Hoàngquang’s Blog

19/09/2010

“Công thổ quốc gia” hay sự “sáng tạo” kì quặc về sở hữu? &Chính phủ nên từ bỏ vai tổng quản với tài sản công

Filed under: Chính trị- xã hội — hoangquang @ 10:13 sáng
Tags:

“Công thổ quốc gia” hay sự “sáng tạo” kì quặc về sở hữu?
Nguyễn Quang A
14/09/2010 06:00 GMT+7
Không có cái gọi là sở hữu toàn dân. Đó chỉ là một từ được “sáng tạo” ra để duy trì “quyền sở hữu thực” của một nhóm cá nhân. Xét thực tế đó cũng chẳng khác gì quyền của vua chúa xưa kia.
LTS: Sau đề xuất của TS Phạm Duy Nghĩa và nhóm nghiên cứu về việc xóa bỏ sở hữu toàn dân, thay thế bằng các khái niệm khác, Tuần Việt Nam nhận được nhiều ý kiến chia sẻ, thảo luận làm rõ thêm về vấn đề sở hữu toàn dân hay sở hữu quốc gia. Xin trân trọng giới thiệu góc nhìn của TS Nguyễn Quang A về vấn đề này tới bạn đọc.
Mọi ý kiến đóng góp, thảo luận về vấn đề này, xin gửi về hòm thư điện tử: tuanvietnam@vietnamnet.vn.
Chính phủ nên từ bỏ vai tổng quản với tài sản công ( Tiếp theo sau)

Sở hữu toàn dân: Sự “sáng tạo chết người”
Quyền sở hữu tài sản là một quyền căn bản trong các quyền con người. Quyền sở hữu và hệ thống thông tin về quyền sở hữu là vấn đề cốt lõi của mọi xã hội.
Có quyền sở hữu rạch ròi và có một hệ thống thông tin minh bạch về quyền sở hữu chính là bí ẩn của sự thành công của tất cả các nước đã phát triển và sự thiếu vắng một hệ thống như vậy là nguyên nhân chính của sự thất bại trong phát triển kinh tế-xã hội của tất cả phần còn lại nhiều nước trên thế giới. Đấy là thông điệp chính của cuốn sách nổi tiếng của học giả Peru, Hernando de Soto, cuốn “Sự bí ẩn của tư bản” được xuất bản năm 2000.
Tôi đã dịch cuốn sách ra tiếng Việt và bản dịch đã được gửi cho các nhà hoạch định chính sách với hy vọng giúp các nhà hoạch định chính sách và các đại biểu quốc hội có thông tin tham khảo trong quá trình thảo luận sửa đổi Luật đất đai. Đáng tiếc thông điệp của cuốn sách đã không có tác động gì đến Luật đất đai (sửa đổi) được thông qua năm 2003.
Năm 2006 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách đó với cái tên “sự bí ẩn của vốn” và tiêu đề phụ “Vì sao chủ nghĩa tư bản thành công ở phương Tây và thất bại ở mọi nơi khác”, nhưng chỉ là “sách tham khảo nội bộ” không được phát hành rộng rãi qua hệ thống phát hành sách.
Quyền sở hữu có các tác dụng chủ yếu để: (1) xác định tiềm năng kinh tế của tài sản, (2) tích hợp thông tin tản mác (về các tài sản) vào một hệ thống, (3) khiến dân chúng có trách nhiện, (4) làm cho các tài sản có thể chuyển đổi, (5) kết nối dân chúng và (6) bảo vệ các giao dịch.

Chính việc xóa bỏ hệ thống quyền sở hữu (tư nhân) là một nguyên nhân chính của sự thất bại của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đạt được một số thành tích về phát triển kinh tế trong hơn 20 năm đổi mới chủ yếu là do đã phần nào khôi phục lại quyền sở hữu tư nhân và khôi phục lại hệ thống quyền sở hữu. Đáng tiếc, chúng ta chưa thật triệt để trong vấn đề này và vẫn còn bị vương vấn bởi những giáo điều đã tỏ ra hoàn toàn vô dụng.
Quyền sở hữu toàn dân là một khái niệm kỳ quặc trong số những vương vấn như vậy. Đó là một sự “sáng tạo” chết người của những người được dân ủy thác. Không có cái gọi là sở hữu toàn dân. Đó chỉ là một từ được “sáng tạo” ra để duy trì “quyền sở hữu thực” của một nhóm cá nhân. Xét thực tế đó cũng chẳng khác gì quyền của vua chúa xưa kia, nhưng chí ít vua còn công khai tuyên bố rằng là của ông ta và có quyền ban, phát cho các cận thần.
Rất đáng tiếc, chúng ta đã sao chép hay cũng góp phần “sáng tạo” ra những cái như thế và đã thực hành về cơ bản cũng chẳng khác mấy các vua ngày xưa (ngày nay còn có quá nhiều vua dưới một vua “tập thể”).
Không giải quyết rạch ròi vấn đề này khó có thể có sự phát triển lâu bền.
Chính thế, nên dễ hiểu là dư luận rất quan tâm đến vấn đề này khi Ts. Phạm Duy Nghĩa thay mặt một nhóm nghiên cứu đặt vấn đề bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay bằng các khái niệm khác (như sở hữu quốc gia, sở hữu của chính quyền địa phương, sở hữu của một cộng đồng nào đó [của một họ, một làng chẳng hạn]), bên cạnh sở hữu tư nhân. Tôi đồng tình với cách đặt vấn đề của Ts. Phạm Duy Nghĩa.
Không phải mọi đất đai đều là “công thổ quốc gia”
Hãy chỉ xem về vấn đề sở hữu đất. Không thể coi tất cả đất trên lãnh thổ Việt Nam đều là “công thổ quốc gia” được. Nguyên từ “công thổ quốc gia” cũng chỉ rõ đất ấy thuộc sở hữu quốc gia. Phải rạch ròi, đất nào là công thổ quốc gia và các mảnh đất ấy (với đường biên, mô tả đặc điểm rõ ràng) phải được đăng ký (nói nôm na phải có sổ đỏ) với cơ quan quản lý. Đất của địa phương cũng vậy. Đó là đất công.
Đất của một cộng đồng hẹp được xác định rõ ràng (như của một dòng họ, của nhà chùa, của nhà thờ, v.v.) là thuộc phạm vi sở hữu tư hệt như sở hữu của một công ty hay của một cá nhân.
Đất đai chiếm trên nửa tổng tài sản của xã hội, nên vấn đề sở hữu đất phải được giải quyết thấu đáo và nhu cầu thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai (của các cá nhân, các pháp nhân ngoài nhà nước) bên cạnh việc phân định rạch ròi đất công (thuộc quốc gia hay thuộc chính quyền địa phương) và, đi liền với nó, việc sửa đổi luật đất đai và các luật liên quan là nhu cầu cấp bách không thể né tránh.
Đối với các tài sản khác (nhà máy, doanh nghiệp vân vân) cũng vậy.
Nói cách khác, sở hữu công (thuộc cấp quốc gia hay cấp địa phương) và sở hữu tư phải được công nhận và phải được quản lý trong một hệ thống thống nhất và chỉ có người chủ sở hữu đích thực (dù là nhà nước trung ương, địa phương hay các tổ chức kinh tế xã hội tôn giáo hoặc các cá nhân) mới được quyền định đoạt. Không thể coi là “sở hữu toàn dân” và tùy tiện quyết định.
Chính sự không rạch ròi này là nguyên nhân của trên 98% của các vụ khiếu kiện trong thời gian vừa qua.
Đã đến lúc phải giải quyết tận gốc vấn đề sở hữu, nếu không tình hình khiếu kiện còn tiếp diễn và nhiều hơn có thể dẫn đến bất ổn xã hội trầm trọng và cản trở sự phát triển của đất nước.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://tuanvietnam.net/2010-09-12-cong-tho-quoc-gia-hay-su-sang-tao-ki-quac-ve-so-huu

______________
Chính phủ nên từ bỏ vai tổng quản với tài sản công(*)
Tác giả: TBKTSG
09/09/2010 06:00 GMT+7
TS Phạm Duy Nghĩa

TS Phạm Duy Nghĩa đề xuất một thiết chế công quản nằm ngoài Chính phủ đối với tài sản thuộc sở hữu quốc gia.Khối tài sản này do Quốc hội, các hội đồng nhân dân kiểm soát. Khi đó, Chính phủ sẽ mất vai trò như là tổng quản đối với khối tài sản công.

Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuần Việt Nam đăng lại cuộc trò chuyện giữa GS.TS Phạm Duy Nghĩa, trưởng nhóm chuyên gia của báo cáo với TBKTSG.

Phải kiểm soát nhóm lợi ích thao túng chính sách

Báo cáo của nhóm chuyên gia đã đưa ra nhiều đề xuất táo bạo. Tuy nhiên, không rõ là nhóm đã dựa trên nền tảng lý luận nào? Hay nói cách khác, những đề xuất ấy liệu có đảm bảo cho thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN?

Ông Phạm Duy Nghĩa: Trung ương Đảng có hẳn một nghị quyết bàn về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về vấn đề này, nhìn chung có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất, định hướng XHCN nghĩa là phải sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, khống chế sở hữu tư nhân và kiểm soát kinh tế tư bản.

Cách tiếp cận thứ hai là theo định lượng. Ví dụ: người nghèo phải được giúp đỡ; những đối tượng dễ bị tổn thương phải được đảm bảo về an sinh phúc lợi; việc phát triển phải đảm bảo bền vững; phân bổ phúc lợi phải đồng đều…

Muốn phúc lợi được phân bổ một cách tương đối công bằng, thì nguồn tài nguyên quốc gia phải được quản lý và các thế hệ phải có quyền kiểm soát. Những nhóm lợi ích ngày càng thao túng chính sách phải được kiểm soát, còn những nhóm không có tiếng nói hoặc tiếng nói yếu ớt cần phải được nâng đỡ. Nhóm chuyên gia chúng tôi đang đi theo hướng thứ hai.

Sở hữu toàn dân: Không thể xác định ai là chủ

Một trong những đề xuất quan trọng của nhóm là bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay vào đó là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã. Ông có thể giải thích kỹ hơn về đề xuất này?

– Sở hữu toàn dân là một khái niệm được chính trị hóa, khiến cho nó trở nên không rõ ràng. Do đó, khi triển khai vào các khái niệm pháp lý thì không dùng được vì không thể xác định ai có chủ quyền thực sự. Tiếp nữa là khi khái niệm không rõ thì nó tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích kiểm soát được tài nguyên, biến những tài nguyên của quốc gia trở thành của tư.

Tôi lấy ví dụ, hôm rồi tại cuộc hội thảo người ta tranh luận về trường hợp bán trụ sở ở 48 Hàng Bài, Hà Nội. Nguyên đây là một chỗ rất đẹp, trước kia cơ quan xuất nhập cảnh, Bộ Công an dùng làm trụ sở, nhưng mới đây nó đã được bán cho tư nhân. Lập tức một câu hỏi đặt ra: Liệu cơ quan nhà nước có quyền bán trụ sở không?

Ví dụ nhỏ nói trên cho thấy khái niệm toàn dân thật sự không giúp xác định rõ ràng ai là chủ cả. Không rõ ràng nên không dùng được. Vì vậy, cần sử dụng khái niệm khác.

Khái niệm sở hữu quốc gia mà chúng tôi đề xuất thực ra đã có trong Hiến pháp 1946. Mặt khác, sở hữu quốc gia phải được hiểu là tài sản bao gồm của nhiều thế hệ gộp lại. Lấy ví dụ như bờ biển chẳng hạn. Chắc chắn nó không phải chỉ của thế hệ ngày nay mà là của hàng bao thế hệ cha ông mình đã giành được, đồng thời nó cũng phải được để dành cho các thế hệ mai sau. Nay bờ biển được khoanh lại, biến thành những resort như ở Mũi Né, Bình Thuận, hóa ra của cải của cả dân tộc đã biến thành tài sản tư, tài sản của một vài ông chủ.

Vấn đề sở hữu toàn dân hay sở hữu quốc gia, cách thức nào để dân thực sự được làm chủ đối với tài nguyên của đất nước, không để tình trạng được những nhóm lợi ích kiểm soát tài nguyên, thao túng chính sách như hiện nay…. Đó là những vấn đề cấp thiết, cần tiếp tục được thảo luận sâu, kĩ.

Thật khó tưởng tượng là ngay cả kênh nước thải cũng bán luôn cho tư nhân. Ở Hà Nội, có những nơi như trên đường Phan Kế Bính, tư nhân mua những đoạn kênh thoát nước rồi đổ bê tông lên phía trên, sau đó cho người khác thuê lại làm mặt bằng kinh doanh. Nếu kể ra hết thì đây thực sự là một cuộc chuyển đổi từ của công sang của tư với quy mô khổng lồ chính vì sở hữu không rõ ràng.

Khác với sở hữu toàn dân, khi xác lập sở hữu quốc gia thì chúng ta minh định được tài sản ấy là của dân tộc, có tính kế thừa từ thế hệ này đến thế hệ khác, tức là mang tính trường tồn và khi muốn sử dụng tài sản ấy thì phải có thái độ đối với các thế hệ.

Trong sở hữu quốc gia, chúng tôi chia thành hai loại. Loại thứ nhất, ví dụ như bờ biển, thuộc sở hữu của chính quyền trung ương. Loại thứ hai, những tài sản thuộc sở hữu của chính quyền địa phương, ví dụ: nhà máy thoát nước, kênh rạch, trụ sở của các sở…

Chúng tôi xin lưu ý, mục đích xác lập sở hữu quốc gia ở đây không phải để thay đổi hình thức sở hữu mà mục đích là làm rõ ai là chủ của khối tài sản.

Tài sản của dân thì dân phải quản!

Vậy ai sẽ quản lý những khối tài sản ấy?

– Đã là của dân thì dân phải quản! Nhưng quản thông qua đại diện, tốt nhất là một ủy ban quản lý công sản độc lập, chuyên nghiệp, tương tự như quỹ tín thác vậy. Tổ chức này được giao nhiệm vụ quản lý công sản và chịu trách nhiệm trước cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân). Đây là mô hình không do chúng tôi tự nghĩ ra mà thực tế đã có ở Trung Quốc, Úc, Singapore…
Mục đích xác lập sở hữu quốc gia ở đây không phải để thay đổi hình thức sở hữu mà mục đích là làm rõ ai là chủ của khối tài sản.
Lúc này, vai trò của Chính phủ với tài sản quốc gia sẽ như thế nào?

– Chính phủ sẽ mất vai trò như là tổng quản đối với khối tài sản công. Chính phủ không được tùy tiện vì tài sản này là của toàn dân. Chính phủ là những nhà chính trị nên họ luôn luôn muốn đầu tư để có lợi cho các cử tri của họ nhằm được tái bổ nhiệm. Để tránh hiện tượng đó, phải tách khối tài sản đó ra khỏi Chính phủ.

Đương nhiên, Chính phủ có quyền đề xuất. Ví dụ, chúng tôi cần từng này tiền để mua tàu ngầm. Đề xuất của Chính phủ sẽ được trình cho cơ quan dân cử và có thể được chấp nhận. Như vậy, không ai cấm Chính phủ không được quyền sử dụng tài sản công nhưng quy trình sử dụng đó phải được minh bạch và thông qua cơ quan dân cử.

Tách quản lý hành chính ra khỏi kinh doanh

– Quay lại trường hợp bán trụ sở 48 Hàng Bài. Liệu Chính phủ hay một cơ quan nào đó của chính quyền có tài sản riêng của mình và có quyền bán tài sản đó hay không?

– Nhiều quốc gia, họ quy định thế này: một sở không phải là một pháp nhân, chính quyền thành phố mới là một pháp nhân. Do đó, sở không có quyền bán trụ sở của mình cho người khác vì tài sản ấy là của chính quyền thành phố. Muốn bán thì phải báo cáo, xin phép cơ quan quản lý công sản thành phố và cũng chỉ có cơ quan này mới được quyền bán. Tương tự, một bộ hay bất kỳ một cơ quan nào khi đụng chạm đến tài sản công cũng buộc phải hành xử như vậy.

Nhà nước hiện đang nắm giữ một khối tài sản khổng lồ là vốn đầu tư trong các doanh nghiệp nhà nước. Xử lý khối tài sản này ra sao?

– Đảng đã từng chỉ đạo tách quản lý hành chính ra khỏi kinh doanh. Tuy nhiên đây là việc vô cùng khó. Như một bộ có 200 doanh nghiệp thì phần phúc lợi nộp lại cho bộ cũng đủ giúp cho nhân viên của bộ tiền ăn trưa. Nay cúp cái đó đi thì anh em họ không có tiền ăn trưa nữa cũng là phiền toái rồi.

Ý tôi muốn nói rằng 20 năm vừa rồi không thể tách được vì các lợi ích giằng xé, đan xen nhau. Nhưng chúng ta không thể để duy trì tình trạng này mãi. Kinh doanh không ra hồn mà làm chính sách cũng chẳng ra hồn. Một bộ như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tới 250 doanh nghiệp thì chỉ riêng việc trình báo cáo kế hoạch, dự án, nhân lực… đã hết hơi rồi.

Quay lại đề xuất của chúng tôi. Đó là phải thiết lập một thiết chế công quản nằm ngoài Chính phủ, khối tài sản này do Quốc hội, các hội đồng nhân dân kiểm soát. Vốn đầu tư trong các doanh nghiệp nhà nước cũng không nằm ngoài phạm vi quản lý này. Khi đó, Quốc hội sẽ đưa ra các yêu cầu để sử dụng nguồn vốn đầu tư hiệu quả.

Tuy nhiên, hiệu quả ở đây không có nghĩa là nhất thiết phải có lãi mà phải theo yêu cầu của cử tri. Ví dụ in sách giáo khoa thì phải cung cấp đủ cho học sinh ở tất cả các nơi, hoặc kinh doanh điện thì phải kéo được về nông thôn… Nghĩa là có thể phải bù lỗ. Về lâu dài, Nhà nước cũng chỉ nên đầu tư vào một số lĩnh vực tối cần thiết như cơ sở hạ tầng, điều phối sân bay, định chuẩn, an toàn hàng hải… Còn những lĩnh vực mà tư nhân người ta làm rồi Nhà nước không nên cạnh tranh. Ví dụ như may mặc.
(*)Tiêu đề và tiêu đề phụ do Tuần Việt Nam đặt lại
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http:/tuanvietnam.net/2010-09-08-chinh-phu-nen-tu-bo-vai-tong-quan-voi-tai-san-cong

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: