Hoàngquang’s Blog

18/09/2010

Chùm bài về phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long

Filed under: Chính trị- xã hội,văn học- nghệ thuật — hoangquang @ 4:34 sáng
Tags: ,

Hà Văn Thịnh – Quỳnh Trang – Sông Thao -Thiên Sơn- Đoan Trang- Song Chi.

Quy đến cùng, tội này vẫn là ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính, mà trong đó Hội Khoa học Lịch sử cũng không phải là vô can.
Đã có ý kiến nhận xét từ lâu rồi, rằng: CHỖ YẾU KÉM NHẤT CỦA NGÀNH VĂN HÓA LÀ TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA. Bộ phim này đã phản ánh gần hết cái yếu kém đó. Thật lạ! Những người có trách nhiệm trong chính quyền, đặc biệt là những người phụ trách ngành văn hóa sao không thấy bị sỉ nhục nhỉ? Từ cách đây trên 10 năm, khi người ta dựng tượng Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh thì dư luận đã bất bình rồi. Dạo đó báo chí đã phản ứng liên tục, đến bọn trẻ con chơi bi chơi đáo ở quanh đó vừa thoạt nhìn thấy chiếc mũ bình thiên đã gọi ngay đó là Tần Thủy Hoàng rồi, cần chi lời bình luận của người lớn. Vậy mà các quan phụ mẫu của người lớn vẫn không mảy may rung động. Sau đó ít lâu, người ta còn định xây Đền thờ Lý Thái Tổ ở ngay sau lưng bức tượng cho thành một quần thể kiến trúc cổ!!! Thật hãi hùng.
Còn nói về cụm từ “Giao lưu văn hóa” hay “Học tập kinh nghiệm nước ngoài” thì các vị quan chức này đã khiến chúng ta thất vọng. Thất vọng thực sự. Thời kỳ còn là sinh viên Kiến trúc ở Thượng Hải, trong chương trình học thiết kế trường quay phim, nhà hát, chúng tôi đã từng đến các trường quay để xem người ta dùng một không gian nhỏ, để bố cục một cảnh quay lớn, ví dụ làm cách nào để các cô tiên có thể lả lướt đi trên mây? Hay làm cách nào để có một chiến hạm có thể cưỡi sóng giữa biển khơi? Đó là những kỹ xảo mà nền điện ảnh đã có trên 50 năm tuổi của chúng ta đáng lẽ ra phải học được từ lâu rồi. Còn cái trò áo mũ cân đai, phông màn, dáng dấp, cử chỉ… sao chép “y chang Trung Hoa” như cái bộ phim này thì thật hết chỗ nói. Ông Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Phạm Quang Long đâu rồi nhỉ? Hai năm trước ông Long từ chối không ký hợp đồng làm bộ phim này với những câu phát biểu rất chí lý và chúng tôi đã rất hoan nghênh ông. Vậy hôm nay ông Long hay ông nào đã chịu thua áp lực của sức mạnh Trung Hoa “NHANH NHIỀU TỐT RẺ” vậy? Trên ông Long còn có bà Hằng Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Còn ông Bộ trưởng Bộ VHTTDLTT và ông nào nữa, các ông bà đã “vén tay áo xô đốt nhà táng giấy” rồi đó. Di hại của việc này không chỉ là con số 100, 200 hoặc 300 tỷ đồng, mà là quốc thể, truyền thống dân tộc… và còn nhiều thứ nữa.
Tôi nhận xét tội của ngành giáo dục và Hội Khoa học Lịch sử chính ở chỗ những con người tôi vừa nói tới ở trên kém quá, chưa được giáo dục tử tế và chẳng hiểu gì về Lịch sử dân tộc hết.
KTS Trần Thanh Vân
BVN xin nói thêm: Đây không phải là bộ phim dựa trên kịch bản đầu tiên – một kịch bản nói chung là nghiêm túc tuy có những mặt cần được bổ sung chỉnh sửa – có đưa các chuyên gia góp ý kỹ lưỡng, và về sau đã dừng lại, không tiếp tục đưa vào sản xuất. Còn đây là một kịch bản phim viết vội, một loại “võ hiệp kỳ tình” không nhân danh Nhà nước mà nhân danh cá nhân đầu tư, trong đó, theo nhiều thông tin, Trung Quốc có tài trợ 50 tỷ. Chưa nói về chuyện vì sao TQ lại hào phóng tài trợ cho bộ phim một khoản lớn như thế, nó đóng vai trò “bẻ ghi” khiến cho một bộ phim nhằm kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long đã bắt buộc phải chuyển đổi thành một thứ phim cổ trang Trung Quốc. Ngay lúc mới xong kịch bản, là một trong những người được mời đọc góp ý, GS Nguyễn Huệ Chi đã viết 8 trang phê phán những ý tưởng làm hỏng cốt cách của một Lý Công Uẩn trong phim so với một Lý Công Uẩn với vai trò lịch sử có thật ngoài đời. Lý Công Uẩn xuất hiện trong trong phim Lý Công Uẩn – Đường đến Thăng Long chỉ là một nhân vật bị động đối phó với các bộ tộc thiểu số đến tận Hoa Lư để ám hại mình theo lời xúi giục của đám quần thần nhà Tiền Lê lúc bấy giờ, trong khi đó Lý Công Uẩn của lịch sử là một tầm vóc lớn, người đem tư tưởng khoan hòa bao dung gắn kết cả dân tộc lại nhằm xây dựng một quốc gia lâu dài theo hướng mở chứ không đóng, mà hành vi mở đầu cụ thể của sự nghiệp to lớn đó chính là việc ông chọn định đô tại Thăng Long. Theo Nguyễn Huệ Chi, chỉ nhìn từ kịch bản không thôi, bộ phim đã không đứng được. Những ý kiến này ông đã từng có dịp trình bày ở Hội đồng Lý luận Trung ương trong một lần Hội đồng ấy về làm việc với Viện Văn học. Nghe ông Phùng Hữu Phú nói những lời rất thành tâm, những tưởng ông ta sẽ lắng nghe tiếng nói của lẽ phải, nào có ngờ đâu đến cơ sự hôm nay. Nếu bộ phim vẫn được sửa lại phần trang phục để trình chiếu, độc giả sẽ có cơ hội được thấy một Lý Công Uẩn như một gã hiệp khách si tình thời thượng, đưa ra mọi quyết sách đều tùy hứng chứ không phải xuất phát từ chỗ đứng của một vị vua đang xây dựng cơ nghiệp đế vương. Và cũng vì tùy hứng, ông ta đã mất cảnh giác đến nỗi ba lần suýt bị hãm hại: một lần trong chuyến vi hành ra Đại La, vì cứu một cô gái bất ngờ làm cho mình “rung cảm”, Lý đã rơi vào tấm lưới của viên Tổng trấn Đại La phục sẵn, đành nằm co quắp trong lưới để kẻ địch đưa ra pháp trường, phải nhờ Đào Cam Mộc và Vạn Hạnh đem quân đến cứu mới thoát, và hai lần ngay nơi cung cấm của mình, Lý uống phải nước pha độc dược của đám triều thần nhà Lê cũ, may được “người mình cảm” dùng thuốc giải độc cứu nguy, nhưng liền sau đó lại suýt trúng mũi tên độc của viên tù trưởng đem quân đến vây hãm cung đình nếu không có “người mình cảm” đem thân ra hứng lấy để chết thay cho mình (điều kỳ lạ là giữa tình thế nước sôi lửa bỏng khiến trung thần ai cũng lo lắng thót tim, Lý lại chủ quan điều hai vị tướng giỏi nhất từ Hoa Lư vào Nghệ An mà không rõ lý do vì sao lại điều binh khiển tướng kỳ cục vậy). Trong trường hợp kịch bản vẫn giữ nguyên như khi nó được đưa cho một số người góp ý, người xem phim chắc chắn sẽ nêu câu hỏi: có phải tác giả bộ phim định giễu cợt lịch sử dân tộc, làm trò cho ngày kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thêm mùi mẫn hay không?
Bauxite Việt Nam
*
Lý Công Uẩn – Đường tới thành Khai Phong (!?)

Hà Văn Thịnh Đại học Khoa học Huế
Đọc, xem rồi “nghe” phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long mà rầu thúi cả ruột (muốn biết một cách chính thống thì xem Vietnamnet, 13.9.2010). Chao ôi là cuộc đời khi ta làm phim để kỷ niệm 1.000 năm thủ đô của ta mà lại nhờ người, giống như người, học theo người tệ hại đến như thế! Nếu chiếu bộ phim này, ắt phải đổi tên như tiêu đề bài viết bởi nó chẳng khác gì bối cảnh, trang phục, đạo cụ, nhân vật và tính cách của một bộ phim làm về thời… Bắc Tống!
Cách đây mấy tháng, tôi có viết một bài nhan đề: “Cái thiếu nhất của lãnh đạo ngành văn hóa Hà Nội chính là… văn hóa”. Bây giờ nghĩ lại, giật mình và phải nói thẳng ra rằng cái thiếu nhất của lãnh đạo ngành văn hóa – cụ thể là Bộ VH – TT – DL là tư duy chính trị, cảm nhận thẩm mỹ, hiểu biết và cả lòng yêu nước!
Tại sao dư luận đã cảnh báo từ rất lâu rồi mà vẫn cứ cắm đầu cắm cổ làm phim Tàu để diễn cảnh ta? Tại sao một bộ phim được “sinh ra” trong thời khắc trọng đại như thế, phục vụ một mục tiêu chính trị – văn hóa lớn như thế mà những người có trách nhiệm lại chỉ coi nó có ý nghĩa ngang với việc kiếm tiền để nhét đầy túi tham bất kể vận mạng dân tộc, lịch sử, giống nòi? Đến bây giờ mới bàn chuyện cắt bớt, hoặc sửa, hoặc quay lại toàn bộ thì đã quá trễ. Cái cơ bản bây giờ là phải mổ xẻ, phanh phui cho rốt ráo những câu hỏi tại sao.
Tại sao và do ai mà phim Lý Công Uẩn phải mượn (thuê) toàn bộ cảnh trí của người? Chẳng lẽ đất nước Việt Nam “xanh muôn ngàn cây lá khác nhau” (Thép Mới) đã trở nên xấu xí, tệ hại đến mức không còn cái cảnh nào cho ra hồn để làm nền cho phim? Chẳng lẽ đạo diễn và những người làm phim không biết rằng mục tiêu tối thượng, muôn đời của người ta là tìm mọi cách để chứng minh văn hoá Việt, dân tộc Việt là một phần không thể tách rời của văn minh phương Bắc? Chẳng lẽ trang phục, người ngựa thời Lý Công Uẩn sang trọng và màu mè như thế lại có thể phản ánh chân xác tính chất, đặc điểm của xã hội nước ta thời gian khó khốn cùng?…
Rất, rất nhiều câu hỏi đặt ra nhưng tôi vẫn không thể hiểu nổi tại sao lại thế? Đến nước này mà ông Bộ trưởng phụ trách ngành văn hóa không từ chức thì tôi xin gửi thư đến Guinness đề nghị trao cho ông bằng chứng nhận người có da mặt dày nhất thế giới!
Phim Lý Công Uẩn… dứt khoát là bộ phim đã thóa mạ, sỉ nhục dân tộc nặng nề. Hơn thế nữa, nó đã bộc lộ mưu toan (của “các thế lực thù địch”?) muốn hòa tan văn hoá Việt, hồn Việt trong cái mớ đen ngòm của chủ nghĩa bành trướng thối tha. Tại sao các đồng chí an ninh văn hóa không vào cuộc để trả lời cho 88 triệu người dân biết kẻ nào, do ai, từ đâu đã chà đạp lên cả đất nước, cội nguồn như thế? Nói thật nếu lâu nay tôi có bị một số “cán bộ” cho là “phản động” vì nói và viết toàn sự thật thì so với những người chịu trách nhiệm về bộ phim này thì tôi còn cách mạng gấp cả vạn lần. Đó là chưa nói chuyện hàng trăm tỷ đồng tiền dân, của nước tới đây ai sẽ phải bồi thường? Chẳng lẽ sự ngu xuẩn, dốt nát cứ muôn đời được rút kinh nghiệm tưng bừng và được vỗ vai hứa hẹn chờ cất nhắc thêm nữa sao?
Giết một người chỉ mới cướp đi một cuộc đời. Nhưng tàn sát cả danh dự của cả giống nỏi thì đã phạm tội hủy hoại niềm tin, trái tim và trí tuệ của hàng triệu con người. Đây nhất thiết phải được coi là tội ác. Và, một khi nó đã là tội ác thì không thể không bị trừng phạt một cách cụ thể, rõ ràng!
Huế, 14.9.2010.
H. V. T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
**
Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long: “Phim Trung nói tiếng Việt”!
Nhà thơ Đỗ Trung Quân có nhận xét vừa dí dỏm vừa cay đắng như vậy…
Vừa qua, Pháp Luật TP.HCM đã có bài viết đề cập đến việc hoãn phát sóng phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long do 19 tập của bộ phim này mang đầy yếu tố Trung Hoa. Hội đồng Duyệt phim Quốc gia đã yêu cầu đoàn làm phim phải lược bỏ bớt những bối cảnh đậm chất Trung Hoa này và chỉ được phát sóng sau khi đã sửa chữa xong theo yêu cầu.
Sau khi báo đăng, Pháp Luật TP.HCM nhận được rất nhiều ý kiến phản hồi từ bạn đọc cũng như ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu. Chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc.

Trên tay áo vua Lý Huệ Tông, các khúc uốn duệch doạc theo hình chữ U. Ảnh: NHK

TS NGUYỄN NHÃ:
Nhận thức của nhà làm phim quá kém!
Nhận thức và ý thức về lịch sử, văn hóa Việt Nam của những nhà làm phim quá kém. Trong thời điểm khi quan hệ biển Đông và các vấn đề ngoại giao Việt-Trung đang còn nhiều thách thức mà lại dựng phim về lịch sử Việt Nam với bối cảnh, nhân vật, phục trang giống phim Trung Quốc thì nguy cơ mất gốc văn hóa và mất nước khi nào không hay.
Nhận thức của người làm phim đi ngược lại lịch sử của ông cha. Trong thời điểm hiện nay, mỗi người đều phải kiên quyết không chấp nhận cho một bộ phim như vậy được công chiếu.

Nhà thơ ĐỖ TRUNG QUÂN:
Không thể xúc phạm tiền nhân
Tôi không phải là người cực đoan để phủ nhận toàn bộ nền điện ảnh Trung Quốc. Tôi từng giới thiệu đến bạn bè những bộ phim hay của Trung Quốc như Aftershock (Dư chấn) của đạo

diễn Phùng Tiểu Cương… Nhưng tôi không ngại gay gắt phê phán việc dựng một bộ phim lịch sử Việt Nam mà lại nhuốm màu sắc Trung Hoa. Trung Hoa từ đạo diễn, diễn viên, bối cảnh… Nên chăng chúng ta hỏi nhà sản xuất sao lại yêu Trung Hoa đến thế?
Tôi nói rằng Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long là “phim Trung Quốc nói tiếng Việt” hoặc “phim Trung Quốc không cần phụ đề”. Dù là phim tư nhân bỏ tiền đầu tư vẫn không thể cho phép xúc phạm tiền nhân như vậy!

TS NGUYỄN HỒNG KIÊN:
Không thể làm phim lịch sử bằng bối cảnh nước khác

Rồng thời Lý có các khúc uốn “thắt túi” như các chữ C nối tiếp nhau, vuốt nhỏ dần về đuôi.


Tôi cực kỳ lo lắng về bản sắc dân tộc của các phim chào mừng 1.000 năm Thăng Long đã và sẽ quay ở Trung Quốc. Hoặc sẽ chẳng khác gì các phim chưởng rẻ tiền. Hoặc sẽ chẳng thể ra chất Việt.
Điện ảnh Việt Nam, những người quản lý ngành văn hóa Việt Nam đã và đang làm một việc “vô tiền khoáng hậu”: Làm phim về lịch sử dân tộc mình bằng những bối cảnh của đất nước khác. Mà quốc gia ấy, trong thời ấy và ngay cả bây giờ không bao giờ muốn chúng ta bảo tồn được bản sắc của mình.
Nguy hiểm nhất là những sự bịa đặt, vay mượn trang phục và kiến trúc Tàu này sẽ được các thế hệ sau coi là bản sắc dân tộc Việt.
Đau đớn là việc “tự chuyển hóa” này đang được thực hiện một cách chủ động.
Tôi muốn hỏi những người đã tham gia làm và muốn công chiếu bộ phim này: Các vị có bao giờ vào hùa với anh bạn hàng xóm chửi ông bà mình? Tôi chắc chắn người Trung Quốc hám tiền nhất cũng không làm điều đó.
Vậy nên đừng nói về bản sắc Việt ở bộ phim Tàu này (- trích từ blog Gốc Sậy).

QUỲNH TRANG ghi
Nguồn: http://phapluattp.vn/2010091412152033p1021c1083/ly-cong-uan–duong-toi-thanh-thang-long-phim-trung-noi-tieng-viet.htm

Phim “Lý Công Uẩn” và bài học 100 tỷ đồng
(Dân Việt) – Bài học 100 tỷ đồng cho bộ phim “mang yếu tố Trung Hoa” là quá đắt! Chắc chắn rồi sẽ có cuộc giải phẫu xem ai là người chịu trách nhiệm về cuộc thua thiệt cả thể xác lẫn linh hồn này.
Mấy ngày nay dư luận báo viết, báo mạng và blog đều loan tin Hội đồng duyệt phim quốc gia sau khi xem 19 tập phim “Lý Công Uẩn – Đường tới Thăng Long” cho rằng “bộ phim mang đầy yếu tố Trung Hoa và yêu cầu đoàn làm phim phải lược bỏ bớt những bối cảnh đậm chất Trung Hoa trong phim. Bộ phim chỉ được phát sóng sau khi đã sửa chữa xong theo yêu cầu của Hội đồng”.
Sửa một bộ phim 19 tập “mang yếu tố Trung Hoa” thành “mang bản sắc văn hóa Việt Nam” có thể nói là chuyện hầu như không thể. Cũng như chuyện có thể sửa mũi, nâng ngực ai đó nhưng không thể thay linh hồn của một con người.
Đây là kết cục tất yếu của một lối suy nghĩ, một lối làm ăn coi trọng kinh doanh, tiền bạc… trừ văn hóa! Vì suy nghĩ như thế mà khi đầu tư vào phim để dâng lên ban thờ cha ông ngày Đại lễ ngàn năm, người ta đã không ngần ngại chấp nhận yếu tố “Trung Quốc” từ kịch bản, diễn viên đến trường quay!.
Có báo cho biết: “Đơn vị sản xuất đã rất chú trọng đến điểm đặc biệt của phim là thuê êkíp Trung Quốc sản xuất, từ đạo diễn, hóa trang, phục trang đến trường quay. Như đạo diễn Cận Đức Mậu (đạo diễn của phim truyền hình “Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên”); kịch bản do ông Trịnh Văn Sơn – Giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Trường Thành chấp bút và được nhà biên kịch của Trung Quốc là Kha Chung Hòa đảm trách. Gần 700 bộ trang phục cổ cũng được may từ Trung Quốc, thuê cả trường quay Hoành Điếm của Trung Quốc và hàng trăm diễn viên quần chúng cũng Trung Quốc”.
Đại lễ một nghìn năm là thiêng liêng, là quan trọng, là cơ hội hiếm hoi để toàn dân tộc Đại Việt – Việt Nam ngẩng cao đầu tự hào về truyến thống dựng nước và giữ nước. Nhìn lại quá khứ là để thấy rõ hơn tương lai. Ngày kỷ niệm của quốc gia hay đơn giản chỉ là ngày giỗ ông bà, con cái có gì “biện” nấy, không phải cỗ cao ba lớp mới là hiếu tử. Đó là truyền thống văn hóa dân tộc. Cha ông một thương hai khó từng dặn dò con nhà nghèo chúng ta là hãy “liệu cơm gắp mắm” đó sao?
Bài học 100 tỷ đồng cho bộ phim “mang yếu tố Trung Hoa” là quá đắt! Chắc chắn rồi sẽ có cuộc giải phẫu xem ai là người chịu trách nhiệm về cuộc thua thiệt cả thể xác lẫn linh hồn này. Nhưng điều quan trọng là những người có trách nhiệm hãy lắng nghe nhân dân. Đó là, chẳng thà không có phim kỷ niệm để xem còn hơn là chiếu một bộ phim như thế lên màn ảnh.
Sông Thao
Nguồn: http://danviet.vn/14256p1c30/phim-ly-cong-uan-va-bai-hoc-100-ty-dong.htm
***
Đoan Trang
BÀI 1: Kiến trúc nguy nga, trang phục lộng lẫy kiểu… Tàu
Sau khi Pháp luật TP.HCM đăng bài phản ánh về việc phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” mang đậm yếu tố Trung Hoa, độc giả Trần Hùng Phương đã có phản hồi (trích): “… rất cảm ơn các nhà sử học đã nghiên cứu rất nhiều về lịch sử Việt Nam. Nhưng các ông có thể nào ngồi lại cùng nhau cho chúng tôi biết rằng lịch sử Việt Nam là như thế nào không? Các ông ngồi đó mà bàn cãi với nhau việc này, việc nọ thì các nhà làm phim sao mà dám làm nhiều về phim cổ trang?…” .

Nhiều khán giả của phim cũng băn khoăn, vậy nếu phim mang đậm chất Việt, thì chất Việt phải như thế nào? Đi xa hơn nữa, trường hợp của “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” đặt ra vấn đề: Cần làm phim lịch sử ở Việt Nam ra sao để không cho ra những sản phẩm vừa tốn kém vừa bị phản ứng kịch liệt như thế này.

“Đường tới thành Thăng Long” quá nguy nga

Ấn tượng nổi bật từ những hình ảnh của phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” (mà những đoạn hấp dẫn nhất hoặc đặc trưng nhất đã được đưa vào trailer quảng cáo) là sự hoành tráng của bối cảnh và sự ấm áp, rực rỡ của trang phục Việt giai đoạn Đinh – Tiền Lê – Lý (từ năm 980 khi Lê Hoàn lên ngôi đến năm 1010 Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long).

Nói về bối cảnh, cung điện trong phim có tòa tới 2-3 tầng, lợp ngói sắc xanh xám. Thế mà, theo mô tả trong những tư liệu sớm nhất của người phương Tây về Thăng Long (thế kỷ 17), hầu hết nhà ở kinh thành thời đó là nhà tranh nứa lá, mái rạ. Giáo sĩ Baldinotti viết năm 1686: “Vì nhà bằng tre nứa nên Thăng Long hay bị hỏa hoạn, có lần thiêu rụi tới năm, sáu nghìn nóc nhà, song nhờ Kẻ Chợ vốn có nhiều hồ ao nên dập tắt lửa dễ dàng và chỉ bốn, năm hôm sau, nhà cửa lại dựng lên san sát như cũ”. Cho tới thế kỷ 19, nhà cửa trên các phố ở Hà Nội vẫn chủ yếu bằng tre nứa lá (xem ảnh) và chỉ có một tầng, không ngói.

Không có sử liệu về kiến trúc thời Lê Hoàn – Lý Công Uẩn, song các nhà làm phim hoàn toàn có thể suy luận rằng vào thế kỷ 10-11, kỹ thuật xây dựng của nước ta rất khó tạo ra được những tòa nhà gạch 2-3 tầng lợp ngói. Ngay cả đình, chùa bằng gỗ cũng chỉ có một tầng trên mặt đất và một gác chuông trên “tầng” hai. Về mái ngói, mãi tới cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn, nước ta mới có ngói lợp tráng men (và kỹ thuật tráng men này đã là một bước tiến rất lớn của nghề gốm). Theo ông Phạm Hoàng Quân, chuyên gia cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, do tráng men óng ánh nên nó được gọi là ngói lưu ly. Một số công trình ở kinh thành Huế thời Nguyễn đã được lợp thứ ngói rất xa xỉ này. Có hai loại ngói chính là thanh lưu ly (màu xanh) và hoàng lưu ly (màu vàng).

Vậy phải “phục dựng” khung cảnh thế kỷ 10-11 ra sao? Họa sĩ Tú Ân, một người từng bỏ nhiều năm tìm hiểu kiến trúc, trang phục cổ Việt Nam để minh họa truyện tranh, suy đoán rằng nhà cửa của dân ngày ấy là nhà tranh vách đất, mái rạ, còn “đình, chùa và cung điện có thể xây bằng gỗ, rừng Việt Nam ngày ấy chắc còn nhiều gỗ quý”, hoặc gạch (kỹ thuật làm gạch của người Trung Quốc đã được lưu truyền sang Việt Nam từ thời Bắc thuộc). Điều chắc chắn là ở vào thời Đinh – Tiền Lê – Lý, cung điện, nhà cửa của Việt Nam chưa thể lợp ngói xanh, cao tới 2-3 tầng như vậy.

Chưa kể, địa thế Hoa Lư thời ấy nhỏ hẹp với đồi núi, sông ngòi, Thăng Long cũng vẫn còn là đất trũng, nhiều ao tù, không thể xây dựng trên đó những cung điện nguy nga, hoành tráng như bộ phim đã mô tả. Ngay cả ở châu Âu, nơi vốn được xem là tiến nhanh hơn châu Á về cấp độ văn minh, các công trình lớn cũng phải trải qua vài trăm năm mới hình thành.

… và quá lộng lẫy

Về phục trang, điều gây ấn tượng là sự ấm áp, dày dặn và màu sắc rực rỡ của trang phục trong phim “Lý Công Uẩn”. Các chuyên gia lịch sử thời trang Việt, nếu được hỏi ý kiến, đều sẽ cho biết rằng ngành may mặc của Việt Nam đã phải trải qua “một chặng đường tiến hóa” dài đến mức nào, từ chất liệu tới kỹ thuật. Buổi đầu phát triển, chất liệu của chúng ta đã chỉ là vải thô, dệt rất thưa (do kỹ thuật dệt còn kém), với những màu nhuộm đơn giản: đen, nâu, chàm, tím…, sử dụng những nguyên liệu tạo màu dễ kiếm như vỏ cây, rễ cây, hoa lá…

Đập vào mắt khán giả là những chiếc mũ đội đầu có “mái che” rất giống mũ của… Tần Thủy Hoàng. Các nhà làm phim lập luận rằng vua nước ta rập khuôn trang phục của hoàng đế Trung Hoa. Tuy nhiên, theo ông Phạm Hoàng Quân, rất khó có khả năng Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ “bệ nguyên” mũ của vua Trung Quốc: “Triều đình Trung Hoa không khi nào chịu cho vua một nước “đàn em” mặc vương phục và đội mũ y hệt vua của họ, vì với họ, mũ mão của hoàng đế là để thể hiện uy quyền của “thiên tử”. Vua nước ta có muốn sử dụng theo cũng phải chế lại”.

Bà Đoàn Thị Tình, họa sĩ thiết kế chính của phim, cho biết bà đã tham khảo nhiều sử liệu, trong đó có Lịch triều Hiến chương Loại chí (Phan Huy Chú) để thiết kế phục trang. Nhưng nếu theo đúng sách này, thì ở mục “Quy chế về mũ áo của đế vương” (thuộc phần Lễ nghi chí) có chép:

“Lê Đại Hành lên ngôi, mặc áo long cổn, về sau mặc áo phần nhiều dùng vóc đỏ, mũ sức trân châu.
Lý Thái Tông mới chế thứ mũ gọi là ‘bát giác tiêu dao’ bằng vàng (tên mũ, lối mũ ấy nay không khảo cứu được).
Lời xét của Phan Huy Chú:
Từ đời Lý, đời Trần trở về trước, mũ áo của vua thế nào, không thể khảo cứu được. Xem trong sử có hai thứ kể trên, tạm chép ra đây để biết đại khái”. (bản dịch của Viện Sử học)

Điều đó có nghĩa là mũ của vua Lê, vua Lý Thái Tổ thế nào, Phan Huy Chú cũng không biết được, nhưng khả năng “bệ nguyên xi” chiếc mũ “Tần Thủy Hoàng” của Trung Quốc là rất thấp.

Cũng sách của Phan Huy Chú chép, phần về phẩm phục của các quan: “Lý Thánh Tông năm Chương Thánh thứ nhất (1059), vua ngự điện Thủy Tinh, các quan đến chầu, bắt phải đội mũ đi hia mới cho vào chầu. Nghi lễ vào chầu đủ cả mũ hia bắt đầu từ đó”. Chính vị sử gia đã có lời xét về phẩm phục các quan trước đó rằng như thế “đủ thấy là sơ sài”.

Một chi tiết nữa là những họa tiết thêu trên áo vua quan, hoàng hậu. Nếu thừa nhận ông tổ nghề thêu ở Việt Nam là Lê Công Hành, đi sứ sang Trung Quốc vào đời Lê Thái Tông (trị vì từ 1433-1442) thì ta phải thấy rằng vào thời Tiền Lê – Lý Công Uẩn, áo xống của người triều đình chưa thể thêu thùa lộng lẫy như thế.

Các họa sĩ thiết kế và cố vấn mỹ thuật của phim đều chưa bình luận về màu sắc vải vóc cũng như chiếc mũ của vua trong phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”.

Đoan Trang

***********

Yên Thảo ghi lại lời GS.TS Đoàn Thị Tình, người tư vấn phục trang cho phim:

“Tôi tự hào về những trang phục trong phim”

Tôi không ngạc nhiên khi khán giả phản ứng trang phục trong phim giống Trung Hoa quá. Thứ nhất, trước nay chúng ta chưa có bộ phim cổ trang nào về giai đoạn lịch sử này. Thứ hai, khán giả đã xem quá nhiều phim Trung Quốc và chỉ mới xem qua trailer nên cảm giác thấy giống là khó tránh khỏi.

Tuy nhiên, tôi xin khẳng định, toàn bộ trang phục trong phim là dựa trên chính sử “Đại Việt Sử ký Toàn thư”, “Lịch triều Hiến chương Loại chí”… đến các tác phẩm mỹ thuật, điêu khắc như tượng, phù điêu… còn hiện hữu ở bảo tàng và nhiều di tích đình, chùa… chứ không phải chúng tôi tự vẽ ra. Đặc biệt, khi thiết kế trang phục, chúng tôi phải dựa vào các miêu tả của thư tịch cổ và tượng thời Lý tại đình đền và long bào của vua Lý dựa theo tượng vua Lý ở chùa Kiến Sơ (Hà Nội). Còn giáp trụ của tướng lĩnh dựa vào 8 pho tượng Kim Cương tại các chùa ở Bắc Ninh, Hà Nam Chúng ta chịu đô hộ 1000 năm Bắc thuộc, đặc biệt ở các triều đại này chịu sự xâm lược của nhà Tống nên trang phục giống Trung Quốc cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng nó cũng chỉ tương đồng ở kết cấu, còn họa tiết thì đều đã được Việt hóa. Xin nhấn mạnh là giống chứ không phải rập khuôn.

Tôi lấy ví dụ, long bào của vua Tống đính rất nhiều ngọc ngà, châu báu rất lộng lẫy, còn long bào của vua Lý chỉ thêu chìm; giáp phục đời Lý có họa tiết hoa mai, hoa cúc…. mà giáp phục Trung Quốc không có; mũ miện của chúng ta nhỏ, hẹp trong khi mũ miện nhà Tống cánh chuồn dài, cong phía mép; hơn nữa, việc đưa họa tiết hoa sen vào long bào của vua Lý Công Uẩn cũng là minh chứng rất rõ cho văn hóa Việt Nam.

Tôi hoàn toàn tự hào về những trang phục mà tôi đã thiết kế cho bộ phim này.

http://phapluattp.vn/20100915125346433p1021c1083/kien-truc-nguy-nga-trang-phuc-long-lay-kieu-tau.htm

4 nhận xét:

NGUYỄN HỒNG KIÊN. nói…
– Bạn nói: “Về mái ngói, mãi tới cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn, nước ta mới có ngói lợp tráng men (và kỹ thuật tráng men này đã là một bước tiến rất lớn của nghề gốm)” LÀ KHÔNG CHUẨN.
Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều ngói men có niên đại thời Lý, thời Trần ở nhiều nơi.
Bạn có thể đến xem ở khu di tích Hoàng thành Thăng Long 18 Hoàng Diệu.
Ồ quên, bạn đã zô Sài Gòn rồi.

– Về sự tự hào của PTS Tình, bạn có thể lấy tư liệu ở bài Bản sắc dân tộc (3.1) trong blog của tôi. Báo bạn cũng có đăng 2 ảnh hôm rồi.
14:27 Ngày 14 tháng 9 năm 2010

Trang the Ridiculous nói...
Cảm ơn bác Nguyễn Hồng Kiên đã góp ý. Đúng là em không cập nhật thông tin về khu di tích Hoàng Thành Thăng Long nên không biết chi tiết đã phát hiện được ngói tráng men niên đại thời Lý.

Tuy nhiên chắc em sẽ phải “check” lại xem có đúng trong nhiều lớp của di tích khảo cổ này, có di chỉ từ thời Lý không. Với lại, em vẫn rất nghi ngờ những tòa cung điện ba tầng, ba lớp ngói lợp xanh trong phim.

Có lẽ kỹ thuật của ta thời Lý, Trần chỉ dừng ở mức làm được vài viên ngói trang trí, còn kỹ thuật lợp thành mái ngói hàng hàng lớp lớp là chuyện khác.

Có gì xin bác cho ý kiến thêm ạ.

Em cũng còn một kỳ nữa xung quanh bộ phim này, sẽ post để bác đọc và nhận xét.
23:31 Ngày 14 tháng 9 năm 2010

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://trangridiculous.blogspot.com/2010/09/bai-1-lam-phim-lich-su-va-su-phi-logic.html

BÀI 2: Phim lịch sử Việt Nam: Làm sai là di hại cho khán giả
“Chuyện đạo diễn, đồng biên kịch, thợ may, diễn viên quần chúng đều là người Trung Quốc cho thấy một vấn đề không đơn giản. Hiện tượng này chính là một dạng nhập siêu, hàng ngoại bóp chết hàng nội bằng giá cả, lao động và công nghệ; và cuối cùng là nhập siêu văn hóa. Đây là điều phải cảnh báo. Đơn vị phát sóng cần kiểm soát, nếu sản phẩm không đạt yêu cầu về chất lượng thì không thể cho phát, vì khán giả không được xem cũng chẳng chết ai, nhưng nếu xem thì hình dung của chúng ta, nhất là giới trẻ, về quá khứ có thể lệch lạc hết cả, không chữa được”. (một chuyên gia kinh tế ở Hà Nội)

*******

Cái khó lớn của việc làm phim lịch sử Việt Nam, mà ai cũng thừa nhận, là sự thiếu thốn về tư liệu. Do đó, người làm phim, đặc biệt họa sĩ thiết kế, bắt buộc phải tìm tòi các nguồn sử liệu, kết hợp với sự phân tích logic, để đưa ra những giải pháp chấp nhận được. Ở đây, không chỉ cần đến kiến thức về lịch sử các triều đại, mà đòi hỏi một sự hiểu biết tổng hợp cả về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tâm lý dân tộc.

Một nhà kinh tế ở Hà Nội (giấu tên vì không muốn “can thiệp” vào lĩnh vực phim ảnh ngoài chuyên môn) nhận định: “Thời xưa, người Việt chắc chắn thấp bé vì dinh dưỡng thấp. Người Trung Quốc, nhất là khu vực phía bắc, có xu hướng du mục nên chăn nuôi gia súc và ăn thịt nhiều hơn ta, nên đủ dinh dưỡng hơn. Ta cũng có nuôi gia súc nhưng nguồn nông sản cung cấp không đủ. Ngựa ta cũng bé nhỏ chứ không to lớn như ngựa xích thố thế. Thật ra ở một nền kinh tế quy mô nhỏ, đất nước ít thảo nguyên như Việt Nam, thường người làm thay ngựa, nên ít có truyền thống đi xe ngựa mà là người khiêng hoặc kéo, còn đi xa thì dùng đường thủy”.

Như vậy đủ thấy, làm phim lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu liên ngành để có kiến thức rất tổng hợp, và suy luận logic.

Cần đẹp hay cần đúng?

Những đặc điểm của kinh tế – văn hóa Việt Nam, phía các chuyên gia làm phim của Trung Quốc khó mà biết được. Trong một bài trả lời phỏng vấn với tạp chí Hồn Việt, tháng 5 vừa qua, họa sĩ Phan Cẩm Thượng – cố vấn văn hóa của phim “Lý Công Uẩn” – nói rằng: “Các nhà làm phim Trung Quốc quan niệm đã làm phim thì trang phục, bối cảnh, ánh sáng… đều phải đẹp, câu chuyện có tình duyên và diễn xuất diễn viên tốt. (…) Rồi rất nhiều bộ y phục khác cũng vậy, người Trung Quốc muốn dùng màu sắc rực rỡ, nhiều hoa văn, các chất liệu tơ lụa, trong khi bên ta phần nhiều chỉ dùng màu sắc trầm, ít trang trí, và các loại vải bông, gai. Đây là tập tục văn hóa nên hai bên không có cách gì hiểu nhau…”.

Một số nhà quay phim và họa sĩ Việt Nam có tính duy mỹ cũng cho rằng phim lịch sử, cổ trang “cốt đẹp chứ không cốt đúng”, bởi “nếu thiết kế bối cảnh y như thật thì nhếch nhác lắm vì Việt Nam ngày xưa rất nghèo”. Về điểm này, chuyên gia cổ sử Phạm Hoàng Quân nhận định: “Tôi nghĩ làm phim lịch sử thì nên nghiên cứu cẩn thận và căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội của thời đại đó để thể hiện cho phù hợp, ít nhất không gây sốc, gây choáng cho người xem vì độ hoành tráng và… xa lạ của cảnh quan”. Còn họa sĩ Tú Ân thẳng thắn: “Tôi không biết làm phim cổ trang thì cần đẹp với sang tới mức nào, tôi chỉ biết phim kể về Việt Nam, câu chuyện Việt Nam, con người Việt Nam, thì phải ra chất Việt Nam”.

“Chất Việt Nam” là gì? Từ lâu, các chuyên gia nghiên cứu văn hóa như Phan Ngọc, Hữu Ngọc, Trần Ngọc Thêm… đã nói về cái đẹp dung dị, đơn sơ, xinh xắn của những công trình kiến trúc ở Việt Nam, so với sự đồ sộ, quy mô, hoành tráng của Trung Quốc như muốn tỏa “tinh thần bá quyền” ra muôn phương. Làm phim cổ trang như “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”, phim càng thể hiện hoành tráng thì khán giả càng thấy xa lạ. Ông Phạm Hoàng Quân gợi ý: “Nếu không có sử liệu chính xác về kiến trúc cung điện thời ấy, đạo diễn và họa sĩ có thể cho thiết kế nhà cửa thấp, một tầng, lợp ngói thường thôi thay vì lợp ngói lưu ly. Trang phục thì nhuộm màu đơn giản, hết sức tránh rực rỡ nhiều màu sắc”.

Trong quá khứ, chúng ta cũng từng có những bộ phim cổ trang thể hiện được khá “sát thực tế” cái chất nhỏ bé, đơn sơ của văn hóa Việt Nam, ví dụ Học trò thủy thần (1990) của đạo diễn Khánh Dư, một bộ phim đen trắng kể về bậc “vạn thế sư biểu” Chu Văn An và người học trò vốn là con trai vua Thủy tề.

Cẩu thả, vô trách nhiệm, hay bị ép?

Cũng họa sĩ Phan Cẩm Thượng phản ánh: “Ngay từ đầu, tôi phản đối những trang phục đó nhưng tôi chỉ là cố vấn. Người mình thời đó cởi trần đóng khố và chèo thuyền quỳ với 20 tay chèo nhưng bây giờ bắt diễn viên cởi trần đóng khố thì không ai chịu làm thế, kể cả người dân tộc. Trang phục Việt Nam đơn sơ hơn trang phục Trung Quốc nên nếu mặc thế thì diễn viên chết rét…”. Ông còn bảo: “Các phim của họ thường là phim lịch sử cổ trang chứ không phải phim lịch sử hiện thực. Họ nói thẳng, những phim lịch sử Trung Quốc phải nâng lên rất nhiều so với những gì đã diễn ra trong lịch sử”.

Những gì mà các nhà làm phim Trung Quốc “ép” đối tác Việt Nam là có thể hiểu được, nếu chúng ta tìm trở lại chính sách văn hóa của đất nước này. Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh – Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị các đơn vị sản xuất truyền hình trên cả nước. Tại đây, Bộ đưa ra chính sách: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim có mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới. Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng, được hỗ trợ xuất khẩu (cho không hoặc bán giá rẻ) sang các quốc gia trong khu vực. Đồng thời với đó, giới làm phim tiến hành “Trung Hoa hóa” các sản phẩm văn hóa của nước ngoài. Bộ phim “Hà Nội – Hà Nội” chỉ được chiếu ở đài tỉnh Quảng Tây vào đêm khuya, với một generiqué toàn chữ Trung Quốc, khiến khán giả xem khó mà để ý rằng đó là sản phẩm hợp tác với Việt Nam.

Ngay cả việc các nhà làm phim Trung Quốc quan niệm đã làm phim cổ trang “trang phục, bối cảnh, ánh sáng… đều phải đẹp”, “nâng lên rất nhiều” so với lịch sử, cũng phản ánh một phần mục đích tuyên truyền văn hóa của họ. Ngoài ra, như chính ông Phan Cẩm Thượng nói, “với phim tư nhân thì họ xác định phim cần có thị trường và kỷ niệm chỉ là một dịp đưa phim ra thị trường. Các nhà làm phim quan niệm, phim mà không kinh doanh là không được. Phim này làm trên góc độ thị trường chứ không phải chỉ là phim kỷ niệm”.

Với các quan niệm, chính sách và mục đích như vậy, khi sản phẩm làm ra không mang chất Việt Nam thì không phải lỗi của các nhà làm phim Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là vì sao phía Việt Nam chấp nhận “bị ép” như vậy, đối với một bộ phim lớn, được đầu tư tới 108 tỷ đồng và để phát sóng trên đài quốc gia nhân dịp đại lễ?

* Đoan Trang

++++++++

Hoành tráng nhưng không phải hoành tráng kiểu Trung Quốc


“Tôi cũng đã từng được mời tham gia tư vấn phục trang cho bộ phim này, nhưng tôi từ chối vì hai lý do. Thứ nhất, phim lịch sử của Việt Nam thì không thể quay ở Tàu được, mình phải có phim trường đã rồi hãy làm phim lịch sử. Thứ hai, kịch bản có quá nhiều chi tiết sai và thời gian để thực hiện bộ phim là quá ngắn.

Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1000 năm nhưng không đồng hóa được Việt Nam. Phải hiểu cốt lõi của vấn đề là ở chỗ này. Người Trung Quốc muốn tiêu diệt trang phục thì người Việt Nam lại quyết liệt bảo tồn nó, và chính vì vậy mà chúng ta không thể ăn mặc giống Trung Quốc được”.

(Yên Thảo ghi lời họa sĩ Trịnh Quang Vũ, tác giả cuốn “Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến”)

Được đăng bởi Trang the Ridiculous vào lúc 09:00

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://trangridiculous.blogspot.com/2010/09/bai-2-phim-lich-su-viet-nam-lam-sai-la.html

CHUYỆN PHIM LÝ CÔNG UẨN VÀ TRẦN THỦ ĐỘ, BÂY GIỜ MỚI KỂ

Tác giả: THIÊN SƠN
Có những chuyện không thể nào tin nổi trong ngành điên ảnh. Bộ phim chính thức về “Lý Công Uẩn” được hứa hẹn sẽ đầu tư rất lớn và giao cho hãng phim truyện Việt Nam sản xuất đột ngột xảy ra những cuộc tranh luận lớn, rồi sau đó là sự đình chỉ từ phía Hà Nội. Dự án hoàn toàn đổ vỡ gây hụt hẫng cho rất nhiều người và tâm lý bi quan. Ngay lập tức người ta quyết định làm bộ phim về “Trần Thủ Độ”. Và cùng thời điểm đó, người ta bí mật sản xuất phim “Đường tới thành Thăng Long”.
Trong một buổi họp báo ở Bộ văn hóa gần hai năm trước, tôi đã đặt câu hỏi với những người quản lý có trách nhiệm rằng, tại sao chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long những nhân vật lừng danh trong lịch sử như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung không làm, lại làm về Trần Thủ Độ. Ông ấy là người tiêu diệt nhà Lý. Là người hành hạ Lý Chiêu Hoàng đến thế và là người tạo ra những điều luật dẫn đến loạn luân trong thời nhà Trần. Lúc đó, người có trách nhiệm đã trả lời, chúng ta chưa quy hoạch được đề tài và chưa tổ chức tốt hệ thống kịch bản. Phim “Trần Thủ Độ” không phải là phim 1000 năm Thăng Long.
Tôi đã nhiều lần nêu ý kiến qua các bài báo, rằng không nên và không thể tôn vinh Trần Thủ Độ lúc này. Ông ấy có những đóng góp cho lịch sử, và cũng có những lỗi không thể xem thường. Hãy làm ông ấy vào lúc khác và hãy làm một cách công bình, đừng vẽ thêm công, đừng coi thường cái tội phạm vào luân lý. Các ý kiến ấy vì nhiều lý do đã không được đăng báo. Hầu như ở đâu người ta cũng vứt bài của tôi đi.
Đầu tháng 12 năm ngoái, tôi biết bộ phim “Đường tới thành Thăng Long” chuẩn bị khởi quay. Tôi đã đề nghị tòa soạn cho phép in bài. Nhưng rồi đã không có ý kiến đồng thuận. Tôi đã gọi điện cho một đồng nghiệp ở VietNamnet, nhưng họ nói biết rồi.
Các bộ phim quan trọng đó đều có sự liên kết với phía Trung Quốc và rất đậm chất Trung Quốc. Tại sao lại thế? Tại sao Trung Quốc lại đi làm phim cho Việt Nam lúc này?
Bây giờ người ta dấu nhẹm đi chuyện Trung Quốc cùng hợp tác, đồng sản xuất mà chỉ nói đến công ty Trường Thành sản xuất phim “Đường tới thành Thăng Long”. Kịch bản này do ai viết và cài vào đó những chi tiết nào không hay, không đúng cũng chẳng thấy ai làm rõ. Và tại sao nó lại được làm một cách bí mật che dấu hết mọi thông tin? Khi bộ phim khởi quay ở Trường quay Hoành Điếm, chỉ một mẩu tin nhỏ được đăng. Rồi sau đó không lâu, báo chí đưa tin, nó được xếp vào số những tác phẩm phục vụ ngàn năm Thăng Long, nhưng mọi chi tiết đều bị giữ bí mật.
Tôi nói rõ quan điểm: Ta không làm được phim về Lý Công Uẩn thì thôi, không nên để Trung Quốc làm. Như thế có gì bất nhẫn. Khác nào tổ tiên mình không thờ, lại nhờ người khác thờ hộ. Thật là vô văn hóa và kém chính trị quá. Nhiều người đã không thèm lắng nghe quan điểm đó. Các bài báo nhắc đến điều đó bị cắt.
Bây giờ thì chuyện gì đã xảy ra?
Phim “Trần Thủ Độ” bỏ ra ba triệu đô la đến nay im hơi lặng tiếng, đợi sau lễ ngàn năm Thăng Long mới dám đưa ra. Tại sao? Tại vì người dân và trí thức không chấp nhận tôn vinh Trần Thủ Độ vào lúc này. Nếu làm phim về nhà Trần, sao không làm về Trần Nhân Tông, hay Trần Hưng Đạo? Làm về Trần Thủ Độ lúc này chướng lắm, không thuận. Còn làm về Trần Hưng Đạo thì e đụng chạm với hậu duệ của quân Nguyên. Thế là việc đầu tư sai lầm. Còn Trung Quốc thì đã kịp biến ông Trần Thủ Độ thành một nhân vật tựa như em ruột ông Tào Tháo. Cảnh vật, con người và tư tưởng là phiên bản của phim tàu.
“Đường tới thành Thăng Long” thì trắng trợn hơn. Phim này trở thành một bộ phim tàu hoàn chỉnh được lồng tiếng Việt. Cảnh vật, trang phục, hành động, võ thuật… chẳng khác nào những bộ phim Trung Quốc chiếu tràn lan trên màn hình. Chẳng thấy gì đúng với tinh thần tự tôn, độc lập và trí tuệ của Lý Công Uẩn, đại biểu cho trí tuệ dân tộc ta một ngàn năm trước đâu cả.
Thật vui mừng là cuối cùng bộ phim này đã được chặn lại. Nó là sản phẩm của những kẻ tự khinh rẻ dân tộc mình, những kẻ vọng ngoại, và phạm thượng với các bậc tiền nhân. Khán giả nhiều tầng lớp đã lên tiếng. Đã tẩy chay. Lương tri và tinh thần tự tôn của người Việt đã thức dậy.
Nhiều lần tôi đề nghị hãy chọn tất cả những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử, quy hoạch thành các cấp độ ưu tiên, có chiến lược đề tài và lộ trình xây dựng dòng phim lịch sử. Nhà nước cần đầu tư và định hướng. Kết hợp giữa ngành sử học, văn học, dân tộc học… Nghiên cứu cho bài bản rồi hãy làm. Phải sản xuất những bộ phim làm sống lại lịch sử dan tộc, khơi niềm tự hào và giáo dục con cháu đời sau vươn lên. Trí tuệ người Việt đủ sức làm phim. Chỉ cần biết tổ chức, khai thác và trọng dụng nhân tài. Nếu có tham khảo nước ngoài thi cần thận trọng với ý kiến của họ, vì họ không thể nào thấu hiểu hết lịch sử ông cha ta như chính chúng ta. Ý kiến ấy từ lâu cũng bị bỏ ngoài tai.
Qua những gì thể hiện ở phim “Trần Thủ Độ” và nhất là phim “Đường tới thành Thăng Long” cùng một vìa bộ phim khác, chúng ta cần cảnh giác với việc liên kết làm phim với Trung Quốc. Hãy đừng để họ nuốt mất mình mà cứ nằm trong bụng họ khen họ giỏi, họ đang giúp mình làm phim.
( Nguồn: Trannhuong.com )

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://phamvietdaonv.blogspot.com/2010/09/chuyen-phim-ly-cong-uan-va-tran-thu-o.html
****
Những suy nghĩ từ sự kiện bộ phim “Lý Công Uẩn-Đường đến thành Thăng Long”
Thu, 09/16/2010 – 22:51 — songchi
Song Chi.

Mấy hôm nay tôi đọc những bài báo và dư luận ở trong nước xung quanh bộ phim truyền hình nhiều tập “Lý Công Uẩn-Đường đến thành Thăng Long”. Và tôi cũng xem được cái trailer quảng cáo của bộ phim. Tôi không muốn nói gì về nội dung và chất lượng nghệ thuật của bộ phim này, thứ nhất vì mới chỉ xem được cái trailer (mặc dù chỉ cần như thế cũng đã thấy được cái bản sắc văn hóa Trung Hoa bao trùm và đây rõ ràng là một bộ phim Tàu nói tiếng Việt không sai), hơn nữa, nhiều người đã có những nhận xét rất chính xác về bộ phim này rồi. Sự bất bình, phẫn nộ của dư luận là hoàn toàn đúng. Điều tôi muốn nói, là chúng ta thấy gì qua câu chuyện này?
SỰ LỆ THUỘC VỀ VĂN HÓA-KHÔNG PHẢI ĐẾN BÂY GIỜ MỚI XẢY RA!
Nhiều người nói đến sự lệ thuộc về văn hóa hay nô dịch về văn hóa trong bộ phim “Lý Công Uẩn-Đường đến thành Thăng Long”. Nhưng nghĩ cho cùng, ai đã tiếp tay cho văn hóa Trung Quốc nói chung và phim ảnh Trung Quốc nói riêng tràn vào Việt Nam lâu nay? Suốt cả một thời gian dài, trên hầu hết các kênh truyền hình của Việt Nam tràn ngập phim Trung Quốc-hết phim dã sử, lịch sử đến phim tình cảm, hình sự, điều tra phá án…Bật qua kênh nào cũng là phim…Tàu. Bên cạnh đó là phim Hàn Quốc. Hết chiếu phim Trung Quốc, Hàn Quốc, các hãng, đài lại đua nhau làm phim theo công nghệ Hàn Quốc, kịch bản phim Trung Quốc, Hàn Quốc…Thực tế là mấy năm gần đây do tình hình phim truyền hình Việt Nam sản xuất ồ ạt, kịch bản nhiều khi kiếm người viết không xuể, và lại lâu nữa, thế là để cho nhanh, người ta mua lại những kịch bản phim truyền hình của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan…và dịch ra, cho một người hoặc một nhóm biên kịch chế biến xào nấu một chút gọi là “Việt hóa”, thế là xong. Phim chiếu ra, từ câu chuyện cho đến tính cách, ngôn ngữ của nhân vật, mặc dù đã cố gắng gia công “Việt hóa” nhưng vẫn như chuyện của nước khác.
Cho đến nay, có khoảng trên 20 bộ phim Việt Nam được Việt hóa từ kịch bản nước ngoài như “Lẵng hoa tình yêu”, “Vòng xoáy tình yêu”, “Bà mẹ nhí”, “Cô gái xấu xí”, “Những người độc thân vui vẻ”, “Hoa dã quỳ”, “Gia đình phép thuật”, “Có lẽ nào ta yêu nhau”, “Ngôi nhà hạnh phúc”, “Anh em nhà bác sĩ”…Chiếm gần một nửa trong số đó là kịch bản phim Hàn Quốc, và có những phim đã được sản xuất từ cả chục năm trước, cũng đã được chiếu ở Việt Nam nhiều lần, như “Anh em nhà bác sĩ” chẳng hạn. Những bộ phim đó thực chất cũng là “phim Hàn nói tiếng Việt” thôi. Chưa kể những bộ phim hoàn toàn do người Việt thực hiện từ kịch bản, đạo diễn…nhưng cũng ảnh hưởng mô típ phim truyền hình Hàn Quốc đầy nước mắt với những bi kịch gia đình, tình yêu trắc trở, bệnh ung thư gây chia lìa… Vậy thì không phải đến “Lý Công Uẩn-Đường đến thành Thăng Long” sự lệ thuộc về văn hóa nước ngoài mới diễn ra. Chỉ có điều, trong trường hợp của bộ phim “Lý Công Uẩn-Đường đến thành Thăng Long”, ai cũng biết, sở dĩ dư luận sôi sục, bất bình, phẫn nộ bởi vì đây là phim lịch sử, lại được làm với mục đích kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, vậy mà lại do… người Trung Quốc thực hiện, từ kịch bản đến đạo diễn, chuyên viên hóa trang, diễn viên đóng thế, diễn viên quần chúng… bối cảnh thì thuê ở phim trường của Trung Quốc, phục trang, đạo cụ…cũng của Trung Quốc!

Đoàn diễn viên Việt Nam chụp ảnh kỷ niệm cùng đạo diễn Cận Đức Mậu (giữa). Nguồn:tintuc.xalo.vn


TÂM LÝ CỨ LÀM, BẤT CHẤP LỜI CẢNH BÁO RỒI CÓ GÌ TÍNH SAU!
Điều đáng nói ở đây là tại sao những người có trách nhiệm, những người quản lý phía Việt Nam lại không giám sát thật kỹ khâu kịch bản ngay từ đầu, và khi thấy nhà sản xuất-công ty cổ phần truyền hình Trường Thành, mời cả một êkíp làm phim người Trung Quốc và kéo nhau sang Trung Quốc thuê bối cảnh thì không có ý kiến ngay, để bây giờ phim xong rồi Hội đồng duyệt phim quốc gia mới bảo là “yếu tố Trung Hoa rõ quá” (theo báo Người lao động) và bắt phải sửa lại? Ai ở trong nghề cũng biết rằng khi phim đã hoàn tất, cắt sửa một phân đoạn thôi đã là việc không đơn giản, thà bỏ đi quay lại còn dễ hơn. Huống hồ ở đây cả bộ phim từ đầu đến cuối đậm đặc bản sắc Trung Hoa như thế, “Việt hóa” lại cách nào? Những người làm phim cũng chỉ có thể chỉnh sửa sơ sơ, ví dụ chỉnh những câu thoại không phù hợp, bỏ đi một số cảnh đông diễn viên quần chúng người Trung Quốc, hoặc vài cảnh rộng cho thấy bối cảnh Trung Hoa rõ nét và quá quen thuộc, dễ nhận ra là…ở bên Tàu v.v…Và nếu dư luận nguôi nguôi, hoặc một thời gian sau quên đi thì dám chắc bộ phim cũng sẽ được cho chiếu như thường. Ở Việt Nam là thế, nhiều sai phạm cực kỳ nghiêm trọng, nặng nề trong nhiều lĩnh vực khác nhau, người ta còn cứ cho qua nữa là một bộ phim! Còn nếu không phát sóng rộng rãi được trong nước thì nhà sản xuất in sang thành DVD, bán ra nước ngoài hoặc bán lại cho các đài truyền hình các nước khác, tìm cách thu hồi vốn, còn các nước khác làm sao mà biết được phim này không đúng với lịch sử, bản sắc văn hóa Việt, hoặc nhiều khi lại tưởng văn hóa Việt giống Trung Hoa đến thế!
Có người sẽ nói, có thể vì bộ phim “Lý Công Uẩn-Đường đến thành Thăng Long” là do tư nhân sản xuất nên về phía nhà nước, phần biên tập, kiểm soát ngay từ đầu có phần lơi lỏng hơn? Có thể là như vậy nhưng đó là với những bộ phim truyện đề tài đương đại, tình cảm xã hội, (bởi vì trong quan điểm của các vị lãnh đạo văn hóa ở Việt Nam, miễn là nội dung tác phẩm đừng có dính dáng gì đến chính trị, đến những vấn đề “nhạy cảm” mà Đảng và nhà nước rất kỵ như tự do dân chủ, nhân quyền, bất công xã hội, đời sống thật của công nhân, nông dân, dân nghèo cho đến sự toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải…còn lại, đề tài gì, hay dở, nhảm nhí, phản thẩm mỹ, phản văn hóa…ra sao cũng cho qua). Còn với phim lịch sử, lại làm nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng long-Hà nội như thế này thì không thể cẩu thả, cho dù là phim tư nhân hay phim nhà nước. Chưa kể, đang có những thông tin rằng trong bộ phim này, phía Trung Quốc bỏ ra 50 tỷ để đầu tư, chuyện này có thể xem như một sự vô tình không hay cũng nằm trong ý đồ quảng bá văn hóa Trung Quốc của nước này, mà phía Việt Nam thì các quan chức có trách nhiệm từ trên xuống dưới cứ thấy tiền là gật?
Tôi có cảm giác rằng trong mọi lĩnh vực từ kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật cho đến an ninh quốc phòng, đối ngoại…những người có trách nhiệm cao nhất ở Việt Nam từ lâu nay dường như hay có thói quen…coi thường dư luận, coi thường những lời cảnh báo của những nhà chuyên môn, trí thức cho đến người dân thường có lòng với đất nước. Có khá nhiều chuyện đã được dư luận lên tiếng cảnh báo, góp ý ngay từ đầu nhưng những người lãnh đạo chẳng thèm nghe (mà sự vỡ nợ của Vinashin chẳng hạn là một ví dụ gần đây nhất, trong lĩnh vực kinh tế). Trong chuyện làm phim về lịch sử, ngay từ đầu khi các hãng đua nhau đưa ra những dự án phim truyền hình, phim nhựa… nhằm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, nhiều ý kiến của các nhà lịch sử, người trong nghề cũng đã tỏ ý lo ngại rằng trong điều kiện làm phim ở Việt Nam hiện nay, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn từ việc không có phim trường (mà sử dụng bối cảnh thiên nhiên có sẵn thì cũng hiện đại hóa nhiều, thay đổi nhiều theo thời gian), khó khăn về nguồn tư liệu lịch sử trong việc dàn dựng bối cảnh, thiết kế phục trang, đạo cụ…cho đến kinh nghiệm làm phim lịch sử…Do vậy, việc làm phim lịch sử phải hết sức cẩn trọng, cần phải theo dõi, giám sát kỹ lưỡng; những người làm phim không thể cứ thấy có tiền là làm cho bằng được, bất kể tiền đó từ đâu (từ ngân sách của nhà nước tức tiền thuế của nhân dân hay từ tiền của…nước lạ), còn những người chịu trách nhiệm biên tập, giám sát…khi “tiền trách nhiệm” đã bỏ vào túi rồi thì mặc cho những người thực hiện muốn chế biến, xào nấu ra sao thì ra, đến khi phim đã làm xong, hậu quả tai hại, dư luận lên tiếng thì mới tìm cách sửa chữa, là sửa bằng cách nào?

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.rfavietnam.com/node/289

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. TOI THAY CO BAI VIET DE CAP PHIM NAY LAM TREN QUAN DIEM THI TRUONG! NOI THAT PHIM NAY CHIEU CHAC CHANG CO MA NAO XEM LO LA CHAC!

    Bình luận bởi Minh Trí — 21/09/2010 @ 8:29 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s