà cự” nên nhiều người không cảm động, mà lại phát ghét. Chị Lý, con nuôi của Thị Năm, được Thị Năm trang điểm cho để định gả cho một võ quan Nhật. Nhưng sau khi biết chị chỉ là thân phận tôi đòi, không có tiền của gì thì tên Nhật lại không lấy và chị lại bị Thị Năm bắt lột trả lại quần áo, trở lại thân tàn ma dại như trước. Chị vừa nói vừa khóc. Nhưng không ai rõ chị nói gì.

Tuy vậy, trong đám người tố, vẫn còn sót lại một ít những phong thái cũ. Câu hỏi “Mày có biết tao là ai không?” đã được chủ tịch đoàn ngắt đi bằng câu: “Cứ việc tố không cần bắt nó trả lời”. Một vài cái tát vẫn còn diễn ra. Trong khi tố tên Công, nhiều người hỏi những câu vô ý thức: “Mày có xứng đáng là cách mạng không?”, “Mày nói mày là cách mạng mà như thế à?”. Một người ở Phúc Trừu tố cáo Thị Năm về tội chiếm đoạt ruộng đất khẩn hoang của nông dân và cơi thùng thóc lên để thu thóc, rồi kết luận “Như thế mày có xứng đáng là địa chủ không?”. Một người khác tố Thị Năm, đội Hàm và Lý Nguyên Lập bảo an đoàn ở Phúc Trừu bắt nông dân gác và đánh đập tàn nhẫn, cũng để đi tới kết luận: “Mày là con chó! Chứ không phải địa chủ?”.
Một tá điền tố Thị Năm lấy ruộng của mình đương làm bán cho người khác vì mình không có tiền mua, bằng câu: “Lấy tiền ở mả bố mày mà mua à?”. Nhiều người vẫn gắn vào hai chữ “tiến bộ”: “Mày nói mày tiến bộ mà như thế à?” Đi xa hơn nữa, có người nói Thị Năm lập quán Bông Lau ở thị xã Thái Nguyên để đón gián điệp trong khi ai cũng biết đó là cơ quan sinh lợi của hội Phụ nữ liên hiệp tỉnh Thái Nguyên.
Về phía quần chúng, thì, khi nghe người tố không chịu bình tĩnh lắng nghe cho rõ sự việc cũng như luận điệu tố cáo, cứ việc “đả đảo” bừa đi. Nhiều lúc ầm ĩ quá làm không nghe gì được. Một người trong chủ tịch đoàn cũng phạm một lỗi quá nặng. Trong khi quần chúng đòi đem bày ổ thủ phạm ra ngồi ngoài nắng, lại trả lời: “Đem ra ngoài nắng ngộ nó lăn ra chết thì lấy gì mà tố?”. Đây là lời dặn của cán bộ với những phần tử cốt cán là không nên đánh đập địa chủ. Nếu lỡ tay đánh chết nó thì lấy gì mà tố. Hôm nay, vị chủ tịch ngốc nghếch kia đã theo ý đó nói toạc ra một cách công khai cho địa chủ biết.
Đến lúc đọc bản cáo trạng kết thúc, hội trường im lặng để lắng nghe trong một bầu không khí trầm nghiêm. Nhưng một vị chủ tịch đã đọc chữ nọ thành chữ kia. Có câu đọc đi đọc lại. Có lúc phải ngừng lại để lẩm nhẩm. Rồi mỗi lúc mỗi ngập ngọng thêm. Kết cục là nửa chừng phải thay người khác. Về việc này, mình hỏi một cán bộ phụ trách thì được biết là trước khi đọc, bản chữ viết đã chú ý viết rõ ràng và vị chủ tịch nọ đã đọc đi đọc lại, đảm bảo là đọc được.
… Tính ra suốt ngày hôm nay không được uống nước dưới trời nắng. Trời tối, nhiều lúc lạc đường, về đến cơ quan một cách mệt mỏi.
Nhật ký ngày 31-5-1953
31-5-1953
Sáng sớm, mình xuống xã Dân Chủ cùng hai người trong tổ kiểm tra để kiểm tra việc thoái tô, thoái tiền công và chia quả thực. Nằm ở nhà một bần nông, sáng và chiều vùi đầu vào trong đám giấy tờ của đội công tác để tìm ra vấn đề. Một điều nhận thấy là giấy tờ lộn xộn quá, vì kém văn hóa và thiếu khoa học. Thiếu đến cả những hình thức thông thường. Nhiều tài liệu phải vừa đọc vừa hỏi mới biết rõ sự việc. Trong khoản nông dân bắt địa chủ và phú nông bồi thường có cả khoản trâu bò phá hoại hoa màu từ mấy năm trước. Đến cả bần, cô nông với trung nông cũng thanh toán cả món nợ từ năm nảo năm nào. Có anh cố nông năm nay 39 tuổi khai bị một địa chủ quỵt công ở 25 năm, sau đem bình nghị phải giảm xuống 15 năm. Sau cùng là 9 năm. Có người đòi công ở 2 năm tới 86 nồi thóc (mỗi nồi 22 cân) trong khi công ở mỗi người nhiều nhất trong một năm chỉ có 20 nồi. Hơn nữa có anh bần nông bắt đến địa chủ bắn chết một con lợn 15 cân từ năm 1935 là 8 nồi thóc. Nếu tính theo giá hiện thời: 300 đồng bạc ngân hàng một cân thóc thì con lợn 15 cân ấy (kể cả lòng lẫn cứt), giá bồi thường mỗi cân tới 3.520 đồng, trong khi thời giá chỉ có 2.700 đồng. Ấy là chưa kể con lợn hồi ấy, địa chủ, người bắn chết, có ăn thịt không hay con lợn vẫn về nhà có lợn. Đại để những việc như thế đã nói rõ sự lạm quyền thế mới lên và sự tham lam trắng trợn của một số bần, cố nông chưa được giáo dục.
Buổi tối, mình dự một tổ nông hội bàn về mấy nguyên tắc chia ruộng công. Trong gian nhà bức, nóng, người đến dự vừa đau mắt, vừa buồn ngủ, mỏi mệt, uể oải sau một ngày làm việc dưới nắng hè để sáng mai lại phải dậy sớm đi làm. Trong khi ấy, chủ tọa buổi họp là một cố nông không biết điều khiển gọn ghẽ, cứ hỏi đi hỏi lại, bắt mọi người đều phải phát biểu ý kiến. Có nhiều vấn đề trở đi trở lại mãi. Thêm vào đấy, mấy phần tử cốt cán cứ nói theo giọng cán bộ, tuôn một tràng dài những lý luận và danh từ không cần thiết. Rồi, sau đó, cũng làm đủ mọi phương thức: phê bình hội nghị, duyệt y biên bản, kéo tới 11 giờ khuya.
Nguồn: Trần Huy Liệu – Cõi người. Tác giả: Trần Chiến. Nhà xuất bản Kim Đồng, 2009
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.talawas.org/?p=24539

______
Hoàng Nhật Tân – Trích hồi ký “Thiên thu định luận”: Chương VI “Sửa sai đấu tranh chính trị và phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất”
25/09/2010 |
Tác giả: talawas

talawas Trong chương VI của cuốn hồi ký tự xuất bản mang tên Thiên thu định luận (Phả ký gia tộc) mà chúng tôi giới thiệu dưới đây, tác giả Hoàng Nhật Tân thuật lại việc cha mình, cựu Ủy viên Bộ Chính trị Hoàng Văn Hoan (1905-1991), phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất giai đoạn 1953-1956. Do những bất đồng trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là do mâu thuẫn với Lê Duẩn, ông Hoàng Văn Hoan đã bỏ trốn sang Trung Quốc giữa thời điểm quan hệ Việt – Trung căng thẳng cao độ năm 1979 và bị Việt Nam kết án tử hình vắng mặt. Trong cuốn hồi ký Giọt nước trong biển cả viết tại Bắc Kinh năm 1986, ông nhận định: “Lê Duẩn là một kẻ âm mưu đặt lợi ích cá nhân và bè cánh lên trên lợi ích của dân tộc, đặc biệt là những năm trước và sau khi Hồ Chủ tịch mất, tôi được biết những hoạt động xấu xa nguy hiểm của y, như việc choán quyền Đảng, việc xuyên tạc lịch sử, việc động viên toàn bộ lực lượng chống Trung Quốc và xâm chiếm Cam-pu-chia, là những việc phản chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phản cách mạng, phản lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.”
__________

Trong cuộc đời cha tôi có nhiều sự kiện tỏ ra ông độc lập suy nghĩ nên thường hay phát hiện được sai lầm. Chương trên đã kể nhiều sự kiện, những phải nói rằng sự kiện nổi bật nhất và có ý nghĩa trọng đại hơn cả là việc ông đi sửa sai “đấu tranh chính trị” đầu năm 1953 và phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất từ 1953 đến 1956.
Ngày ấy cha tôi là một Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt nam và uỷ viên Thường vụ Quốc hội, đang làm Đại sứ nước ta ở Trung Quốc, kiêm Đại sứ ở Triều Tiên và ở Mông Cổ. Ông thường từ Bắc Kinh về nước tham gia các cuộc hội nghị Trung ương Đảng và họp Quốc hội để xây dựng Cương lĩnh Ruộng đất của Đảng và Luật Ruộng đất của Quốc hội cũng như kiểm điểm công tác định kỳ của Trung ương.
Về phần tôi, từ cuối năm 1952 cho đến đầu năm 1957 là một cán bộ chủ chốt của cuộc vận động giảm tô và Cải cách Ruộng đất. Cuối năm 1952 đến tháng 7-1954 là thư ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt, uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác Mặt trận và dân vận, chuyên trách chỉ đạo chung phong trào phát động quần chúng thực hiện giảm tô và Cải cách Ruộng đất. Từ tháng 7-1954 đến cuối năm 1956 là Trưởng ban Tuyên huấn của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương.
Do hoàn cảnh như trên mà tôi hiểu khá kỹ một phần hoạt động của cha tôi trong thời gian này, mỗi lần ông về nước.
*
Tháng 12-1952, tôi có một chuyến đi từ Liên khu IV ra Việt Bắc để phục vụ Hội nghị Nông vận và Dân vận Toàn quốc họp tại khu rừng tỉnh Tuyên Quang. Mấy ngày ở làng quê Quỳnh Đôi, tôi chứng kiến cuộc “đấu tranh chính trị” của quần chúng địa phương. Ở làng tôi, người ta bắt mấy chục người thuộc từng lớp giáo viên, hào lý, công chức cũ bị tình nghi là “phản động”, đưa ra đình làng cho nhân dân truy khảo bắt phải nhận tội. Hình thức truy khảo rất tàn bạo, như trói, treo, đánh bằng gậy, đốt mười đầu ngón tay v.v… khiến những người bị tra tấn phải nhận tội và khai ra “tổ chức phản động”, mặc dầu chưa có chứng cớ gì xác thực để buộc tội họ là phản động.
Từ Quỳnh Đôi ra tới địa điểm hội nghị, tôi lập tức tìm gặp đồng chí Hoàng Quốc Việt báo cáo ngay những điều tai nghe mắt thấy như trên:
“Thưa anh”, tôi nói, “Đây là một hiện tượng khác thường. Tôi thấy Bác Hồ nêu cao chính sách khoan hồng và Đại đoàn kết, thế mà ở quê tôi, nghe nói đây là sáng kiến, chủ trương từ đâu trên Tỉnh uỷ hay Khu uỷ đưa xuống. Vậy đề nghị anh báo cáo với Bác để kịp thời xem xét.”
Đồng chí Hoàng Quốc Việt vỗ vai tôi thân mật:
“Tân thấy hiện tượng như thế mà báo cáo ngay với trung ương là rất tốt. Nhưng anh cứ yên trí, việc này tối hôm qua anh Ca là cán bộ Cục Thuế ở Hà Tĩnh ra đây họp đã báo cáo với trung ương và Bác Hồ đã phái anh Hoan cầm đầu một đoàn cán bộ vào ngay khu IV kiểm tra và xử lý vấn đề.”
Nhiều đồng chí cán bộ Liên khu IV hồi ấy kể lại rằng phong trào truy bức, đấu tố chính trị nói trên khởi đầu từ Diễn Châu (Nghệ An). Cán bộ tình nghi một số phần tử phản động, liền bắt họ ra trước hội nghị dân làng để cật vấn. Nhân dân căm thù phản động, đánh đập họ, truy khảo bắt khai, thế là lòi ra cả một tổ chức phản động rất lớn, tay sai của thực dân xâm lược Pháp, ngấm ngầm phá hoại kháng chiến đã từ lâu, và tổ chức này đã lan rộng ra nhiều làng xã.
Một đồng chí Uỷ viên Khu uỷ kiêm Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An được tin, cho rằng đây là một sáng kiến rất hay của quần chúng, liền chỉ thị cho các tỉnh truyền bá kinh nghiệm này, mở rộng nhanh chóng thành một phong trào quần chúng đấu tranh chính trị truy nã phản động, từ Nghệ An ra tới Thanh Hoá, vào cả Hà Tĩnh.
Hàng trăm người bị tra khảo rất tàn bạo. Có người đã chết. Các chị nói: Ngày ấy, nếu Bác không kịp thời phái anh Hoan vào ngăn lại thì phong trào “đấu tranh chính trị” tai hại nay còn làm chết bao nhiêu người nữa.
*
Anh Sơn Tùng là nhà văn đã sưu tầm được nhiều sử liệu và hồi ký, nhắc lại với tôi rằng: Các lão đồng chí tham dự cuộc họp sửa sai đấu tranh chính trị ở Khu IV hồi ấy còn nhớ anh Hoan chỉ vào đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An (là Khu uỷ viên) mà nói như mắng: “Là một người cộng sản mà anh đang tâm ngồi xem quần chúng treo ngược người ta, thui đốt người ta, thử hỏi lương tâm cộng sản của anh ở đâu? Chủ trương của Khu uỷ, tỉnh uỷ phát động đấu tranh chính trị như thế chẳng những là một sai lầm mà còn là một tội lỗi với dân, với Đảng, gây tác hại vô cùng nghiêm trọng và lâu dài. Mấy đời sau, con cháu những người bị tra tấn kia sẽ còn nguyền rủa ai là người đã gây ra tang tóc, thương tật cho ông cha họ!”
Sau này tôi được xem bản báo cáo của cha tôi trình lên Bác khi đã làm xong đợt sửa sai “đấu tranh chính trị”. Ông phê phán chủ trương của Khu uỷ IV và Tỉnh uỷ Nghệ An là hồ đồ, mù quáng, tạo thành một sai lầm phổ biến và rất nghiêm trọng, tác hại sâu sắc đến uy tín của Đảng, xâm phạm lợi ích quần chúng, phá hoại khối đoàn kết kháng chiến. Trong quá trình sửa sai, ông đã xuống một vài xã, huyện điều tra cụ thể, rồi họp Khu uỷ, Tỉnh uỷ, chỉ thị phải chấm dứt ngay phong trào đấu tố chính trị ấy, thừa nhận chủ trương sai lầm và tự phê bình nghiêm túc với các cấp dưới. Một mặt tuyên bố xoá bỏ các hồ sơ báo cáo về tổ chức phản động do truy bức mà tạo nên. Ông không chủ trương thi hành kỷ luật tất cả cán bộ đã chấp hành nghị quyết sai lầm kia, chỉ đề nghị Trung ương thi hành kỷ luật một đồng chí Khu uỷ viên đã mù quáng ra chỉ thị. Mặt khác ông đề nghị tuyên dương một số đồng chí ở các xa, huyện đã dám phản đối, hoặc ngăn cản hành động truy bức, nhục hình.
Cho đến nay một số người từng bị truy bức còn giữ thương tật, họ thường nhắc lại việc cha tôi sửa sai. Nhờ có sự sáng suốt của Bác Hồ và công tác sửa sai của ông mà bao nhiêu người đã thoát nạn.
*
Sau vụ “đấu tranh chính trị” ở khu IV xong, cha tôi trở sang Trung Quốc, lần đó cha con chúng tôi không có dịp gặp nhau ở Việt Bắc.
Về phần tôi, sau Hội nghị Nông vận và Dân vận Toàn quốc tháng 2-1953, tôi được đi theo đồng chí Hoàng Quốc Việt đến Thái Nguyên tổ chức Đoàn uỷ thí điểm giảm tô. Tôi được làm thư ký chung của Đoàn uỷ, theo dõi các đội thí điểm giảm tô trong 25 xã thuộc ba tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ và Thanh Hoá. Sau đó tiếp tục theo dõi công tác phát động quần chúng giảm tô đợt 1, mở rộng trong 163 xã.
Khi hai đợt giảm tô đầu tiên đã kết thúc, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 5 vào tháng 11-1953, đánh giá kết quả giảm tô rất tốt: phát động được quần chúng nâng cao ý thức đấu tranh giai cấp, bước đầu hạ uy thế địa chủ, gây một luồng phấn khởi rất sâu rộng trong toàn dân, nhất là quân đội, những người nông dân mặc áo lính, càng hăng hái chiến đấu quên mình trên các chiến trường. Trung ương Đảng quyết định mở rộng nhanh chóng phong trào phát động quần chúng giảm tô và tiến hành một đợt thí điểm cải cách ruộng đất.
Chuyện từ giảm tô lên cải cách ruộng đất là một chủ trương lớn, có ý nghĩa lịch sử, nên Trung ương quyết định họp Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng (từ 14 đến 23-11-1953) để thông qua đường lối chung. Tiếp đến Hội nghị Uỷ ban Mặt trận Liên Việt toàn quốc (26 đến 28-11-1953) nhiệt liệt hoan nghênh thắng lợi giảm tô và hoàn toàn tán thành chủ trương của Đảng về cải cách ruộng đất. Sau đó Quốc hội (Khoá I) họp lần thứ ba (1 đến 4-12-1953) nhất trí thông qua Luật ruộng đất và ngày 19-12-1953 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh ban hành Luật Ruộng đất.
Trong dịp này cha tôi có mặt ở Việt Bắc khá lâu. Tôi lại được hân hạnh tham gia Hội nghị toàn quốc của Đảng với tư cách là cán bộ của Trung ương theo dõi diễn biến của hội nghị qua các buổi thảo luận của các đoàn đại biểu các địa phương. Trong hoàn cảnh đó cha con chúng tôi thường gặp nhau.
Một buổi chiều, khi Hội nghị toàn quốc đã kết thúc, cha tôi tìm gặp tôi sau bữa cơm chiều, cùng tôi đi dạo trên đường rừng, quanh khu vực hội nghị. Ông hỏi tôi tin tức về gia đình ở trong quê Nghệ An, rồi hỏi về công tác của tôi từ ngày được điều động về nước.
Tôi kể:
“Khi con từ Bangkok về tới Việt Bắc cuối năm 1951 được gặp đồng chí Phạm Văn Đồng báo cáo tình hình công tác của Đảng bộ ở Thái Lan. Sau đó anh Trần Hiệu là Trưởng ban Tình báo gặp con, dự định xin con sang làm công tác tình báo Đông Nam Á. Nhưng Trung ương cho con dự một lớp chỉnh huấn ở trường Nguyễn Ái Quốc khoá 2, rồi điều động về Văn phòng Trung ương Đảng làm thư ký cho đồng chí Hoàng Quốc Việt, theo dõi công tác Mặt trận và Dân vận. Cuối năm 1952, con đã giúp anh Việt ấy thảo chương trình công tác 1953. Hồi ấy đã có thư của Đoàn Cố vấn Trung Quốc hỏi Trung ương đối với giai cấp địa chủ thì có đánh đổ toàn bộ không và đối với việc phát động quần chúng thì có ‘phóng tay’ hay không. Trung ương đã quyết tâm ‘phóng tay’ phát động quần chúng và đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ một cách có sách lược phân hoá.” Cha tôi hỏi:
“Qua hai đợt phóng tay phát động quần chúng giảm tô vừa rồi Tân có nhận xét gì không?”
“Con thấy các đội công tác, đội nào đi sâu thăm nghèo hỏi khổ và phóng tay phát động quần chúng thì ở đấy giảm tô, thoái tô nhanh chóng. Nhưng địa chủ cũng phản ứng rất mạnh, thầy ạ.”
Ông nhìn tôi có vẻ thăm dò, rồi nói với một giọng, tin cậy, thân mật:
“Tân dự Hội nghị toàn quốc vừa rồi thì thấy đấy: đường lối Cải cách Ruộng đất của Trung ương rất toàn diện, rất mềm dẻo, đánh vào giai cấp địa chủ có phân biệt các loại, chiếu cố địa chủ kháng chiến, chú trọng đoàn kết nông thôn, tránh gây chấn động, làm mất sự đồng tình của các nhân sĩ, trí thức, anh em khối đoàn kết kháng chiến toàn dân. Những lần này thầy về nước, đi từ biên giới đến an toàn khu, có tham quan mấy cuộc đấu tố địa chủ ở các xã giảm tô, thì thấy cách làm như hiện nay là không đúng.”
“Không đúng thế nào ạ?” Tôi hỏi trong thái độ ngạc nhiên.
“Mình thấy các đội giảm tô đem địa chủ ra cho quần chúng đấu tố, xỉ vả như thế thì sẽ gây ra oán thù không cần thiết. Mặt khác mình thấy trên đường nhan nhản khẩu hiệu ‘Dựa vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, trung lập phú nông, đánh đổ giai cấp địa chủ’ cũng rất đáng suy nghĩ. Đây là một khẩu hiệu sách lược, cần phổ biến sâu sắc, thấm nhuần nội bộ để trong hành động thực tế của cán bộ có phương pháp đúng mức, chứ giương lên công khai khắp các nẻo đường như thế thì không thể đoàn kết nông thôn, thậm chí có thể gây chia rẽ trong nội bộ nông dân. Khẩu hiệu ‘trung lập phú nông’ nay đã được Trung ương sửa lại là ‘Liên hiệp phú nông’ cốt để lôi kéo phú nông, nhưng cách phát động quần chúng như thế này thì chưa chắc đã liên hiệp được phú nông đâu.”
Ngừng một lát, có ý xem thái độ của tôi, ông nói tiếp:
“Những điều mình nói với Tân hôm nay mình đã phát biểu trong cuộc họp Trung ương rồi, nhưng chỉ là ý kiến trong nội bộ thôi. Tân là một cán bộ của Trung ương, nên biết, nhưng cũng là biết vậy chớ không được tuỳ tiện phát biểu rộng rãi.”
Nghe cha tôi nói, tôi hơi ngạc nhiên. Qua hai đợt giảm tô, tôi là một cán bộ chủ chốt của Đoàn uỷ do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách, tôi chỉ được nghe những lời ca ngợi cái hay cái tốt của phong trào và sự sáng suốt của Đảng, lòng biết ơn của nhân dân với Bác, với Đảng đã đem lại quyền lợi thiết thân. Đây là lần đầu tiên tôi được nghe một ý kiến phê bình từ miệng cha tôi, một đồng chí uỷ viên Trung ương Đảng. Tôi chỉ im lặng.
Thật ra, trong vấn đề này tôi đã một lần vấp váp hồi chỉnh huấn ở Trường Nguyễn Ái Quốc đầu năm 1952.
Ngày ấy Trung ương đang cân nhắc và chuẩn bị có sự chuyển hướng chính sách đối với giai cấp địa chủ. Việc giáo dục về lập trường giai cấp trong các lớp chỉnh huấn được nhấn mạnh, đi đôi với việc khuyến khích “tự do tư tưởng”, dám nghĩ, dám nói (để Trung ương nắm vững tư tưởng cán bộ). Nhà trường tổ chức một buổi thảo luận chung tại hội trường, cho học viên tranh luận chuyên đề “Có nên chuyên chính với giai cấp địa chủ hay không”. Nhiều đồng chí đã thấu hiểu dự định của Trung ương đặt vấn đề lập trường giai cấp thành cơ sở nghiên cứu vấn đề này. Riêng tôi, mới ở Thái Lan về nước, chưa nhạy bén cảm thụ điều dự kiến của Trung ương, nên đã mạnh dạn phát biểu:
“Từ ngày Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, Bác Hồ đã nhiều lần tuyên bố chính sách đoàn kết, không phân biệt giai cấp để mưu cầu giải phóng dân tộc. Hồi đầu kháng chiến, nhiều nhân sĩ hỏi Bác ‘Có đoàn kết với địa chủ không và có đoàn kết lâu dài không?’ thì Bác đã trả lời dứt khoát: Chân thành đoàn kết, đoàn kết lâu dài cho đến ngay kháng chiến thành công. Bây giờ Đảng ta muốn nâng cao đời sống nông dân, giảm nhẹ bóc lột, thì nên vận động địa chủ vì lòng yêu nước, vì nghĩa đồng bào mà nhả bớt quyền lợi kinh tế, khiến nông dân đỡ khổ, hăng hái đánh giặc, vì số đông bộ đội là con cái nông dân. Chỉ có những địa chủ đã là Việt gian, phản động thì mới không nghĩ tới đồng bào, không chịu giảm bớt bóc lột mà thôi. Nếu ta tuyên bố chuyên chính với giai cấp địa chủ thì hoá ra Bác Hồ làm sai lời hứa. Như vậy có ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhất là các nhân sĩ yêu nước đã đi theo kháng chiến mà nghe nói giai cấp của họ là đối tượng chuyên chính của ta thì họ sẽ nghĩ như thế nào về Bác, về Đảng Lao động Việt Nam.”
Sau buổi thảo luận, một số đồng chí trong lớp gặp tôi tỏ lời hoan nghênh bài phát biểu của tôi là có tình có lý. Nhưng ngày hôm sau tôi đã bị phê bình đích danh trên tờ báo tường dán ở trước hội trường. Đó là bài của anh Hà Nghệ, thư ký đồng chí Trường Chinh, từng viết một số bài hay trên báo Nhân dân, nay được đi học chỉnh huấn Trường Nguyễn Ái Quốc. Tác giả bài bích báo phê phán: “Đồng chí Hoàng Nhật Tân không nắm vững lập trường giai cấp, không hiểu sự cần thiết phải chuyển hướng đường lối giai cấp của Đảng… còn thông cảm với giai cấp bóc lột hơn là thông cảm với quần chúng cơ bản của cách mạng.”
Từ đó tôi dè dặt hơn trong phát biểu ý kiến, và tự nhắn nhủ mình phải quan tâm rèn luyện lập trường giai cấp của một chiến sĩ cộng sản. Qua thực tế của phong trào giảm tô tôi càng thấm nhuần cách giải thích của các đồng chí cố vấn Trung Quốc về âm mưu của giai cấp địa chủ, về những người liên quan với địa chủ thường vì tình cảm bà con họ hàng mà làm trái lợi ích giai cấp của bần cố nông. Các đồng chí cố vấn giải thích cho cán bộ tham gia giảm tô rằng: Một người chiến sĩ cách mạng chân chính thường phải trải qua ba của ải: Cửa ải kháng chiến để rèn luyện tinh thần yêu nước, cửa ải phát động quần chúng để nâng cao lập trường giai cấp và cửa ải chỉnh huấn để từ sửa chữa sai lầm, tỏ lòng trung thành với Đảng.
Trong thời gian các đợt giảm tô và Cải cách Ruộng đất đầu tiên, tôi hoàn toàn tin tưởng những điều đã học được ở trường chỉnh huấn và ở các lớp giảng của cố vấn, cho nên mỗi khi nghĩ đến những lời cha tôi phê bình việc phát động quần chúng giảm tô thì tôi lại thấy hơi lo, một mối lo mơ hồ, không rõ rệt. Tôi không thể nói điều lo lắng này ra với cha tôi cũng như với bất cứ ai cả.
*
Ngay sau khi Luật Ruộng đất được công bố, đồng chí Hoàng Quốc Việt đích thân chỉ đạo đợt thí điểm Cải cách Ruộng đất ở 6 xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, vào đầu năm 1954.
Tháng 5-1954, phát động quần chúng giảm tô đã làm xong ở 631 xã thuộc các tỉnh vùng tự do từ Việt Bắc đến Thanh Nghệ Tĩnh. Đợt thí điểm Cải cách Ruộng đất cũng hoàn thành. Đợt I Cải cách Ruộng đất bắt đầu tiến hành trên 47 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên và 6 xã thuộc Thanh Hoá. Bản thân tôi được đồng chí Hoàng Quốc Việt cho nắm một đội Cải cách Ruộng đất xuống xã Túc Duyên (huyện Đại Từ, Thái Nguyên) làm thí điểm.
Đi vào thực tế, là đội trưởng, tôi cũng bắt rễ, xâu chuỗi như mọi anh em đội viên, xét duyệt danh sách địa chủ ở các xóm do các tổ báo cáo lên. Tôi thấy thật khó mà trong vòng một thời gian ngắn nắm bắt được tâm trạng của 20 anh em đội viên của mình, khó mà nắm rõ thực hư trong mọi trường hợp nông dân tố khổ địa chủ. Tôi chỉ làm được một việc là nhắc anh em lắng nghe cả trung bần cố nông để giữ được khách quan, đừng để xảy ra nhục hình khi đấu tố. Những đến cuối đợt thì được đồng chí đội phó báo cáo là ở xóm của đồng chí phụ trách có một địa chủ tự sát. Thẩm tra lại các yếu tố thì chúng tôi xác định đây là trường hợp bị quy oan địa chủ. Phát hiện sai lầm này cũng vừa lúc Đoàn uỷ triệu tập các đội ở Thái Nguyên về địa điểm tổng kết đợt thí điểm Cải cách Ruộng đất. Tôi uỷ thác đồng chí đội phó ở lại Thái Nguyên tiến hành sửa sai ngay cho gia đình bị quy oan, rồi đưa toàn đội về Thái Nguyên tham gia Hội nghị Tổng kết.
Qua thực tế đợt I Cải cách Ruộng đất, tôi bắt đầu nghĩ rằng ý kiến cha mình phê bình cách làm phát động quần chúng là có phần đúng: Một số cán bộ trong đội Cải cách Ruộng đất muốn gây thành tích, cố moi ra cho được nhiều địa chủ. Khi động viên nông dân kê khai ruộng đất thì chẳng những cán bộ trong đội, mà ngay cả đồng chí cố vấn Trung Quốc xuống xã cũng có khuynh hướng ép nông dân khai tăng số ruộng đất họ mới được chia để có thành tích tuyên truyền. Nhân dân trong xã Cải cách Ruộng đất từ trung nông trở lên có nhiều thắc mắc mà không ai dám nói vì sợ bị vạ lây.
Trong Hội nghị Tổng kết, tôi được chỉ định ra báo cáo điển hình ở hội trường, nói lên một số nhận thức của mình là phải chống hữu khuynh đồng thời hết sức tránh tả khuynh. Cần lắng nghe cho thấu ý kiến của nhân dân, cả bần cố và trung nông trong khi phân định thành phần giai cấp trong xã cũng như khi lãnh đạo nông dân bình nghị để kê khai ruộng đất. Tôi thay mặt toàn đội Túc Duyên tự phê bình nghiêm khắc về việc quy oan địa chủ dẫn tới vụ tự sát thảm thương. Có thể nói nhận thức của tôi tuy có chuyển biến bước đâu, nhưng còn rất hời hợt.
Đợt I Cải cách Ruộng đất chấm dứt đúng vào lúc Hội nghị Genève kết thúc thắng lợi. Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Campuchia và Lào được ký kết. Hoà bình được lập lại, quân xâm lược Pháp sắp phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam.
Từ tháng 7-1954, Đoàn uỷ Cải cách Ruộng đất ở Thái Nguyên do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách, bàn giao nhiệm vụ lại cho khu uỷ Việt Bắc và Đoàn uỷ Cải cách Ruộng đất ở Thanh Hoá do đồng chí Hồ Viết Thắng phụ trách bàn giao lại cho Khu uỷ IV. Các đồng chí lãnh đạo cùng một số cán bộ chủ chốt trong đó có tôi trở về thủ đô Hà Nội. Trung ương Đảng quyết định thành lập Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương gồm các đồng chí lãnh đạo của Đảng và đại biểu của Mặt trận Liên Việt (sau đổi là Mặt trận Tổ quốc), đại biểu các đoàn thể quần chúng và một số nhân sĩ yêu nước tiêu biểu là uỷ viên Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương do đồng chí Trường Chinh làm chủ tịch, hai uỷ viên Bộ Chính trị là Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương trực tiếp phụ trách, đồng chí Hồ Viết Thắng, uỷ viên Trung ương Đảng là uỷ viên thường trực, chỉ đạo công tác hàng ngày. Bản thân tôi được giao nhiệm vụ mới: Trưởng ban Tuyên huấn của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất trung ương, dưới quyền chỉ đạo của đồng chí Hồ Viết Thắng.
Trong hoàn cảnh hoà bình, tháng 9-1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết mới, coi Cải cách Ruộng đất là điều kiện quyết định để phục hồi kinh tế sau chiến tranh, nhưng cần phải điều chính chính sách cho thích họp với tình hình mới, không trái với Hiệp định Genève. Dựa theo tinh thần nghị quyết Bộ Chính trị ,Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương ra quyết định “Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất”, trong đó sửa đổi và bổ sung một số quy định cụ thể như: Rút khẩu hiệu “Đánh đổ Việt gian phản động” (Vì Hiệp định Genève quy định hai bên không được trả thù người đã từng cộng tác với đối phương) thay bằng khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ cường hào gian ác”, thu hẹp diện đấu tranh, sửa đổi phương pháp đấu tranh, tăng cường tác dụng của Toà án Nhân dân; không vạch linh mục là “Địa chủ Nhà Chung”, mở rộng diện trưng mua, cho địa chủ hiến ruộng với điều kiện rộng rãi hơn, chiếu cố những nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ v.v…
Tuy chủ trương, chính sách vạch ra mềm dẻo như vậy, nhưng trong thực hành, các đội giảm tô và Cải cách Ruộng đất vẫn làm như cữ. Diện đả kích ngày càng mở rộng. Toà án Nhân dân do các đội Cải cách Ruộng đất lập nên xử bắn nhiều người bị quy oan là địa chủ cường hào gian ác. Từ Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương truyền xuống một quy định miệng là mỗi xã phải có từ 3 đến 5 phần trăm số hộ là địa chủ thì mới tránh khỏi “lọt lưới”. Hầu hết cán bộ lãnh đạo xã trước ngày phát động quần chúng giảm tô và Cải cách Ruộng đất bị gạt ra khỏi công cuộc vận động quần chúng. Không ít người bị quy thành phần địa chủ, hoặc liên quan với địa chủ, tay sai địa chủ, thậm chí bị quy là phản động, ngấm ngầm làm tay sai cho Pháp trong thời địa phương bị chiếm đóng.
Tháng 3-1955, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 7. Cha tôi từ Bắc Kinh về Hà Nội tham gia hội nghị. Ông đã thẳng thắn nói lên những ý kiến phê phán của mình đối với cách thực hiện Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Nhưng ông đã được đả thông rằng tuy có những hiện tượng “tả khuynh”, nhưng đó là tất yếu trong cuộc đấu tranh giai cấp “long trời lở đất” ở nông thôn hàng ngàn năm dưới ách phong kiến, đứng trước sức phản ứng quyết liệt của giai cấp địa chủ và bọn tay sai của địch còn cài lại ở miền Bắc. Tuy được đả thông, ông vẫn kiên trì phản ánh dư luận nhân dân không đồng tinh với những sai lầm của các đội cải cách. Ông dẫn chứng báo cáo của đồng chí Hoàng Quốc Việt là trong hai đợt Cải cách Ruộng đất đầu tiên có 500 địa chủ lọt lưới và 400 địa chủ bị quy sai; và lập luận rằng 500 người lọt lưới thì có thể quy lại, nhưng 400 người bị quy sai, đã bị đấu tố, xỉ vả thì sửa như thế nào cho người ta, làm sao xoá được sự oán trách của họ và con cháu để hàn gắn sự đoàn kết trong thôn xóm.
Ý kiến phê bình của cha tôi không được chấp nhận, nhưng dầu sao sau Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, trong các bài phát biểu của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng đã nêu lên tinh thần “chống hữu, phòng tả”.
Tháng 8-1955 lại họp Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cũng có mặt cha tôi. Lần này ông vẫn kiên trì phê phán tả khuynh, yêu cầu phải sửa chữa ngay “tả” khuynh, chứ không phải chỉ “đề phòng tả khuynh”, vì trong thực tế “tả” khuynh đã rất nghiêm trọng. Tai hội nghị này ý kiến phê phán của ông đã mang tính chất như là đối lập với các đồng chí lãnh đạo Cải cách Ruộng đất, và dường như ông đang bị cô lập. Ở cơ quan Uỷ ban Cải cách Ruộng đất một số cán bộ thân cận với lãnh đạo đã thì thào với nhau rằng: Có lẽ chuyến này anh Hoàng Văn Hoan sẽ phải ra khỏi Trung ương và anh Hồ Viết Thắng sẽ được đề bạt vào Bộ Chính trị.
Phần tôi, tuy thầm hiểu rằng cha mình có phần đúng, nhưng mặt khác tôi vẫn còn phân vân: Phải chăng cha mình chưa thật sát với hoàn cảnh trong nước, nên chưa thật vui với niềm vui giải phóng của nông dân được có ruộng cày, thoát ách tô tức của địa chủ. Phải chăng ông đã thông cảm nhiều với nỗi oan ức của các người bị đấu tố, bị khai trừ mà ít thông cảm với nỗi khổ nhục của nông dân trước cách mạng, vì ông cũng chỉ là xuất thân gia đình nhà Nho thôi mà. Phải chăng ông chưa được trải qua cửa ải “đấu tranh giai cấp” nên về phương diện lập trường giai cấp, ông chưa thật sâu sắc như lập trường yêu nước?
Sau nhiều ngày đêm phân vân, suy nghĩ, đắn đo, cuối tháng 10-1955 tôi viết một bức thư dài 4 trang đánh máy gửi sang Bắc Kinh để bàn giải với cha mình bằng lời lẽ rất lễ độ nhưng cũng khá thẳng thắn.
Ý chính trong thư:
“Thầy ạ, mấy năm nay Trung ương Đảng đã nhận thấy mình có hữu khuynh, nên mới kiên quyết phóng tay phát động quần chúng đấu tranh. Tuy con chưa thấy Trung ương ra quyết định tự phê bình hữu khuynh, và các uỷ viên Trung ương Đảng không phải tham gia chỉnh huấn, nhưng tất cả cán bộ cao cấp đều đã kiểm thảo về khuyết điểm trước đây không am hiểu tình hình thực tế ở nông thôn, đánh giá quá thấp tính chất phản động của giai cấp địa chủ. Đối với thầy, con thấy từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 7, thầy thường than thở với con về những sai lầm nguy hại trong Cải cách Ruộng đất. Thầy nói ‘chỉ sợ Trung ương nghe phản ánh chưa đủ nên chưa thấy hết tầm nghiêm trọng của vấn đề, chưa thấy hết sự lo sợ và bất mãn trong nhân dân, chưa đánh giá được hậu quả của tình hình.’ Thầy còn nói ‘Có khi nghe 90 người mà chưa thấy ra sự thực, trái lại nghe một câu nói, xem một thái độ mà có thể phán ra đầu mối của sự thật.’ Cách lập luận của thầy có phần đúng, nhưng chỉ sợ thầy chưa xuất phát từ chỗ ‘nghe ai’, ‘giải quyết vấn đề cho ai’. Cải cách Ruộng đất là vấn đề của hàng triệu quần chúng lao động từng bị đói cơm rách áo. Chỉ e thầy chưa cảm thông sâu sắc nỗi khổ của họ trước cách mạng và điều phấn khởi của họ ngày nay.”
Cuối thư tôi viết: “ Trên đây là những lời chân thành của đứa con một của thầy mẹ, và cũng là lời bàn giải thẳng thắn của một đồng chí cách mạng, mong góp phần suy nghĩ với thầy”.
Phải nói rằng hồi ấy tôi tuy đã nhận rõ tác hại của “tả” khuynh, và đã từng phát biểu trong hội nghị cán bộ Cải cách Ruộng đất là cần “chống tả khuynh” đi đôi với chống hữu khuynh. Nhưng trong hệ thống tư tưởng tôi đã thấm sâu quan điểm đấu tranh giai cấp qua các luận văn của đồng chí Mao Trạch Đông như “Mâu thuẫn luận”, “Thực tiễn luận”, nhất là tác phẩm “Bàn về cuộc nổi dậy của nông dân Hồ Nam”… Ngày ấy Đảng ta đặt cụ Mao lên hàng lãnh tụ mẫu mực của cách mạng thế giới, đã ghi vào Điều lệ Đảng: “Lấy học thuyết Mác, Ăng-ghen, Lenin, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tế cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho tất cả mọi hành động”. Tôi tự nhủ không nên vì tình cảm cha con mà không nói thật, nói thẳng những ý kiến phê bình với người cha thân yêu của mình.
*
Bức thư của tôi gửi sang Bắc Kinh không được trở lại, đến tháng 9, tháng 10-1956 thì tôi bắt đầu hiểu rõ điều ngây thơ của mình và sự đúng đắn, sáng suốt của cha tôi.
Ngày ấy Cải cách Ruộng đất đợt 4 đã kết thúc từ tháng 12-1955. Trên toàn miền Bắc đã có 1585 xã nông dân được chia ruộng đất. Báo chí và đài phát thanh tuyên truyền rầm rộ về những thắng lợi huy hoàng của sự nghiệp chống đế quốc cũng như chống phong kiến. Tiếp đó, đợt 5 Cải cách Ruộng đất được phát động từ đầu tháng 1-1956. Trên ba vạn cán bộ lấy từ tất cả các cơ quan Đảng, chính, quân, dân ở các cấp được huấn luyện hàng tháng trước khi toả xuống 1720 xã thuộc 16 tỉnh, trong đó 13 tỉnh là vùng mới giải phóng.
Khi đợt 5 sắp kết thúc thì cơ quan Chủ tịch phủ cũng như Uỷ ban Thường trực Quốc hội và Văn phòng Trung ương Đảng nhận được hàng ngàn lá đơn kêu oan.
Hồ Chủ tịch gọi đồng chí Hồ Viết Thắng sang nói cho biết tình hình nghiêm trọng này và yêu cầu Thường trực Uỷ ban Cải cách Ruộng đất chọn 4 cán bộ kiểm tra có kinh nghiệm về tình tình trung thực đưa sang Phủ Chủ tịch để Bác trực tiếp giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách làm việc để đi thẩm tra một số địa phương có nhiều dân khiếu nại. Bác dặn dò bốn anh phải hết sức khách quan, nghe đầy đủ sự thật và trở về trực tiếp báo cáo với Bác, không giấu diếm sự thật.
Bốn anh cán bộ này, tôi còn nhớ tên hai anh. Một là anh Thúc Khu IV và hai là anh Mỹ Hảo, người Hưng Yên, đều trình độ thường vụ Huyện uỷ, tham gia Cải cách Ruộng đất từ những đợt đầu và làm cán bộ kiểm tra từ đợt 5 Cải cách Ruộng đất. Họ đều xuất thân nông dân, bản chất trung thực và khiêm tốn.
Khoảng giữa tháng 8-1956, bốn anh làm xong nhiệm vụ, báo cáo kết quả kiểm tra với Bác Hồ rồi trở lại cơ quan Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương kể lại cho một số cán bộ chủ chốt của Uỷ ban nghe.
Các anh nói đại ý là: Lâu nay các Đoàn uỷ Cải cách Ruộng đất báo cáo lên Trung ương chỉ nói nhiều về thành tích đấu tranh mà che giấu nhiều sự thật. Lần này chúng tôi đến tận nơi có vấn đề oan khuất, nghe các lão đảng viên báo cáo thực tình, vào tận nhà tù đang giam các địa chủ cường hào và “cán bộ cũ” bị qui là phản động, đến tận nhà những người đã tự sát, nghe vợ con họ trình bầy.
Ở Khu IV, các lão đồng chí yêu cầu Hồ Chủ tịch hãy xem xét lại người lãnh đạo Khu uỷ IV đã dám tuyên bố rằng: “Qua Cải cách Ruộng đất mới thấy phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là một phong trào giả tạo, do đế quốc Pháp dựng nên”.
Một đảng viên thời 1930-1931 đắp lên mình lá cờ đỏ búa liềm trước khi viết thư tuyệt mệnh, vạch tội Cải cách Ruộng đất rồi cắn lưỡi tự sát. Ở Liên khu III, trong nhà tù đã có mấy cán bộ cũ tự sát. Khi chúng tôi cùng với cán bộ Khu uỷ vào phòng giam thẩm tra, có lão cán bộ đã chửi thẳng vào mặt chúng tôi: Chính chúng mày mới là bọn phản Đảng, hại dân, hại nước.
Bà con nông dân thì kể lại nhiều trường hợp rễ chuỗi tố oan trung ương, phú nông, kích họ lên thành phần địa chủ cường hào gian ác để tịch thu được nhiều ruộng đất. Không ít trường hợp tố oan, vu khống để trả thù nhau. Cũng nhiều trường hợp do cán bộ đội mớm cung hoặc nhục hình buộc địa chủ phải nhận tội gian ác. Nguy hại nhất là nhiều cán bộ đội cải cách coi nhục hình là biện pháp tốt không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, mặc dầu Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương đã nhiều lần chỉ thị ngăn cấm nhục hình.
Chúng tôi hỏi:
“Nghe các anh báo cáo, Bác nói thế nào?”
“Bác chưa nói gì, những tỏ ra rất đăm chiêu tư lự. Có lẽ nay mai họp Hội nghị Trung ương Bác sẽ có ý kiến.”
Một không khí hồi hộp chờ đợi lan nhanh trong số cán bộ của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương.
*
Hội nghị Trung ương họp vào tháng 9, kéo dài đến tháng 10-1956. Có người nói đây là Hội nghị Trung ương lần thứ 9, có người gọi đây là Hội nghị Trung ương lần thứ 10. Cuốn sử biên niên của Viện Sử học (xuất bản 1975) chỉ ghi Hội nghị Trung ương lần thứ 8 rồi ghi đến Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mà không ghi gì về Hội nghị Trung ương lần thứ 9. Phải chăng đây là hai cuộc họp quan trọng được nhập làm một?
Cuốn hồi ký Giọt nước trong biển cả của cha tôi ghi lại một cách khái quát nhưng cũng khá đầy đủ:
“Hội nghị Trung ương về sửa sai Cải cách Ruộng đất họp vào tháng 9-1956, là một cuộc hội nghị họp nhiều ngày nhất (gần một tháng) từ khi có Đảng. Hầu hết các đồng chí Trung ương đều cho rằng trong quá trình Cải cách Ruộng đất, Uỷ ban Cải cách Ruộng đất đã không thi hành đúng chủ trương của Đảng. Thí dụ:
– Đảng chủ trương “đấu lý” để nâng cao giác ngộ của nông dân và làm cho địa chủ biết việc bóc lột nông dân là không đúng thì các đội cải cách đã để cho nông dân xỉ vả người bị gọi là địa chủ, thậm chí để cho nàng dâu xỉ vả mẹ chồng, con xỉ vả bố mẹ, mà người bị gọi là địa chủ cứ phải cúi đầu chịu, không được thanh mình phải trái, có người bị bao vây chặt chẽ đến nỗi cơm không có ăn, hàng xóm hoặc bà con quá thương phải giấu lén đưa cho củ khoai, củ sắn.
– Đảng chủ trương những địa chủ có công với cách mạng, hoặc địa chủ kháng chiến được chiếu cố, thì các đội cải cách đều coi họ là địa chủ có tội ác với nông dân mà đấu tố lung tung.
– Đảng chủ trương những người có một ít ruộng cho thuê, nhưng nguồn sống chính là nhờ vào việc làm ăn khác, như đi buôn, dậy học v.v… thì chỉ khuyên họ trả ruộng đất cho nông dân, mà không coi là địa chủ, nhưng các đội cải cách cứ coi là địa chủ để mặc cho nông dân tuỳ tiện xỉ vả. Vì vậy có những người chỉ có năm ba sào ruộng mà cũng bị coi là địa chủ, trở thành một hiện tượng phổ biến. Những người là trung nông đáng lý phải được đoàn kết chặt chẽ trong hàng ngũ nông dân, những người phú nông đáng lý phải được ở vào địa vị liên hiệp trong Cải cách thì một số không ít cũng bị coi là địa chủ, bị tịch thu hết ruộng đất nhà cửa, của cải, bị đủ mọi điều xỉ nhục mà không được chối cãi.
– Tai hại hơn là lúc chuyển sang giai đoạn “chỉnh đốn tổ chức” thì chẳng những đánh vào trung nông và phú nông mà còn đánh vào các tổ chức cơ sở Đảng, phần lớn là những đảng viên vào Đảng năm 1930, hoặc tham gia Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội từ những năm 1925 – 1926 đều bị đấu tố và giam cầm. Đặc biệt là ở Nghệ Tĩnh thì nhà tù dựng lên khắp nơi, hầu hết cơ sở Đảng đều bị đánh phá tan nát.
(…)
– Hồ Chủ tịch tuy không ở trong Uỷ ban Cải cách Ruộng đất nhưng với cương vị là Chủ tịch Đảng, đã nghiêm khắc tự phê bình trước Hội nghị về việc thiếu kiểm tra đôn đốc. Người chủ trương Đảng phải kiên quyết sửa sai.”
Trên tinh thần thừa nhận sai lầm, các đồng chí phụ trách Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương đều tự nhận phần trách nhiệm: đồng chí Trường Chinh thôi giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Các đồng chí Hoàng Quốc Việt , Lê Văn Lương rút khỏi Bộ Chính trị. Đồng chí Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
*
Sau này, trong một buổi gặp mặt, anh Lưu Động, một đồng chí lão thành cách mạng kể lại cho tôi sự kiện sau đây. Anh nói với giọng thân mật của một bác đàn anh:
“Hồi ấy mình đã có lúc gặp anh Hoan trong dịp phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất. Mình cũng đi Cải cách Ruộng đất, làm một cán bộ trong đội công tác, thấy bọn họ xử lý oan cán bộ, quy oan thành phần địa chủ, truy bức, nhục hình, mình chống lại, bị họ phê bình cảnh cáo. Mình tức quá, viết thư lên anh Trường Chinh. Anh đả thông, mình không chịu. Một hôm, vào khoảng tháng 9-1956, anh Trường Chinh triệu tập mình đến trụ sở Trung ương Đảng ở cạnh hồ Hale. Mình đến thì đã thấy anh Hoan và anh Trường Chinh ở đó. Một lúc sau Bác đến. Cuộc họp chỉ có mấy người thôi. Mình có dịp được trình bầy với Bác những điều phê phán của mình. Anh Hoan nói nhiều về các vấn đề anh không đồng tình với anh Trường Chinh, về những điều mắt thấy tai nghe, dư luận trong cán bộ và nhân dân và những lý lẽ anh phê bình cách tiến hành Cải cách Ruộng đất.”
Qua câu chuyện của anh Lưu Động, tôi hiểu rằng cuộc đấu tranh của cha tôi phát hiện sai lầm này là rất gay go. Nếu không có sự can thiệp của Bác chắc khó mà phân rõ phải trái.
Đến năm 1960, tôi mới có dịp tranh thủ tìm hiểu thêm qua cha tôi. Ông kể:
“Hồi ấy, trong các cuộc hội nghị Trung ương, lúc đầu có 5 anh phê phán sai lầm Cải cách Ruộng đất.”
“Những ai hả thầy?”
“Các anh Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu và tôi. Sau khi nghe anh Trường Chinh đả thông thì bốn anh im lặng. Riêng tôi cứ kiên trì phản bác lý lẽ thanh minh của anh Trường Chinh. Mình thấy rằng nếu Trung ương không nhận ra những sai lầm này thì nguy hiểm quá. Anh Trường Chinh nói: ‘Bây giờ chỉ còn một mình anh Hoan, đề nghị anh tiếp tục suy nghĩ. Tôi sẽ gặp và làm việc riêng với anh trong một buổi sau.’”
“Cuộc gặp sau có căng thẳng không hả thầy?”
“Mình chờ đợi mấy hôm thì có 4 cán bộ sừng sỏ của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương sang nhà khách gặp mình, nói là họ được anh Trường Chinh phái đến. Họ đem hết tài liệu, số liệu về thắng lợi Cải cách Ruộng đất ra để thuyết phục tôi. Nghe xong tôi nói: Tất nhiên Cải cách Ruộng đất đem lại ruộng đất cho nông dân, đó là thắng lợi quan trọng của cách mạng, chứng tỏ đường lối lớn của Đảng ta là đúng. Nhưng sai lầm trong cách làm lại quá nghiêm trọng, quá phổ biến, đã ảnh hưởng sâu sắc đến lòng tin của nhân dân và uy tín của Đảng. Những điều các anh trình bầy hôm nay tôi đã được nghe nhiều rồi. Đề nghị các anh về báo cáo lại với anh Trường Chinh rằng anh đã hẹn đích thân gặp tôi những sao không gặp, mà lại phái các anh đến. Cách làm việc như thế tôi không đồng tình đâu!”
“Rồi sau đó, anh Trường Chinh có gặp lại thầy nữa không?”
“Có. Sau đó mình trình bầy thêm với Bác, Bác đã gặp chung cả mình với anh Trường Chinh. Thực ra những sai lầm của Cải cách Ruộng đất không phải như cái kim trong bị lòi đầu ra mà như cái ung nhọt và mủ. Nỗi oan ức trong nhân dân đã quá nặng nề, ‘tiếng oan dậy đất’ đến tai Bác. Trong Hội nghị Trung ương, Bác lắng nghe ý kiến mọi người và khẳng định rằng Cải cách Ruộng đất giải phóng nông dân, xoá bỏ quan hệ bóc lột phong kiến là một thắng lợi căn bản to lớn, nhưng trong việc chỉ đạo thực hiện đã phạm những sai lầm nghiêm trọng. Nhiều đồng chí uỷ viên trung ương phê bình cách làm việc của Bộ Chính trị và Ban Bí thư có chỗ chưa hợp lý nên mới để xảy ra những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức kéo dài đến lúc kết thúc mới được phát hiện. Các đồng chí đề nghị bổ sung ba thành viên Bộ Chính trị và đã bỏ phiếu bầu ba người: anh Nguyễn Duy Trinh, anh Lê Thanh Nghị và tôi vào Bộ Chính trị. Trong tình hình đó, Bác là Chủ tịch Đảng phải kiêm nhiệm chức Tổng Bí thư.”
Sau Hội nghị Trung ương, cha tôi ở lại trong nước một thời gian tham gia việc chỉ đạo sửa sai bước đầu, rồi mới trở sang Bắc Kinh tiếp tục công tác ở Đại sứ quán cho đến năm 1957 mới trở về hẳn trong nước.
Đầu năm 1957, tôi được Trung ương cho sang Mạc Tư Khoa học tập lý luận ở trường Đảng cao cấp Đảng Cộng sản Liên Xô. Mùa hè năm ấy, cha tôi tháp tùng Hồ Chủ tịch đi thăm 9 nước trong “phe xã hội chủ nghĩa”. Đoàn của Bác Hồ dừng lại ở Mạc Tư Khoa, và cha con chúng tôi lại có dịp gặp nhau.
Cho đến lúc này tôi mới biết cha mình được bổ sung vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khi đọc báo Nhân dân đưa tin về danh sách đoàn đại biểu cấp cao Việt nam do Hồ Chủ tịch dẫn dầu đi tham hữu nghị 9 nước.
Cha con gặp nhau ở nhà khách Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ông cười, hỏi tôi:
“Tân còn nhớ bức thư gửi sang Bắc Kinh góp ý với mình về lập trường giai cấp nữa không? Bây giờ Tân được học tập có hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lenin, cần phải chú ý nâng cao lập trường giai cấp. Nhưng lập trường giai cấp không phải là ‘công nông chủ nghĩa’ mà là vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác Lenin vào thực tiễn Việt Nam, lúc nào cũng phải nghĩ đến lợi ích của nhân dân. Sách có câu ‘Hưng lợi, trừ hại’. Ngày nay chúng ta làm cách mạng mà biết quan tâm hưng lợi trừ hại cho nhân dân thì mới là có lập trường giai cấp.”
Câu chuyện về cha tôi phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất cùng với toàn bộ sự kiện Bác Hồ thừa nhận sai lầm Cải cách Ruộng đất, đối với tôi có ảnh hưởng rất sâu sắc. Từ ngày ấy tôi tâm niệm rằng mình phải độc lập suy nghĩ, phải trung thực từ trong sự suy nghĩ của bản thân mình thì mới tránh được sai lầm, và mới thực sự “dám nghĩ, dám nói, dám làm” như Bác Hồ đã dạy. Tôi coi cha tôi là một tấm gương cho tôi trong việc độc lập suy nghĩ, dám nghĩ, dám nói, đặt lợi ích chung của Đảng, của nhân dân lên trên những tính toán riêng tư cho mình.
Nguồn: Hồi ký Thiên thu định luận của Hoàng Nhật Tân, tác giả tự xuất bản.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.talawas.org/?p=24484

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. Chủ trương ” Cải cách ruộng đất ” của Nhà cầm quyền VN, theo miêu tả của GS Trần Huy Liệu đúng là một loại “tội ác” của nhân loại trong TK 20. Lịch sử VN nói riêng và Thế giới nói chung sẽ mãi mãi ghi nhận và lên án !

    Bình luận bởi Nguyên Khanh Trong — 25/11/2010 @ 10:09 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: