Hoàngquang’s Blog

13/09/2010

“1 Trung Quốc, 2 chế độ” trên biển Đông

& Đài loan hoàn toàn không có chủ quyền trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Đinh Kim Phúc

QUÁNG GÀ LỤY CÁO GIÀ
Nguyễn Hữu Vinh

Thứ Hai, 13/09/2010, 07:58 (GMT+7)
“1 Trung Quốc, 2 chế độ” trên biển Đông -Danh Đức

Sơ đồ đảo Ba Bình (Thái Bình) ở quần đảo Trường Sa - Nguồn: Cri.cn - Đồ họa: N.K.

TTViệc nhà cầm quyền Trung Quốc nay tiến đến xây dựng một hòn đảo nhân tạo bên cạnh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam cho thấy một sự liên kết giữa Trung Hoa đại lục và Đài Loan, và đây chính là sự thể hiện của khẩu hiệu “một Trung Quốc, hai chế độ”!
Đảo Ba Bình nằm ở 10°23’ bắc, 114°22’ đông, là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Tháng 11-1956, chính quyền Trung Hoa dân quốc (Đài Loan) đã phái bốn chiến hạm xuất phát từ cảng Ngô Tùng và cho quân đổ bộ lên chiếm hòn đảo chiến lược có chu vi 2,8km, diện tích 43,2ha được bao quanh bởi một vòng đá san hô này vào ngày 29-11.
Chính do chiều dài đảo này là 1.470m, chiều rộng 500m, nên 50 năm sau chính quyền Đài Loan đã cho công binh xây một đường băng cho máy bay vận tải quân sự C-130 Hercules hạ và cất cánh, tức thiết lập xong cầu không vận.
Ngày 21-1-2008, lần đầu tiên một máy bay vận tải C-130 của không quân Đài Loan đã “khai trương” đường bay này.
“1 Trung Quốc, 2 chế độ”
Tất nhiên, việc Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình, ngay cả khi xây cất sân bay – cầu hàng không này, cho đến nay không hề “được” Trung Hoa đại lục phản kháng. Do lẽ, Bắc Kinh xác tín rằng đối với vấn đề Đài Loan, phương châm cơ bản của Chính phủ Trung Quốc là: “Thống nhất hòa bình, một quốc gia, hai chế độ”, tức Trung Quốc sẽ không bao giờ dùng vũ lực đối với Đài Loan để thống nhất đất nước.
Đây là một xác quyết đã có từ mấy trào lãnh đạo Bắc Kinh. Ngày 30-9-1981, chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc Diệp Kiếm Anh tuyên bố: “Sau khi thực hiện thống nhất đất nước, Đài Loan có thể trở thành đặc khu hành chính, được hưởng quyền tự trị cao độ”.
Năm 1982, nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình lại nêu rõ: đấy thật ra là “một quốc gia, hai chế độ”, dưới tiền đề đất nước thực hiện thống nhất, chủ thể nhà nước thực thi chế độ xã hội chủ nghĩa, còn Đài Loan thì thực thi chế độ tư bản chủ nghĩa.
10 năm sau, ngày 12-10-1992, chủ tịch Giang Trạch Dân cũng cam đoan: “Chúng tôi bất di bất dịch thể theo phương châm “thống nhất hòa bình, một quốc gia, hai chế độ”, tích cực thúc đẩy thực hiện thống nhất tổ quốc”.
Đến ngày 30-1-1995, ông Giang Trạch Dân đưa ra “Tám nhận xét và chủ trương thống nhất tổ quốc”, trong đó điều 4 khẳng định: “Cố gắng thực hiện thống nhất hòa bình, người Trung Quốc không đánh người Trung Quốc” (nguồn: Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc CRI).
Người Trung Quốc không đánh người Trung Quốc!
Đó là lý do vì sao hải quân Trung Quốc tập trung phân nửa số tàu đổ bộ cho nhiệm vụ đổ bộ đường biển lấn chiếm Trường Sa hơn là cho nhiệm vụ “giải phóng Đài Loan”.
Trong ba hạm đội của hải quân Trung Quốc, hạm đội Đông Hải đặc trách “giải phóng Đài Loan” chỉ gồm 24 tàu đổ bộ, trong khi hạm đội Nam Hải, tức hạm đội đặc trách khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì tập trung đến hơn 38 tàu đổ bộ, còn hạm đội Bắc Hải có nhiệm vụ “tranh chấp Điếu Ngư Đài” với Nhật Bản chỉ gồm sáu tàu đổ bộ (nguồn: http://www.sinodefence.com/navy/amphibious/default.asp).
Việc phân bố tàu đổ bộ như trên tương ứng với việc phân bố lực lượng lính thủy đánh bộ. Toàn bộ lực lượng lính thủy đánh bộ Trung Quốc gồm hai lữ đoàn được ưu tiên phân bổ cho hạm đội Nam Hải: 12.000 quân (6.000 người mỗi lữ đoàn). Các lữ đoàn này vừa trực thuộc hạm đội Nam Hải vừa trực tiếp báo cáo với Bộ tổng tham mưu.
Lính thủy đánh bộ Trung Quốc là một lực lượng cũng có lịch sử truyền thống. Trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc có đến tám sư đoàn lính thủy đánh bộ với 110.000 quân đã quần thảo với thủy quân lục chiến Mỹ. Chiến tranh chấm dứt, lực lượng này được giải tán vào năm 1957 sau khi các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa bỏ kế hoạch chiếm Đài Loan trong giai đoạn “nghỉ ngơi sau chiến tranh”.
Lính thủy đánh bộ được tái thành lập năm 1963 trong cao trào cuộc xung đột Kim Môn, Mã Tổ (hai hòn đảo nhỏ của Đài Loan sát bờ biển Trung Quốc đại lục) nhằm mục đích chiếm lại các hòn đảo nhỏ này ngoài khơi còn do Quốc dân đảng giữ.
Năm 1979, lực lượng lính thủy đánh bộ được tái thành lập và trực chỉ khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 5-5-1980, lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 1 được đưa ra đồn trú trên đảo Hải Nam. Tháng 7-1998, sư đoàn bộ binh cơ giới 164 được tái cơ cấu để biến thành lữ đoàn 164 lính thủy đánh bộ số 2, được phân bổ cho hạm đội Nam Hải.
Vào thời điểm này năm ngoái, ngày 16-8-2009, hạm đội Nam Hải đã diễn tập khoa mục tiếp tế theo đội hình hàng ngang (tức đội hình đổ bộ) trong khu vực biển Đông.
Ngày 18-8-2009, một biệt đội gồm 100 sĩ quan và binh lính đã cập bến bãi đá Vĩnh Thử (đảo Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa để tiếp tế hậu cần và đưa hai tàu chở trực thăng “Thâm Quyến” và “Hoàng Sơn” cập đảo, tiến hành diễn tập: cho trực thăng lên xuống và lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đường không.
Phát biểu với binh lính trên đảo, chỉ huy đội tàu hộ tống phó tư lệnh hạm đội Nam Hải nhấn mạnh: “Bất kể là binh sĩ hộ tống hàng hay binh sĩ bảo vệ đảo đều có chung một sứ mệnh đó là bảo vệ lợi ích quốc gia, hi vọng các binh sĩ tập luyện để bảo vệ tốt biên cương trên biển phía nam tổ quốc”.
Ngày 24-8-2009, hải quân Trung Quốc bắt đầu giai đoạn huấn luyện nhảy dù kéo dài hai tháng.
Nay, với kế hoạch xây dựng một hòn đảo nhân tạo bên cạnh đảo Ba Bình, rõ ràng không phải để đánh những người Trung Quốc đang giương cờ Trung Hoa dân quốc hiện đồn trú ở đảo Ba Bình. Đây chính là động thái hiện thực hóa của chính sách “một quốc gia, hai chế độ”.
DANH ĐỨC

Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa

Sơ đồ đảo Ba Bình (Thái Bình) ở quần đảo Trường Sa – Nguồn: Cri.cn – Đồ họa: N.K.
Ngày 12-9, báo Tin Tức Trung Quốc cho biết nước này đang thúc đẩy dự án nghiên cứu xây dựng một hòn đảo nhân tạo bên cạnh đảo Ba Bình (đảo Thái Bình theo cách gọi của Trung Quốc và đang do Đài Loan chiếm giữ) nhằm thiết lập căn cứ khai thác tài nguyên và bảo vệ chủ quyền tại biển Đông (theo cách gọi của Trung Quốc là biển Nam Trung Hoa).
Các nhà chiến lược và chuyên gia quân đội Trung Quốc cho rằng vị trí chiến lược và điều kiện địa chất của đảo Ba Bình thuộc hàng tốt nhất trong số các đảo, bãi đá ở quần đảo Trường Sa. Trung Quốc nên mượn đảo Ba Bình, lấp biển và xây dựng ở bên cạnh nó một hòn đảo mới, sau đó xây dựng một sân bay để sử dụng cho cả mục đích quân sự lẫn dân sự. Sân bay này, như họ nhấn mạnh, có thể sử dụng ngay trong quá trình xây dựng.
Trước đó, ngày 8-9, Tân Hoa xã đưa tin một số học giả Đài Loan đã kiến nghị Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để cùng bảo vệ chủ quyền ở đảo Ba Bình (tức Thái Bình).

MỸ LOAN

đoạn mở đầu bị ban biên tập Tuổi trẻ cúp bỏ: “Việc nhà cầm quyền Trung Quốc nay tiến đến việc xây dựng một hòn đảo nhân tạo bên cạnh đảo Ba Bình thuộc quần`đảo Trường Sa của Việt Nam vừa là một diễn biến “tuần tự nhi tiến” theo đúng chiến lược độc chiếm Biển Đông, vừa cho thấy một sự câu kết giữa Trung Hoa đại lục và Đài Loan, và đây chính là sự hiện hình và hiện thực sớm nhất của khẩu hiệu “một Trung quốc’.”
( Theo Anhbasam)

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://tuoitre.vn/The-gioi/400215/%E2%80%9C1-Trung-Quoc-2-che-do%E2%80%9D-tren-bien-Dong.html

________

Đài loan hoàn toàn không có chủ quyền trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Đinh Kim Phúc

1. Quần đảo Hoàng Sa ở vào khoảng giữa vĩ tuyến 16° – 17° và kinh tuyến 111° – 113° đông, cách Huế khoảng 490 km và Yulin (Du Lâm), hải cảng phía Nam của đảo Hải Nam khoảng 350 km.

Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km², gồm trên 30 đảo nhỏ và những hòn đá nhô khỏi mặt nước, chia ra làm hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) mà đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2-3 km; và Nhóm Tây (Crescent) mà đảo lớn nhất mang tên Hoàng Sa (Pattle Island), diện tích khoảng 0,3 km². Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km.

Quần đảo Trường Sa ở vào khoảng 6o50’ đến 12° vĩ Bắc và từ 111°20’ kinh Đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400 km, cách Philippines khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km.

Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km², gồm trên 100 đảo và những hòn đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đá chính.

Người dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời. Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh quan hệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn, vào thế kỷ thứ XVII.

Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, các triều đại kế tiếp trị vì nước Việt Nam đã thực sự nắm chủ quyền trên hai quần đảo này mà không có nước nào cạnh tranh và coi các hải đảo này hoàn toàn thuộc lãnh thổ của nước ta.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, trước sự đe doạ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Hoa mới bắt đầu chú ý tới quần đảo Hoàng Sa và sau này, trong những năm 1928, 1932, biểu hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp – chỉ biểu hiện ý đồ chứ không có hành động chiếm hữu thực sự.

Cũng cần nhấn mạnh là lúc bấy giờ cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất, đòi hỏi của Trung Quốc chỉ nhằm vào quần đảo Hoàng Sa chứ không đả động đến quần đảo Trường Sa.

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là quốc gia kế thừa, Pháp không hề khước từ chủ quyền trên hai quần đảo, tiếp tục khẳng định quan hệ chủ quyền và phản đối những yêu sách của Trung Quốc.

Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã chiếm các hải đảo trên dãy Hoàng Sa và Trường Sa để làm căn cứ quân sự.

Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, lợi dụng danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản, năm 1947, quân đội Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm (thuộc Nhóm Đông của quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (tên quốc tế là Itu Aba, tên tiếng Hoa là Thái Bình) của quần đảo Trường Sa, trong khi đó, quân đội Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (thuộc Nhóm Tây của quần đảo Hoàng Sa) và một số đảo khác của quần đảo Trường Sa.

Chính phủ Bảo Đại chính thức cho quân đội thay thế Pháp ở quần đảo Hoàng Sa năm 1950 và chính quyền Ngô Đình Diệm ở quần đảo Trường Sa năm 1956.

Sau khi chiến thắng ở đại lục, quân đội Trung Quốc thay thế quân đội Quốc Dân đảng Trung Hoa ở đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) năm 1956, trong khi đó Đài Loan vẫn tiếp tục thường xuyên có mặt ở đảo Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa).

Năm 1974, quân đội Trung Quốc đã sử dụng vũ lực, loại quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi quần đảo Hoàng Sa, và năm 1988, đổ bộ lên một số hòn đảo của quần đảo Trường Sa.

2. Theo báo chí Đài Loan ngày 14/06/2009, lực lượng tuần duyên nước này rất có thể sẽ tăng cường hiện diện tại khu vực đảo Ba Bình đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc và Việt Nam. Nguyên nhân đưa ra là vì số lượng tàu đánh cá nước ngoài ở trong vùng biển nói trên đã gia tăng đáng kể.

Theo từ điển bách khoa, đảo Ba Bình nằm ở tọa độ 10, 23 độ vĩ bắc, 114, 22 độ kinh đông, là đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; đảo có chu vi 2,8 km, diện tích 43,2 ha và có một vòng đá san hô bao quanh. Chiều dài đảo là 1.470m, chiều rộng 500m, có độ cao trung bình 2,8m; trên đảo có mọc các loại cây dừa, chuối, đu đủ, cây cọ cao khoảng 7m và nhiều bụi rậm; trên đảo có một giếng nước và có nhiều công sự.

Theo học giả Vương Hồng Sển, tên của nó có thể bắt nguồn từ việc một vị quan cai trị người Pháp phải đặt mật hiệu cho hòn đảo này nhưng còn chưa nghĩ ra. Sau đó ông đặt tên cho nó theo hai người hầu ở trong nhà ông là Chị Tư và Chị Ba. Vì người Pháp không đọc âm “h” nên thành Itu Aba, đó là lý do tại sao đảo Ba Bình có tên quốc tế là Itu Aba.
Đài Loan hiện có một căn cứ trên đảo Ba Bình, hòn đảo lớn nhất trên quần đảo Trường Sa, Tuần duyên Đài Loan hiện có ba chiếc tàu tuần tra cùng với khoảng 100 người lính đồn trú tại đấy. Chính quyền Đài Bắc trong thời gian qua cũng đã củng cố đáng kể cơ sở của họ trên đảo này bằng cách cho xây một phi đạo, dùng vào việc tiếp viện hậu cần hay trợ giúp nhân đạo.
Theo ghi nhận của chính quyền Đài Bắc, tính đến cuối tháng 5/2009, đã có hơn 500 tàu nước ngoài hiện diện trong vùng biển bao quanh đảo Ba Bình, đại đa số là tàu Trung Quốc. nhưng cũng có tàu của Philippines và Việt Nam. Đây là một số lượng cao hơn gấp đôi số tàu ngoại quốc thống kê được trong toàn năm 2008.
Trả lời câu hỏi của báo chí trước sự kiện ngày càng có nhiều tàu đánh cá của các nước khác trong vùng biển Ba Bình, phát ngôn viên tuần duyên Đài Loan xác định là họ đang tính đến việc phái thêm nhiều tàu tuần tra đến khu vực.
Về phần mình, bộ ngoại giao Đài Loan một lần nữa lên tiếng khẳng định chủ quyền của họ trên đảo Ba Bình và quần đảo Hoàng Sa, hai khu vực đang tranh chấp với Việt Nam và Trung Quốc, cùng với dải Trung Sa (Macclesfield Bank) và đảo Đông Sa (Pratas), tranh chấp với Trung Quốc.
Lời khẳng định này được đưa ra đúng một hôm sau khi chính quyền của Tổng thống Mã Anh Cửu, thân Bắc Kinh, bị đảng Dân Tiến đối lập tố cáo là không bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và để yên cho Trung Quốc rầm rộ đưa tàu xâm nhập hải phận của mình.
Đài Loan hoàn toàn không có chủ quyền đối với đảo Ba Bình của Việt Nam.
Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy rằng, tháng 10/1946, trong khi quân đội Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì 4 chiến hạm cùng các binh sỹ thuộc hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc xuất phát từ cảng Ngô Tùng đổ bộ lên Hoàng Sa. Ngày 29/11/1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên của quân Tưởng Giới Thạch tới đảo Hoàng Sa; tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa.

Đài Loan luôn tuyên bố chủ quyền của mình trên vùng đất này nhưng chỉ là những lời tuyên bố vô căn cứ.

Chúng ta biết rằng, sau khi hội nghị San Francisco, 1951 bế mạc, cả Trung Quốc lẫn Ðài Loan không có dịp nào để lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho tới năm 1956 khi Philippines lên tiếng đòi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Trong hai năm 1949 và 1950, Tomas Cloma, chủ một đội ngư thuyền và thương thuyền và giám đốc một trường hàng hải đã khám phá thấy một nhóm đảo lớn nhỏ ở cách đảo Palawan của Philippines khoảng 400 dặm về phía Tây. Ông hy vọng lập một nhà máy nước đá và một nhà máy đóng đồ hộp ở trên một hòn đảo lớn nhất ở đây, cũng như là khai thác phân chim trong những hòn đảo kế cận.

Tuy nhiên, mãi đến đầu năm 1956 Cloma mới lại tiếp tục khám phá những hòn đảo này trong một chuyến du hành 38 ngày. Ngày 15.3.1956, chiếc tàu PMI IV vẫn được dùng để huấn luyện các sinh viên trường hàng hải của Cloma do thuyền trưởng Filemon Cloma, em trai Tomas Cloma, điều khiển đã lên đường ra các hòn đảo này chiếm đóng. 40 thủy thủ trên tàu, tất cả đều có quốc tịch Philippines, đã dựng quốc kỳ Philippines trên một hòn đảo và chính thức tuyên bố chiếm hữu đảo này theo tục lệ quốc tế. Tại mỗi hòn đảo họ tới chiếm đóng, họ đều niêm yết cáo thị chiếm hữu. Họ đặt tên những hòn đảo ở đây, tất cả có 53 đảo và cù lao với diện tích tổng cộng 64.976 dặm vuông, là “Freedomland” hay Ðất Tự do.

Ngày 15.5.1956 Cloma chính thức thông báo cho Phó Tổng thống kiêm Ngoại trưởng Philippines Carlos P. Garcia hay là một số công dân Phi đã quan sát, trắc lượng và chiếm hữu “một lãnh thổ ở Nam hải, bên ngoài hải phận Philippines và không thuộc thẩm quyền quản hạt của nước nào”. Cloma cũng nói thêm là lãnh thổ này đã được Cloma và các đồng sự tuyên bố chiếm hữu.

Mặt khác, Cloma đã gửi “cáo thị” về việc chiếm hữu này tới báo chí trong và ngoài nước, yêu cầu đăng tải theo thủ tục luật quốc tế. Cáo thị nhấn mạnh là sự tuyên bố này căn cứ vào quyền khám phá và chiếm hữu công khai.

Sáu ngày sau, ngày 21.5.1956, Cloma gửi một bức thư thứ nhì cho Bộ Ngoại giao Philippines để thông báo cho Chính phủ Philippines hay là lãnh thổ mà ông tuyên bố chiếm hữu được đặt tên là “Freedomland”. Kèm theo thư là danh sách các đảo và cù lao.
Trong thư Cloma còn nói thêm là:

“Kính xin lưu ý là sự tuyên bố này do ‘các công dân Philippines’ làm chứ không phải là ‘nhân danh Chính phủ Philippines’ bởi vì chúng tôi không được phép làm như vậy. Tuy nhiên việc này sẽ có hậu quả là lãnh thổ trở thành một phần của Philippines. Vì lý do đó chúng tôi hy vọng và thỉnh cầu Chính phủ Philippines ủng hộ cùng là bảo vệ sự tuyên bố của chúng tôi và xin cũng đừng đưa một tuyên bố nào khác ra Liên Hiệp Quốc để tránh khỏi khuyến khích, xúi giục sự phản đối của các nước khác”.

Sau đó Cloma chính thức tuyên bố thành lập một chính quyền riêng biệt cho quần đảo Freedomland và gửi một bản tuyên cáo về việc thành lập chính quyền này cho Ngoại trưởng Philippines ngày 6.7.1956. Bản tuyên bố còn yêu cầu Philippines cho quần đảo hưởng qui chế bảo hộ.

Trong một buổi họp báo tại Manila ngày 19.5.1956, Phó Tổng thống kiêm Ngoại trưởng Philippines, ông Carlos P. Garcia tuyên bố là một nhóm đảo ở Nam hải, kể cả đảo Ba Bình và đảo Trường Sa, đúng lý ra phải thuộc về Philippines vì chúng kế cận nước này.

Các sự kiện và lời tuyên bố này đã đưa đến những phản ứng mãnh liệt mà đặc biệt là Trung Quốc và Đài Loan.

Ngày 29.5.1956 Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra một tuyên bố về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo, nội dung như sau:

“Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa long trọng tuyên bố: sự xâm phạm chủ quyền hợp pháp của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa của bất cứ quốc gia nào, vì bất cứ lý do nào, và bằng bất cứ phương tiện nào, cũng tuyệt đối không thể dung thứ được”.

Về phía Ðài Loan, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, qua đại sứ ở Manila, đã phản kháng mạnh mẽ với Chính phủ Philippines và viện vào cớ là quần đảo này thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ thứ 15 [Chúng tôi không biết luận cứ của Ðài Loan ra sao và căn cứ vào đâu Ðài Loan cho là chủ quyền đó có từ thế kỷ thứ 15].

Song song với việc phản kháng tại Manila, phát ngôn viên Ðài Loan còn loan tin Ðài Loan phái một lực lượng đặc nhiệm tới quần đảo Trường Sa “có thể và chắc chắn sẽ xảy ra” và quả thực một hạm đội Ðài Loan đã được phái tới nơi trong một thời gian ngắn để ngăn chặn mọi việc không hay xảy ra.

Nhận được tin này, Ngoại trưởng Philippines vội vàng chỉ thị cho Ðại sứ Philippines tại Ðài Bắc là Narciso Ramos báo cho Chính phủ Ðài Loan “không nên quá e ngại về diễn biến của tình hình”.

Trong khi đó ở đảo Ba Bình, hải quân Ðài Loan đã bốc dỡ những cột mốc đánh dấu mà họ dựng lên trên đảo trong chuyến đi thứ nhất và đã dựng một dấu hiệu của Trung Hoa Dân Quốc trên cột mốc cũ của Nhật Bản và cũng vẽ dấu hiệu Trung Hoa trên tường một căn nhà đổ nát trước kia thuộc trại lính Nhật Bản.

Mười lăm năm lại trôi qua khi không có dịp nào để Ðài Loan lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cho tới năm 1971.

Trong một buổi họp báo tại điện Malacanang ngày 10.7.1971, trước buổi khai mạc hội nghị cấp cao lần thứ 6 của Hiệp hội các quốc gia châu Á và Thái Bình dương tại Manila, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos tố cáo quân đội Ðài Loan, lúc đó đang chiếm đóng ở đảo Ba Bình (Ligaw theo tên Philippines), đã đặt những ổ trọng pháo để tăng cường sự phòng thủ đảo này và trong một vài trường hợp đã bắn cảnh cáo vào những phi cơ và tàu của Philippines đi trinh sát trong vùng. Ông cũng nói thêm là Hội đồng An ninh quốc gia Philippines trong phiên họp ngày hôm đó đã đồng thanh cho rằng vì những diễn biến nhanh chóng xảy ra trong vùng và vì đảo này ở kế cận lãnh thổ Philippines nên việc một nước ngoài chiếm đóng ở đây là một mối đe dọa trầm trọng cho nền an ninh của Philippines. Ngoài ra, ông còn nhắc lại quan điểm của Philippines là quần đảo Trường Sa đang ở trong chế độ giám hộ trên thực tế của các quốc gia đồng minh theo Hòa ước với Nhật Bản ký tại San Francisco ngày 8.9.1951. Trong hòa ước này Nhật Bản khước từ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo này. Vẫn theo lời Marcos, vì quần đảo Trường Sa ở dưới chế độ giám hộ, không nước nào có quyền mang quân đội vào bất cứ hòn đảo nào trong nhóm quần đảo này nều không có phép và sự thỏa thuận của các quốc gia đồng minh. Sau hết, ông loan báo thêm là vì Ðài Loan thiết lập một đồn binh tại đảo Ba Bình không có phép và sự thỏa thuận của các quốc gia đồng minh nên Philippines đã yêu cầu Chính phủ Ðài Loan rút quân đội khỏi nơi này.

Lời tuyên bố của Marcos đã gây ra phản ứng tại nhiều quốc gia. Vài ngày sau khi có lời tuyên bố này, các Chính phủ Anh và Hà Lan loan báo hai nước khước từ quyền giám hộ trên quần đảo Trường Sa.

Chính quyền Sài Gòn, qua lời tuyên bố của Ngoại trưởng Trần Văn Lắm ngày 13.7.1971, tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa mà các dữ kiện lịch sử và pháp lý chứng tỏ là thuộc về Việt Nam, ít nhất là từ thế kỷ thứ 18. Ông cũng nhắc lại lời tuyên bố của cựu Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần văn Hữu tại hội nghị San Francisco ngày 7.9.1951.

Về phần Ðài Loan, Ngoại trưởng Chu Thư đã tuyên bố rằng quần đảo Nam Sa từ thời xa xưa vẫn thuộc về Trung Hoa và quân đội Ðài Loan đã chiếm đóng quần đảo này hơn 20 năm qua. Sau đó ông đã hội đàm với Ngoại trưởng Philippines Carlos Romulo, nhưng nội dung không được tiết lộ.

Ðáng tiếc là ngoại trưởng Chu Thư đã không đưa ra một chi tiết hay một thí dụ nào để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này “từ thời xa xưa” và cũng không cho biết là “thời xa xưa” ấy là từ bao giờ. Chúng tôi xin nhấn mạnh ở đây để nói thêm là Ðài Loan đã cho leo thang thời gian chủ quyền. Trong lần phản ứng năm 1956, Ðài Loan nói là Trung Quốc có chủ quyền trên hai quần đảo này từ thế kỷ thứ 15, nay lại đổi thành từ thời xa xưa. Hơn nữa, họ lại cố tình che dấu tính cách bất hợp pháp của việc Quốc quân Ðài Loan chiếm đóng ở đây.

Sau khi Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 1/1974, Ðài Loan không những đã phụ họa với Trung Quốc trong việc đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà lại còn phái thêm quân đến chiếm đóng vài hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam để sẵn sàng chống lại khi cần.

Chính phủ của Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thời gian Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa.

– Tuyên bố thứ nhất là của Bộ Ngoại giao Ðài Loan vào ngày 7.2.1974, nội dung như sau:

“Gần đây Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Nam Sa (Spratly). Ðối với lời tuyên bố này, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã cực lực phản kháng với Chính phủ Việt Nam và tái khẳng định lập trường là quần đảo này là phần lãnh thổ cố hữu của Trung Hoa Dân Quốc và không ai có thể nghi ngờ chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc đối với quần đảo này”.

“Quần đảo này đã bị Nhật Bản chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ 2 và được hoàn trả cho Trung Hoa Dân Quốc sau chiến tranh, vào tháng 12 năm 1946, Chính phủ Trung Hoa đã phái một hải đội tới thu hồi khỏi tay Nhật Bản. Từ đó trú quân thường trực Trung Hoa đã tới đóng ở đó. Hơn nữa, ngày 1.12.1947, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã loan báo cùng thế giới tên tiêu chuẩn của các đảo, cù lao, ám tiêu…

“Những đảo này, tạo thành phần hoàn chỉnh lãnh thổ Trung Hoa, là một sự thực bất khả tranh nghị. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc vì vậy cương quyết tái khẳng định chủ quyền của Trung Hoa trên quần đảo Nam Sa. Lập trường này không thể bị bất cứ nước nào thay đổi bằng bất cứ biện pháp nào”.

Chúng ta thấy điều tuyên bố này không có gì mới lạ. Nó chỉ là nhắc lại những lời tuyên bố của Trung Quốc từ trước tới nay. Cũng giống trường hợp các tuyên bố của Trung Quốc, nó thiếu sót các chứng liệu để chứng tỏ rằng chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bất khả tranh nghị. Sự thiếu sót này làm cho luận cứ của Ðài Loan, cũng như của Trung Quốc, không có giá trị về thực tế cũng như về pháp lý.

– Tuyên bố của Tưởng Kinh Quốc ngày 24.2.1974

Mười bảy ngày sau khi Bộ Ngoại giao Ðài Loan ra bản tuyên bố nói trên, Tưởng Kinh Quốc, con trai của Tưởng Giới Thạch và lúc bấy giờ đang giữ chức Viện trưởng Hành chính viện tức Thủ tướng Chính phủ Ðài Loan, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Roy Rowan của tạp chí Time ngày 24.2.1974 tại Ðài Bắc cũng đã đề cập tới vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa như sau:

Hỏi: Xin Thủ tướng cho rõ quan điểm của ngài về vụ tranh chấp đối với hai nhóm quần đảo Paracel và Spratly. Liệu quý quốc có phòng vệ đội trú quân đóng ở quần đảo Spratly của quý quốc khi bị tấn công không?

Ðáp: Chúng ta cần phải duyệt lại lịch sử các quần đảo này. Cách đây nhiều năm, Chính phủ chúng tôi đã duy trì lực lượng tại quần đảo Paracel. Lực lượng này chỉ là một phần của hệ thống phòng thủ đảo Hải Nam. Việc chúng tôi rút các lực lượng đó đi không có nghĩa là chúng tôi từ bỏ chủ quyền của chúng tôi trên quần đảo Paracel. Việc này chẳng qua cũng giống như việc chúng tôi từ bỏ chủ quyền của chúng tôi trên đảo Hải Nam. Quần đảo Spratly được hoàn trả cho Trung Hoa Dân Quốc đồng thời với việc thu hồi Ðài Loan khỏi tay Nhật Bản. Từ nhiều năm rồi binh sĩ của chúng tôi đã trú đóng ở trên hòn đảo chính của nhóm Spratly. Chúng tôi cuơng quyết làm những gì có thể được để phòng vệ quần đảo này. Tôi thấy cần phải nói rõ là quân đội của chúng tôi có bổn phận phòng vệ lãnh thổ ủy thác cho họ.

Hỏi: Liệu có thể có việc Trung Quốc tấn công nhóm Spratly không?

Ðáp: Vì cộng sản có thể tính toán lầm nên chúng tôi không thể gạt bỏ việc đó được”.

Có 4 điểm đáng chú ý trong các câu trả lời của Tưởng Kinh Quốc:

Thứ nhất, Tưởng Kinh Quốc làm như hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đương nhiên thuộc về Trung Quốc rồi nên không đưa ra một bằng chứng nào để chứng minh chủ quyền thuộc về Trung Quốc. Cũng vì thế tuy ông ta nói là “Chúng ta cần phải duyệt lại lịch sử các quần đảo này”, nhưng nói xong bỏ đấy, ông ta không đề cập tới lịch sử đó mà chỉ nói về sự từ bỏ chủ quyền trên Hoàng Sa và việc thu hồi cùng bảo vệ Trường Sa. Do đó, những ai muốn tìm hiểu xem vì lý do nào Ðài Loan nhận có chủ quyền trên hai quần đảo này không còn cách nào biết được.

Thứ hai, việc Trung Hoa Dân Quốc duy trì lực lượng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Tưởng Kinh Quốc nói ở đây chính là một phần của hệ thống phòng thủ đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Thứ ba, cũng vì lý do này, theo ông ta, việc Ðài Loan từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc cũng giống việc từ bỏ chủ quyền đối với đảo Hải Nam. Nó không có nghĩa là Ðài Loan từ bỏ chủ quyền trên quần đảo này. Nói cách khác, Tưởng Kinh Quốc ngụ ý là dù cho quần đảo Hoàng Sa có rơi vào tay Trung Quốc thì nó vẫn còn thuộc chủ quyền của Trung Quốc, chứ không phải là của nước khác.

Thứ tư, ông ta cũng đề cập tới việc quần đảo Trường Sa hoàn trả cho Trung Hoa Dân Quốc và phòng thủ Trưòng Sa, không có thêm chi tiết gì mới lạ. Có lẽ ông không biết, hay biết mà lờ không nói đến tính cách bất hợp pháp của cái mà ông ta gọi là “hoàn trả” này.

Sau 1975 cho đến nay, Đài Loan vẫn chiếm giữ trái phép đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và liên tục xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự như đường băng, pháo đài, nhà ở …

Trước đó, Đài Loan đã bố trí lực lượng Hải quân và Thủy quân lục chiến trên đảo này. Nhưng năm 1999, vì lý do khó khăn về hậu cần cho nên các lực lượng này phải rút quân và bàn giao lại cho lực lượng phòng thủ bờ biển. Một số năm gần đây, Bộ quốc phòng Đài Loan lo ngại trước sự ra tăng của Hải quân Trung Quốc ở khu vực này và đã nhiều lần đề cập tới việc đưa Hải quân trở lại đảo Ba Bình.

Tháng 11/2007, Đài Loan đã khởi công xây dựng lại đường băng trên đảo Ba Bình, xây dựng “bia kỷ niệm công trình” và tiến hành các hoạt động viếng thăm cao cấp tới đảo này. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có phản ứng về việc này.

Theo ông Shih Yi-che, phát ngôn viên thuộc lực lượng phòng thủ bờ biển Đài Loan cho biết, hiện nay Đài Loan đang có 3 tàu tuần tra ở khu vực Trường Sa và sẽ tiếp tục điều thêm các tàu khác tới khu vực này, vì ông cho rằng hiện nay khu vực này đang gia tăng sự hoạt động của các tàu cá nước ngoài.

Bên cạnh đó Đài Loan liên tục tuyên bố chủ quyền thông qua ngoại giao, ngày 08/5/2009 Bộ Ngoại giao Đài Loan đã lên tiếng tiếp tục khẳng định chủ quyền của họ đối với nhiều nhóm đảo trên Biển Đông sau khi Việt Nam và Malaysia gửi đơn lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc (CLCS) yêu cầu mở rộng đường danh giới phía ngoài thềm lục địa.

Động thái tăng cường lực lượng phòng thủ bờ biển của Đài Loan tới đảo Ba Bình là vi phạm tới chủ quyền của Việt Nam; lý do điều động tăng cường lực lượng chống sự gia tăng của các tàu cá nước ngoài chỉ là vỏ bọc cho những hành động nhằm tiếp tục khẳng định chủ quyền bất hợp pháp của Đài Loan đối với đảo Ba Bình.

Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, vị trí địa lý và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa./.

Đinh Kim Phúc

Ngày đăng: 17.6.2009 – Số lượt xem : 940

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=10418&LOAIID=17&LOAIFID=5&TGID=814

QUÁNG GÀ LỤY CÁO GIÀ
Nguyễn Hữu Vinh
14.12.2007
1. Thừa cơ, hở cơ
Tháng 10-2007: Trung Quốc quảng cáo du lịch ra quần đảo Hoàng Sa. Nhật báo Công nhân Trung Quốc đã trích lời một viên chức Chính phủ nói về vấn đề này [1].
Ngày 16-10-2007: Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu bầu Việt Nam vào vị trí thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an khóa 2008-2009. Là thành viên chính thức của Hội đồng Bảo an, lá phiếu ủng hộ của Trung Quốc rất quan trọng.
Ngày 16-11-2007: Trung Quốc tiến hành tập trận trong vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (kéo dài tới 23-11-2007).
Ngày 19-11-2007: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 khai mạc (kéo dài tới 21-11), có sự tham dự của Trung Quốc với một màn trình diễn rất ấn tượng với nước chủ nhà Singapore [2].
Ngày 23-11-2007: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố phản đối cuộc tập trận (ngày 16-11) của Trung Quốc [3].
2. Mất mặt
Ngày 23-8-2006: Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc [4].
(Trước đó) tháng 7-2006: Trung Quốc công bố “bản đồ chuẩn” trên mạng cho dân chúng xem, ngầm xác định “chủ quyền” những quần đảo đang tranh chấp.
Ngày 10-4-2007: Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng có chuyến thăm chính thức Trung Quốc [5].
Ngày 15-5-2007: Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết thăm Trung Quốc [6].
Đầu tháng 4-2007: hải quân Trung Quốc bắt giữ 4 tàu đánh cá của Việt Nam [7].
Ngày 10-4-2007 (ngay trong thời gian chuyến thăm của Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng): Trung Quốc cảnh báo Việt Nam về việc hợp tác với hãng BP Anh xây dựng đường ống khí đốt ở vùng biển Trường Sa [8].
Ngày 21-7-2007: đàm phán biên giới Việt-Trung [9] .
(Trước đó) Ngày 9-7-2007: tàu hải quân Trung Quốc nã súng vào một số tàu đánh cá Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa13.
(Sau đó) Ngày 10-8-2007: China Daily, tờ báo tiếng Anh của Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa tin, được Chính phủ thông qua, Sở Du lịch Hải Nam mở tuyến du lịch tới Hoàng Sa[10].
Ngày 27-11-2007: đàm phán biên giới Việt-Trung [11] trên biển và đất liền.
(Trước đó) Ngày 16-11: Trung Quốc tiến hành tập trận trong vùng quần đảo Hoàng Sa3.
(Cùng lúc đó) Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa trực tiếp quản lý ba quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
3. “Nướng dân đen…”
Ngày 8-1-2005: tàu hải quân Trung Quốc bắn chết 9, và làm bị thương nhiều ngư dân Việt Nam [12] . Người phát ngôn Trung Quốc nói đó là những tàu “ăn cướp có vũ trang nghiêm trọng trên biển”. Cho đến nay chưa có thông tin chính thức nguyên nhân, diễn biến (từ các nhân chứng, chính quyền).
Đầu tháng 4-2007: hải quân Trung Quốc bắt giữ 4 thuyền đánh cá Việt Nam (gồm 41 người) [13] hoạt động trong vùng biển gần Trường Sa.
Ngày 27-6-2007 tàu hải quân Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam. Sáu công nhân trên tàu bị thương [14] .
Ngày 9-7-2007: hải quân Trung Quốc nã súng vào ngư dân Việt Nam [15] , một người thiệt mạng. Hai tàu chiến của Việt Nam đến hiện trường nhưng bị hỏa lực Trung Quốc quá mạnh nên không thể đến gần.
Tháng 8-2007, nhiều tàu của ngư dân Việt Nam bị bắt, nhiều người bị bắn chết, bị thương [16].
4. Dằn mặt
Từ tháng 1 đến tháng 4-2007: dầu tràn trên Biển Đông, khả năng từ một giàn khoan của Trung Quốc tại đảo Hải Nam [17] , gây thiệt hại nhiều cho Việt Nam. Có đầy đủ điều kiện để truy tìm (ảnh vệ tinh, giám định loại dầu…) nhưng cho tới nay vẫn chưa có công bố chính thức nguyên nhân.
Ngày 31-5-2007: tàu huấn luyện hàng hải của Mỹ USS Golden Bear vào Hải Phòng[18].
Ngày 15-7-2007, tàu Bệnh viện USS Peleliu của Mỹ cập cảng Đà Nẵng [19] .
Ngày 14-11-2007: 2 tàu chiến Mỹ vào cảng Hải Phòng [20] .
Cuối tháng 11-2007: Trung Quốc không cho tuần dương hạm Mỹ Kitty Hawk cùng nhóm chiến hạm của tàu vào Hong Kong dự lễ Tạ Ơn [21] .
Trước đó, Trung Quốc đã không cho tàu quét mìn của Mỹ vào cảng Hong Kong [22] để tránh bão và lấy nhiên liệu.
Ngày 4-12-2007: Trung Quốc “bày tỏ quan ngại nghiêm trọng” với Mỹ về việc hàng không mẫu hạm Mỹ đi qua eo biển Đài Loan [23] (sau khi không được cập cảng Hong Kong).
5. “Cùng hội khác thuyền”
Tháng 11-2007, Đài Loan xây dựng lại đường băng và bia kỷ niệm công trình trên đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa [24] .
6. “Đánh trống rớt dùi”
Tháng 3-2004: Việt Nam quảng cáo chương trình du lịch lặn biển ở các đảo phía Nam, trong đó có Trường Sa, bắt đầu chuyến 19-4-2004. Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà cũng nói tới kế hoạch này khi ở Singapore [25] . Trung Quốc đã phản ứng giận dữ một ngày sau khi nghe tin. Sau đó, không thấy nói về chương trình du lịch này nữa.
Hợp đồng thăm dò dầu khí, lắp đặt đường ống khí đốt tại vùng biển Trường Sa trị giá 2 tỉ đô-la đang được tiến hành. Tháng 4-2007 Trung Quốc “cảnh báo” về việc này, tháng 6-2007, BP tuyên bố ngừng dự án [26] . Tập đoàn dầu khí khổng lồ của Anh BP hiện đang cung cấp khí gas phục vụ tới 40% nhu cầu điện năng của Việt Nam.
7. Điệp khúc “Bài thán ca buồn”
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam:

Ngày 1-6-2002: “… Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… [27] “

Ngày 14-7-2006: “… Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam… [28] “
Ngày 24-11-2007: “… Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… [29] “
Ngày 3-12-2007: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… [30] “
8. Lú
Ngày 10-4-2007: tại Trung Quốc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng “Chưa bao giờ quan hệ hợp tác hữu nghị Việt – Trung tốt như hiện nay” [31]
Ngày 10-4-2007: Trung Quốc cảnh báo Việt Nam về việc hợp tác với hãng BP Anh xây dựng đường ống khí đốt ở vùng biển Trường Sa8.
9. “Được đằng chân lân đằng đầu”
Trung Quốc: trong cả năm 2007, liên tục nhiều động thái khẳng định chủ quyền trong vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Việt Nam: đều chỉ lên tiếng phản đối qua “Người phát ngôn” (có lúc chỉ nêu việc tàu đánh cá Việt Nam bị “một số nước” bắt giữ), nhưng lại “khen” mối quan hệ “hợp tác hữu nghị”[31].
Cuối tháng 11-2007 Quốc vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa trực tiếp quản lý ba quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
10. “Dồn tới gầm chuồng”
Ngày 9-12-2007: hàng trăm thanh niên (có cả nhà báo, nghệ sĩ…) Việt Nam biểu tình trước Sứ quán và Lãnh sự quán Trung Quốc tại Hà Nội và TPHCM [32] (sự kiện chưa từng có trong ngót 30 năm qua), thái độ kiên quyết với hành động của Trung Quốc, nhưng lại dè dặt với chính quyền, e ngại bị “phiền phức”.
Tại TPHCM, chính quyền đã cử các ông phó chủ tịch thành phố, bí thư Thành đoàn tới gặp gỡ người biểu tình [33] .
Phản ứng của dân chúng trên mạng internet, điện thoại di động rất dữ dội, thậm chí còn có tin hacker đã tấn công website của Trung Quốc [34] . Nhiều ý kiến bất bình với thái độ không rõ ràng của chính quyền, không cho báo chí đưa tin, lên tiếng.
Ngày 10-12-2007: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố [35] “đây là việc làm tự phát, chưa được phép của cơ quan chức năng Việt Nam…” (Hiến pháp Việt Nam cho phép biểu tình “theo quy định của pháp luật [36] “, nhưng chưa có Luật Biểu tình. Ngót 30 năm qua, ở Việt Nam chưa có cuộc biểu tình nào “được phép”).
Ngày 11-12-2007: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố [37] “… quan ngại về những diễn biến mới đây ở Việt Nam. Điều đó sẽ làm tổn hại quan hệ tốt đẹp giữa hai nước“.
Ngày 12-12-2007: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam không có phản ứng về tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc [38] .
Rất có thể sẽ có những người của nhà nước (nhà báo, cán bộ, văn nghệ sĩ,…) gặp phiền toái, bị kỷ luật vì phản đối hành động của Trung Quốc ở Hoàng Sa, Trường Sa nhưng không theo cách của Đảng và Nhà nước đã làm trong nhiều năm nay.

© 2007 talawas
________________________________________
[1]VOA, ngày 12/10/2007
[2]BBC, ngày 18/11/2997
[3]Tiền Phong, ngày 24/11/2007
[4]VietNamNet, ngày 15/8/2006
[5]VietNamNet, ngày 16/4/2007
[6]VietNamNet, ngày 15/5/2007
[7]BBC, ngày 19/7/2007
[8]BBC, ngày 11/4/2007
[9]BBC, ngày 29/7/2007
[10]BBC, ngày 19/8/2007
[11]VietNamNet, ngày 29/11/2007
[12]Thanh Niên, ngày 12/1/2005
[13]BBC, ngày 19/7/2007
[14]BBC, ngày 23/10/2007
[15]BBC, ngày 19/7/2007
[16]BBC, ngày 23/10/2007
[17]Tuổi Trẻ, ngày 28/4/2007
[18]VietNamNet, ngày 1/6/2007
[19]VietNamNet, ngày 16/7/2007
[20]BBC, ngày 14/11/2007
[21]BBC, ngày 7/11/2007
[22]Tuổi Trẻ, ngày 7/12/2007
[23]VOA, ngày 5/12/2007
[24]VietNamNet, ngày 15/11/2007
[25]BBC, ngày 3/4/2004
[26]BBC, ngày 14/6/2007
[27]VietNamNet, ngày 1/6/2002
[28]Thanh Niên, ngày 14/7/2006
[29]Tuổi Trẻ, ngày 24/11/2007
[30]Tuổi Trẻ, ngày 4/12/2007
[31]Tiền Phong, ngày 11/4/2007
[32]BBC, ngày 10/12/2007
[33]Blog Câu Lạc Bộ Nhà báo Tự do
[34]VietNamNet, hồi 8giờ 50′ ngày 8/12/2007:” Đêm 7/12 vừa qua, Báo điện tử VietNamNet đã nhận được thông tin của độc giả gửi qua email về việc một số website của Trung Quốc đã bị tấn công. mục đích của hành động này nhằm lên án việc Quốc vụ viện nước này thông qua việc thành lập thành phố Tam Sa, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam…”
[35]Tuổi Trẻ, ngày 10/12/2007
[36]Hiến pháp nước CHXHCNVN, 1992, Điều 69:Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
[37]BBC, ngày 11/12/2007
[38]Năm 1988, sau khi tàu chiến của hải quân Trung Quốc khiêu khích, bắn cháy ba tàu vận tải của Việt Nam, giết hại 74 quân nhân Việt Nam, ngăn cản Việt Nam cứu hộ những người bị thương … Chính phủ CHXHCNVN đã thông báo cho Liên hợp quốc, liên tục gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh các ngày 17, 23, 26-3-1988 (theo Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Lưu Văn Lợi, NXBCAND, 1995, tr. 154).
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://anhbasam.com/quang-ga-l%E1%BB%A5y-cao-gia/

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. nhìn vào bản dồ biển dông,chúng ta thấy rõ dã tâm bành trướng của hán cộng bá quyền,dân tộc vn quyết tâm lấy lại dảo,dất,biển,rừng và tài nguyên của dất nước dã mất vào tay hàn cộng,trước nhất là dân tộc vn phải sớm hạ bệ bè lũ tay sai cộng sản vn,khi dân tộc có dược tự do,dân chủ thì dất nước mới có dược dộc lập vinh quang./.

    Bình luận bởi H2SG — 14/09/2010 @ 4:22 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: