Hoàngquang’s Blog

10/09/2010

Trung Quốc liệu đã đủ mạnh để làm cường quốc kinh tế thứ hai thế giới?

Filed under: Trung Quốc — hoangquang @ 10:41 sáng
Tags:

08/09/2010 by Dân Báo

Thuỷ triều đỏ đang dâng
LIỆU VIỆT NAM CÓ LIÊN MINH VỚI MỸ?

Trước mắt, những gì người ta đang thấy về sự phát triển mất cân đối của kinh tế Trung Quốc thật cũng chẳng khác mấy so với hình ảnh những em bé với cái đầu phình to quái dị do dùng sữa bột dỏm từng hoành hành nước này…


Mạnh Kim tổng hợp
An Ninh Thế Giới
Chỉ hai tuần sau khi Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương kiêm Giám đốc Cơ quan Quản lý ngoại hối quốc gia Dịch Cương phát biểu trong một cuộc phỏng vấn và nói rằng: “Trung Quốc đang thật sự là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, công bố từ Nhật đã chứng thực nhận định trên, với thống kê cho biết kinh tế Nhật trị giá khoảng 1,28 ngàn tỉ USD vào quý II 2010, thấp hơn so với 1,33 ngàn tỉ USD của Trung Quốc trong cùng thời gian.

Trong “Trung Quốc mộng”, tác giả Lưu Minh Phúc tin rằng một thế kỷ với sự thống trị tuyệt đối của Trung Quốc đang gần kề.
Tuy nhiên, liệu yếu tố “sức mạnh của cơ bắp GDP” có đủ để cho thấy thể trạng cường tráng tương ứng của nền kinh tế Trung Quốc?
Trung Quốc là mô hình kinh tế tiêu biểu? Quên đi!
Chẳng ai có thể lập một mệnh đề đủ sức thuyết phục để phủ định sự phát triển nhảy vọt của kinh tế Trung Quốc. Cách đây một thập niên, Trung Quốc còn được xếp hạng 6 thế giới xét theo GDP, sau Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp. Năm 2000, GDP Trung Quốc là 1,07 ngàn tỉ USD so với 4,84 ngàn tỉ USD của Nhật. Và rồi năm 2005, Trung Quốc qua mặt Anh và Pháp; tiếp đến là Đức năm 2007; và bây giờ là Nhật. Một số dự báo lạc quan thậm chí nói rằng, Trung Quốc có thể qua mặt Mỹ để chiếm vị trí số 1 kinh tế thế giới trong chừng một thập niên nữa. Sự phát triển kinh tế Trung Quốc mang ít nhiều màu sắc “thần kỳ” đã khiến giới bình luận nước này hứng khởi đến mức tự tin nhận định rằng thế giới nên đi theo “mô hình Trung Quốc”; và trong thực tế, có vài nước đã “copy nguyên con” (nguyên văn: “complete replication”) mô hình Trung Quốc và “nhờ vậy mà thành công”.
Tiếp đó, tháng 3/2010, đại tá Lưu Minh Phúc (Liu Mingfu) – Giáo sư, Giám đốc Viện Nghiên cứu xây dựng quân đội thuộc Đại học Quốc phòng Trung Quốc – tung ra quyển “Trung Quốc mộng” (Giấc mơ Trung Quốc) trong đó bàn về vấn đề “Trung – Mỹ thế kỷ đối quyết” (Quyết tâm đối đầu Mỹ trong thế kỷ XXI để trở thành siêu cường số 1 thế giới về mọi mặt)… Tuy nhiên, liệu sức bật kinh tế, thể hiện ở những thống kê GDP liên tục tăng trưởng, có hội tụ để trở thành một sức mạnh toàn diện và đồng nhất đủ sức đưa Trung Quốc thăng hoa lên vị trí số 1 như những dự báo đầy lạc quan?
Trong thực tế, GDP chỉ cho thấy Trung Quốc có nhiều tiền hơn chứ không hề giàu có và thịnh vượng hơn. So với tất cả những nước mà Trung Quốc đã qua mặt về GDP, nước này vẫn là một quốc gia đang phát triển, nghèo nàn và lạc hậu, hơn là một quốc gia tiến bộ đồng đều với lực lượng lao động trình độ cao cùng một diện mạo xã hội ấm no, hạnh phúc và công bằng. Trung Quốc vẫn sẽ ì ạch chạy theo sau Nhật, Anh hay Đức một thời gian rất dài, thậm chí đủ dài để có thể mãi mãi… không theo kịp, bởi những nước trên tất nhiên sẽ chẳng giậm chân tại chỗ.
Theo Ngân hàng Thế giới, GDP đầu người Trung Quốc hiện nhỉnh hơn 3.600 USD (năm 2009), xếp thứ 124 thế giới (không bằng 1/10 của Nhật và Mỹ; và không bằng 1/6 của Pháp và Anh). Mức GDP/đầu người hiện tại của Trung Quốc thật ra chỉ tương đương Nhật năm 1973! Một số nhà phân tích cho rằng phải đến ít nhất năm 2050, GDP/đầu người Trung Quốc mới có thể bắt kịp mức GDP/đầu người của các nước phát triển vào thời điểm năm 2009. Những thống kê so sánh GDP Nhật-Trung cũng chẳng cho thấy Nhật vì ít hơn mà kém hơn Trung Quốc hay ngược lại. Xét ở góc độ phát triển kinh tế, Trung Quốc đang thua Nhật ở nhiều lĩnh vực. Trong khi tỉ lệ nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đối với tỉ trọng nền kinh tế tại Nhật là 2%, 30% và 69% (theo thứ tự tương ứng), thì tại Trung Quốc, tỉ lệ trên là 12%, 48% và 40%.
Nói cách khác, trong khi Nhật là nước công nghiệp thì Trung Quốc vẫn là quốc gia mang đậm màu sắc và “phong thái” của nền “văn minh lúa nước”. Với Nhật, sức mạnh kinh tế của họ là kỹ thuật cao trong khi công nghiệp Trung Quốc chủ yếu là bán sức lao động với giá rẻ mạt cho gia công làm mướn. Năm 2008, đầu tư nước ngoài của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, từ 25 tỉ USD lên 50 tỉ USD. Tuy nhiên, ngay cả ở yếu tố phủ sóng toàn cầu này, Trung Quốc vẫn còn thua xa Mỹ, với 318 tỉ USD…

Môi trường ô nhiễm – vấn đề xã hội nhức nhối và là rào cản cho phát triển kinh tế Trung Quốc lâu dài.
Một cơ thể phát triển mất cân đối
Trung Quốc khó có thể là “mô hình lý tưởng” mà các nước “cần noi theo”. Như tác giả Dịch Hiến Dung (Yi Xianrong), Giám đốc Viện Tài chính thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, viết trên Tân Hoa xã (9/8/2010), rằng “chất lượng nền kinh tế Trung Quốc không thể so bì với phương Tây”. Từ năm 2003 đến nay, kinh tế Trung Quốc được vận hành theo mô hình dựa vào hai cột chống: thị trường xuất khẩu và bất động sản. Sự bùng nổ thị trường bất động sản, dù “bồi bổ” nhiều cho sự “tăng trưởng chiều cao” GDP trên các biểu đồ hàng năm, nhưng cùng lúc nó cũng cho thấy rõ sự quản lý kém về tài nguyên đất đai dẫn đến hiện tượng đầu cơ và cuối cùng giá bị đội lên đến chóng mặt.
“Nếu sự phát triển của Trung Quốc tiếp tục lệ thuộc vào những lĩnh vực này, sự phát triển kinh tế quốc gia sẽ bị biến dạng nghiêm trọng” – ông Dịch nhận định. Hơn nữa, “lực sĩ kinh tế” Trung Quốc không là một vận động viên có thể hình hoàn hảo. Trong khi “bắp thịt” GDP cuồn cuộn căng phồng, nhiều cơ quan khác lại chứng kiến hiện tượng teo cơ! Trước hết, đó là sự mất cân đối giữa phát triển nông thôn và thành thị, biến thành cái hố không chỉ sâu mà còn rộng, khiến khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách giữa trù phú và xác xơ, trở nên một trời một vực.
Báo cáo chính thức từ Cơ quan Thống kê Trung Quốc công bố đầu năm 2010 cho biết, khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn hiện là 3,33/1 vào năm 2009 – mức cao nhất kể từ năm 1978. Sự thiếu hiệu quả và không công bằng trong hệ thống chăm sóc y tế Trung Quốc được Tổ chức Y tế thế giới xếp hạng 188 trong 191 quốc gia (tạp chí Forbes 24/8/2010)! Yếu tố mất cân đối thứ hai là giữa các khu vực. Trong khi kinh tế khu vực duyên hải đang tiệm cận sự ngang bằng với những thành phố tại các nước phát triển, khu vực ở giữa lại tụt hậu đến 10-20 năm. Tỉnh thành càng nằm giữa đất nước Trung Quốc càng còi cọc, èo uột. Yếu tố mất cân đối thứ ba là sự phân phối thu nhập.
Giáo sư Dịch đã nói thẳng ra rằng, “thu nhập của một cá nhân (Trung Quốc) chịu ảnh hưởng mạnh bởi mức độ gần gũi thế nào của anh ta với quyền lực. Càng xa quyền lực chính quyền, anh ta càng kém giàu”. Giáo sư Dịch kết luận: “Nếu những vấn đề trên không được giải quyết, chất lượng phát triển kinh tế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nặng nề và Trung Quốc sẽ đối mặt với nhiều khó khăn nghiêm trọng trong tương lai. Sự phát triển nhanh GDP sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu những bất cân đối trên không được giải quyết”.
Những vấn đề nội tại kinh tế Trung Quốc không chỉ có bấy nhiêu. Sau ba thập niên hùng hục phát triển, kinh tế Trung Quốc đã cùng lúc tàn phá nghiêm trọng môi trường, khiến tình trạng thiếu nguồn nước sạch trở thành vấn đề cấp bách mang tính sinh tử (thiếu nước dẫn đến thiếu lương thực). Còn nữa, đó là tình trạng dân số già nhanh trong khi lực lượng lao động thay thế chưa kịp bổ sung. Đến trước năm 2050, thời điểm mà họ Lưu trong “Trung Quốc mộng” đã “mơ thấy” Trung Quốc hội tụ đủ sức mạnh để phóng chiếu quyền lực của họ khắp thế giới, 31% dân số Trung Quốc sẽ bước sang tuổi lục tuần hoặc hơn, so với 1/4 tại Mỹ. Không chỉ đối mặt với viễn cảnh dân số già, Trung Quốc còn chứng kiến hiện tượng chảy máu chất xám. Năm 2009, 65.000 người Trung Quốc đã xin di trú hoặc được cấp thường trú nhân tại Mỹ, 25.000 tại Canada và 15.000 tại Australia.
Tháng 7/2010, Quốc Vụ viện Trung Quốc công bố Kế hoạch quốc gia trung – dài hạn về phát triển nhân tài (giai đoạn 2010-2020) với mục tiêu “Trung Quốc sẽ bước vào nhóm các quốc gia hàng đầu về nguồn nhân tài kiệt xuất” vào năm 2020. Người lãnh đạo Cơ quan Tổ chức trung ương Lý Nguyên Triều (Li Yuanchao), gần đây hồ hởi loan rằng “Trung Quốc đang bước vào làn sóng thứ ba của việc thu dụng nhân tài từ nước ngoài trở về” (làn sóng thứ nhất gồm những người như Tôn Dật Tiên, Chu Ân Lai…; làn sóng thứ hai là các nhà khoa học chẳng hạn nhà nghiên cứu tên lửa Tiền Học Sâm hay chuyên gia hạt nhân Tiền Tam Cường).
Tuy nhiên, thực tế lại khác. Tính đến tháng 5/2010 (kể từ khi được phát động vào tháng 1/2009), Chương trình 1.000 tài năng (kêu gọi 1.000 Hoa kiều hải ngoại trở về đóng góp cho quê hương) chỉ mới thu hút được khoảng 600 người (theo Asia Times ngày 10/8/2010)…
Giới đầu tư Trung Quốc được thế giới đón nhận như thế nào?
Có lẽ không cần nhắc chi tiết các thương vụ đầu tư Trung Quốc ở mọi ngóc ngách thế giới, từ châu Phi đến Trung Á, chủ yếu khai thác tài nguyên, từ dầu hỏa, đồng đến nickel (từ 2003-2008, đầu tư nước ngoài trực tiếp của Trung Quốc tăng từ 75 triệu USD lên 5,5 tỉ USD tại châu Phi; từ 1 tỉ USD lên 3,7 tỉ USD tại Mỹ Latinh; từ 1,5 tỉ USD lên 43,5 tỉ USD tại châu Á). Tuy nhiên, sự lớn mạnh và bành trướng những thương vụ đầu tư nước ngoài không tỉ lệ thuận với thái độ trân trọng của một số nước dành cho thương nhân Trung Quốc. Tháng 8/2009, loạt xích mích giữa người địa phương Algeria với giới đầu tư Trung Quốc đã biến thành bạo động (nhiều cửa hàng Trung Quốc bị đập phá và giới thương gia địa phương còn tung chiến dịch tẩy chay Trung Quốc).
Tại Papua New Guinea, tháng 5/2009, làn sóng bài Trung Quốc thậm chí nghiêm trọng hơn với sự tham gia của hàng ngàn người địa phương (một người quá khích thậm chí nói rằng, nếu có một nhóm được thành lập với mục đích tống khứ người Hoa khỏi lãnh thổ mình, anh ta sẽ là người đầu tiên nhập cuộc. Theo Time 7/12/2009). Năm 2006, khu phố Tàu tại Honiara (Solomon Islands) đã bị tấn công dữ dội. Trong cùng thời gian, loạt bạo động nhằm vào người Hoa cũng bùng nổ ở Lusaka (Zambia)…
Tại sao xảy ra những vụ đụng độ trên? Vấn đề ở chỗ giới đầu tư Trung Quốc luôn mang theo những binh đoàn lao động từ nước mình đến, đã bị cáo buộc làm rối loạn tình hình lao động địa phương khiến gây thất nghiệp; và nếu có sử dụng lao động địa phương, họ lại chèn ép tiền lương và bóc lột trắng trợn bất chấp luật lao động sở tại… Trong một số trường hợp, giới đầu tư Trung Quốc cũng bị lên án việc hối lộ giới chức chính phủ để được trúng thầu. Những cuộc đi đêm như thế thậm chí dẫn đến không ít vụ can thiệp bí mật mang tính khuynh loát giới chính trị sở tại cốt để được sở đắc quyền lợi kinh tế…

Vị trí hạng 2 thế giới về kinh tế của Trung Quốc qua biếm họa nhiều ý nghĩa trên một tờ báo chính thống nước này (China Daily).

Bất luận thế nào, Trung Quốc vẫn muốn chứng tỏ, bằng cách này hay cách kia, rằng họ có thể làm được tất cả, nhờ vào tư thế của vị trí siêu cường kinh tế (sức mạnh kinh tế ở thế giới toàn cầu ngày nay đồng nghĩa với sức mạnh chính trị). Và do vậy, từ thời điểm này, họ đã bắt đầu học (và hành) cách ứng xử như một siêu cường. Điều đó đã thể hiện ở tư duy bá chủ trong “Trung Quốc mộng”, trong những bài xã luận của giới báo chí Trung Quốc (chẳng hạn cây bút bình luận Lý Hồng Mai của tờ Nhân dân nhật báo, người mà mới đây, trong bài viết ngày 17/8, đã “khuyên” Việt Nam không nên “chơi với lửa” khi quốc tế hóa vấn đề biển Đông), trong những phát biểu này nọ tại các hội thảo hay trên những diễn đàn Internet… Tuy nhiên, như đã nói ở trên, nội lực kinh tế Trung Quốc vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết khiến giấc mơ siêu cường thật sự vẫn còn nằm ở “giai đoạn” mộng mị hoang tưởng…
Trước mắt, những gì người ta đang thấy về sự phát triển mất cân đối của kinh tế Trung Quốc thật cũng chẳng khác mấy so với hình ảnh những em bé với cái đầu phình to quái dị do dùng sữa bột dỏm từng hoành hành nước này…
Nguồn: An Ninh Thế Giới
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://danlambao.wordpress.com/2010/09/08/trung-qu%E1%BB%91c-li%E1%BB%87u-da-d%E1%BB%A7-m%E1%BA%A1nh-d%E1%BB%83-lam-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-qu%E1%BB%91c-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%A9-hai-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi/#more-2283

____________

Đăng bởi anhbasam on 08/09/2010
The Daily Caller
Thuỷ triều đỏ đang dâng

Chet Nagle
Ngày 6-9-2010
Ít năm trước đây, các nhà phân tích chính trị, kinh tế và quân sự cho rằng, Trung Quốc có thể chặn lối tiếp cận tới tây Thái Bình Dương vào năm 2025. Và dự đoán của họ đã sai.
Mùa hè này, Trung Quốc đã tung bàn tay sắt, tuyên bố chủ quyền với toàn bộ vùng biển từ Việt Nam đến Philippines, và từ bán đảo Lôi Châu tới Borneo giàu dầu lửa. Trong khi Lầu Năm Góc lên kế hoạch giảm bớt lực lượng hải quân, các tuyến thương mại Thái Bình Dương đang chuyển dần về phía kiểm soát của Trung Quốc, các đồng minh của Mỹ tại châu Á bị cuốn về phía Bắc Kinh và tự do trên biển cũng sụt giảm.
Như thường lệ, Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ lại có bước đi sai lầm. Thay vì xây dựng lực lượng gìn giữ hoà bình hùng mạnh, Tổng thống Obama lại nỗ lực “ve vãn” Trung Quốc bằng tuyên bố coi nước này là “đối tác” của Mỹ và kêu gọi tăng cường trao đổi quân sự. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân – Đô đốc Mike Mullen và Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ – Đô đốc Gary Roughead, đã vui vẻ giúp Bắc Kinh tận dụng lợi thế từ chính sách nhượng bộ của Nhà Trắng.
Cuối cùng thì mục đích từ “đối tác của Mỹ” đã được sáng tỏ vào ngày 29/7 khi Trung Quốc tiến hành tập trận hải quân, vị chỉ huy cuộc tập trận ra tuyên bố “đây là sự chuẩn bị kỹ càng cho chiến đấu”, và sau đó, Bắc Kinh đưa ra khẳng định quả quyết có “chủ quyền không thể tranh cãi” với 1,3 triệu dặm vuông Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rõ ràng là bất ngờ khi Bắc Kinh không chú tâm tới ý tưởng quy tắc hành xử của bà cũng như chính sách “sức mạnh mềm” khó hiểu của Tổng thống Obama. Thể hiện rõ vai trò trong những ý tưởng kỳ quặc, Đô đốc Mullen nói, ông chỉ “tò mò” về sự phát triển mạnh mẽ tàu chiến, tàu ngầm, vệ tinh, tên lửa và máy bay của Trung Quốc. Những ngày này, khi giới phân tích cảnh báo, hải quân Trung Quốc sẽ vượt hải quân Mỹ vào năm 2015, ông mới thừa nhận có thể ông “lo lắng”.
Các nhà kinh tế học từng xem Trung Quốc như một nền kinh tế Thế giới Thứ Ba, phụ thuộc vào xuất khẩu và bế tắc khi mua cả núi nợ nần của Mỹ, giờ đây cũng bất ngờ như những chính khách và đô đốc Mỹ. Kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, thậm chí có thể trở thành nước đứng đầu vào năm 2025.
Và điều này là không quá khó khăn. Với tỉ lệ tăng trưởng mỗi năm 9% kể từ 1978, Trung Quốc có thể nhanh chóng vượt mặt Mỹ. Trung Quốc có hệ thống thống kế tính toán kém minh bạch, nên các con số có thể nghi ngờ, nhưng chắc chắn rằng, Trung Quốc ngày nay sử dụng nhiều năng lượng hơn mọi quốc gia khác trên thế giới. Họ vượt qua Mỹ nhanh hơn 4 lần so với dự đoán. Điều đó có nghĩa là ngành công nghiệp nặng và cơ sở hạ tầng Trung Quốc đang đang phát triển với tốc độ nguy hiểm, và sẽ cần thêm nhiều năng lượng, nguyên liệu thô hơn nữa. Trung Quốc cũng đang không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự để đảm bảo những gì họ muốn, khi nào họ cần bất chấp có người phản đối.
Bên cạnh việc tăng trưởng kinh tế tương đương như sự lan toả của một khối ung thư, Trung Quốc đang vận dụng quan điểm gây hấn, quả quyết trong các lĩnh vực tài chính, đối ngoại, cũng như quân sự.
– Dagong Global, cơ quan đánh giá mức độ tín nhiệm hàng đầu của Trung Quốc đã “giáng” tỉ lệ nợ của Mỹ từ AAA xuống AA và thăng hạng Trung Quốc lên tỉ lệ AA+. Sau khi bán 35 tỉ USD trái phiếu Mỹ, Trung Quốc giờ đây sở hữu khối nợ Mỹ ít hơn Nhật Bản. Bắc Kinh muốn thoát khỏi sự rủi ro của đồng đô la và tìm kiếm mua các loại tiền tệ mạnh hơn.
– Hơn 10.000 “công nhân” Trung Quốc ở Pakistan để “giúp đỡ đối phó thảm hoạ lũ lụt”. Thực tế là, họ đang tìm kiếm, đào các đường hầm trong núi để xây dựng một con đường an toàn cho cung cấp năng lượng tương lai của Trung Quốc. Bắc Kinh đã chi 5 tỉ USD mở rộng Kênh Panama nhằm vận chuyển nguyên liệu thô từ những dự án của họ ở châu Phi và Nam Mỹ trực tiếp về Trung Quốc.
– Sẵn sàng chi mạnh tay cho chiến tranh vũ trụ, chiến tranh ảo và một đội quân của 1,25 triệu người, Trung Quốc sẽ sớm đưa tàu sân bay vào đội tàu 275 chiếc của hải quân. Bên cạnh các tàu ngầm hạt nhân, tàu chiến và máy bay được trang bị tên lửa chống hạm, Trung Quốc sẽ còn thử nghiệm loại tên lửa đạn đạo có thể diệt tàu sân bay cách xa 1.000 dặm. Nghĩa là, sự tiếp cận của hải quân Mỹ với Đài Loan và Tây Thái Bình Dương đang dần chấm dứt.
Thêm vào đó, Trung Quốc đang phong toả nguồn tiếp cận kim loại đất hiếm quan trọng. Mỹ từng có một mạng lưới cung cấp nội địa các kim loại này, từ khai thác tới tinh luyện. Không lâu sau đó, Trung Quốc đột ngột phá giá thị trường thế giới, các mỏ khai thác và khu chế xuất của Mỹ đóng cửa. Gìơ đây, Bắc Kinh sản xuất 97% nguồn cung đất hiếm của thế giới. Một tháng trước đây, chính phủ Trung Quốc đã cắt giảm hạn ngạch xuất khẩu đất hiếm tới 72%. Và đây là điều không nhỏ.
Các kim loại đất hiếm khai thác ở Trung Quốc như samarium và thulium, là thành phần cốt yếu của xe tăng Abrams, tên lửa Hellfire, radar Aegis, và vô số trang thiết bị thương mại, quốc phòng công nghệ cao. Phải mất 15 năm để tái mở cửa các mỏ khai thác cũng như cơ sở tinh chế đất hiếm nội địa.
Mỹ có bị nhấn chìm trong dòng thuỷ triều đỏ đang lên? Cũng không hẳn. Nhưng còn quá nhiều việc phải làm và quá ít thời gian để thực hiện. Chính sách “sức mạnh mềm” của Tổng thống Obama là một điều nguy hiểm, một quốc hội mới của Mỹ cần sử dụng mọi biện pháp để chấm dứt điều này. Nếu thật bại, một tổng thống tương lai của Mỹ có thể phải cúi đầu trước người Trung Quốc giống như những quốc vương Ảrập.
Ông Chet Nagle là một người từng tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ và là tác giả cuốn Iran Covenant.

Người dịch: Nguyễn Hùng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010
Nguồn: The Daily Caller
++++++++
648. LIỆU VIỆT NAM CÓ LIÊN MINH VỚI MỸ?
Đăng bởi anhbasam on 07/09/2010
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ ba, ngày 07/09/2010
LIỆU VIỆT NAM CÓ LIÊN MINH VỚI MỸ?
(Bài đăng trên mạng XINHUANET của tác giả Lăng Đức Quyền – nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa Xã tại Hà Nội, hiện là Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế của THX, trực tiếp nghiên cứu vấn đề Việt Nam và quan hệ Trung – Việt)
TTXVN (Bắc Kinh 25/8)
Gần đây báo chí nói rất nhiều và bằng rất nhiều cách liên quan đến khả năng “Việt Nam và Mỹ liên minh với nhau đối phó với Trung Quốc”. Những dư luận như vậy tuy không dựa vào sự thật căn bản nhưng không phải hoàn toàn không có căn cứ.
Những thế hệ già trẻ lưu vong trung thành với chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũ vẫn còn nuôi giấc mộng “khôi phục chế độ”, “về lại quê hương”. Những người này không chỉ cực đoan căm thù Đảng Cộng sản Việt Nam, căm thù Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam, những người đó đã đánh đổ chúng, mà còn ghi xương khắc cốt thù hận Trung Quốc là người bạn đã ủng hộ Việt Nam giành thắng lợi trong chiến tranh chống Mỹ. Trước sau những người này vẫn nghĩ ông chủ cũ sẽ giúp họ trở lại nắm chính quyền, “giành lại những gì đã mất trong chiến tranh”. Nếu liên minh dựa vào Mỹ mà từ bỏ những thứ nói trên, liệu họ có còn hướng đi nào khác? Tuy nhiên, đám xác chết với những âm hồn tản mạn có được người Mỹ nhìn nhận trở lại như là “đồng minh” nữa hay khyoong? Có lẽ nhiều lắm cũng chỉ được coi là những tên lính hầu tiểu tốt mà thôi.
Còn có một số người Việt Nam phản bội, bỏ chạy khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam như Bùi Tín, Phó tổng biên tập cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, điên cuồng chống Cộng, mấy hôm trước còn ra sức kêu gào Việt Nam và “tất cả các quốc gia dân chủ” như Mỹ liên minh với nhau cùng chống lại “mối đe dọa từ Trung Quốc”.
Ở trong nước, Việt Nam cũng không phải không có người hoặc công khai hoặc ngấm ngầm chủ trương rước sói vào nhà. VIETNAMNET, một tờ báo mạng không thuộc dòng chính thống có thế mạnh ở Hà Nội từ đầu năm tới nay đã thông qua phương thức liên lạc, đối thoại với Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, đến phỏng vấn một số cựu quan chức ngoại giao cao cấp, tuyên truyền khuyến khích nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ, xây dựng “quan hệ đối tác chiến lược”, thậm chí thảo luận thăm dò khả năng liên kết thành “đồng minh” với Mỹ. Tuy nhiên, những quan chức tuy đã nghỉ hưu nhưng vẫn quan tâm tới chính trị nói trên vừa không đại diện cho Chính phủ của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa không phản ánh được ý nguyện của quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam là những người đã chịu nhiều hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhưng tại sao những người này lại ra sức cổ vũ, và lịch sử cũng như bối cảnh cá nhân của họ cũng là vấn đề rất đáng phải tìm hiểu.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam liệu có “liên minh” với Mỹ? Về lâu dài xin tạm gác lại, hãy nghe nhà lãnh đạo Việt Nam gần đây trịnh trọng tuyên bố và cam kết với thế giới:
– Trong bài phát biểu tại Hội nghị an ninh châu Á lần thứ 6 tổ chức ở Xinhgapo ngày 31/5/2009, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng (Ủy viên Bộ Chính trị TW ĐCSVN), tuyên bố nguyên tắc và lập trường của Việt Nam trong ngoại giao quốc phòng như sau: “Không liên minh quân sự, không liên kết với nước này chống lại nước khác, không cho phép nước ngoài xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, không chạy đua vũ trang, chỉ từng bước hiện đại hóa quân đội và tăng cường tiềm lực quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ quốc gia”.
– Ngày 14/8 năm này trong khi bày tỏ thái độ về những “vấn đề nóng” như sự kiện tàu chiến Mỹ tới thăm Việt Nam và quan hệ quân sự Việt – Mỹ, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã chính thức làm sáng tỏ và trình bày rõ như sau: “Một số đài báo phương Tây bình luận ầm ĩ, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ hải quân với Mỹ nhằm ‘cân bằng sức mạnh’ ở Biển Đông. Lối bình luận như trên không có căn cứ, thiếu hiểu biết về chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng tôi trước sau luôn thực hiện chính sách quốc phòng bảo vệ tổ quốc bằng cách dựa vào sức mình là chính. Chúng tôi luôn giữ quan điểm độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này chống lại nước kia”.
Ở Việt Nam không phải không có sự khác biệt và tranh cãi trong rất nhiều vấn đề lớn, cũng không cần phải ngạc nhiên trước những hiện tượng khác biệt và tranh cãi nói trên. Nhưng các nhà nghiên cứu và những nhà quan sát có trách nhiệm tuyệt đối không thể phóng đại vô hạn độ những thông tin mà một số người cố ý tạo ra với thái độ thiếu khách quan và không nghiêm túc, mà cần nhìn nhận những thông tin chuẩn xác và có độ tin cậy cao. Nếu nhào nặn tô vẽ, dùng tin đồn chuyển tải tin đồn, dẫn dụng phóng đại sẽ chỉ khiến công chúng hiểu sai vấn đề, gây hậu quả xấu cho toàn bộ công tác đối nội đối ngoại, mức độ tai hại sẽ rất khó lường!
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 năm 1986 đến nay, Việt Nam đã từng bước thay đổi đường lối đối ngoại liên minh với Liên Xô, “nghiêng hẳn” về Liên Xô mà các nhà lãnh đạo trước đó một thời thực hiện, chuyển sang đường lối ngoại giao “độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế”, “làm bạn với các nước trên thế giới”, “tranh thủ môi trường quốc tế hòa bình ổn định”. Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ giữa hai đảng hai nước, năm 1955 Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập khối ASEAN, tích cực phát triển quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế trên thế giới.
Gần đây, trong bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam cùng các bài viết đăng trên các báo lớn có uy tín ở Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh chính sách đối ngoại của Việt Nam: “Thi hành nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình và hợp tác, phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, tích cực chủ động hội nhập quốc tế; vừa là bạn đáng tin cậy vừa là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; phấn đấu cho một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”.
Trên thế giới, bất cứ quốc gia có chủ quyền nào cũng đều có quyền lựa chọn chế độ xã hội và chính sách đối nội đối ngoại của mình. Các nhà quan sát và nhà bình luận về các vấn đề quốc tế cần quan sát chính sách đối ngoại của một quốc gia một cách nghiêm túc và khách quan, nhận thức rõ đầu đuôi ngọn nguồn, phải trái trắng đen, phân biệt rõ đâu là mạch chính, đâu là mạch nhỏ, đâu là tiếng nói chủ yếu, đâu là tạp âm từ những tiếng nói khác nhau trong nội bộ một quốc gia. Đối với Việt Nam đương nhiên cũng không thể ngoại lệ.
Chính quyền và chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay là do Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam trải qua mấy chục năm phấn đấu gian khổ bằng xương máu mới giành lại được. “Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam. Mọi nước trên thế giới đều phải tôn trọng sự lựa chọn đó của nhân dân Việt Nam.
Mỹ và Việt Nam từng là “kẻ thù không đội trời chung” đánh nhau suốt mười mấy năm. Dòng thác lớn của thế giới ngày nay là hòa bình, hợp tác, phát triển. Việc “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” của hai “kẻ thù cũ” nói trên không những có lợi cho nhân dân hai nước, mà còn có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực. Trên thực tế, quan hệ Trung – Mỹ từ khi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc năm 1972 đến nay về đại thể cũng chẳng giống như vậy đó sao?
Là hai láng giềng núi sông liền một dải, việc người Trung Quốc quan tâm những thay đổi trong quan hệ Việt – Mỹ, và người Việt Nam quan tâm những thay đổi trong quan hệ Trung – Mỹ đều rất đỗi tự nhiên như vậy. Mọi người chúng ta không nên nhìn nhận một số biểu tượng trong quan hệ Việt – Mỹ một cách phiến diện và đơn giản hóa. Nhắm mắt làm ngơ trước sự thay đổi trong quan hệ Việt – Mỹ là điều ngốc nghếch, đánh giá quá mức mức độ quan hệ Việt – Mỹ cũng sẽ gây phức tạp cho chính mình.
Về mặt xử lý quan hệ song phương, Việt Nam và Mỹ có lợi ích chung nhưng mục tiêu và xuất phát điểm không giống nhau. Mọi người gần đây đã thấy một số biểu hiện nổi bật về sự “ấm lên” trong quan hệ Việt – Mỹ, nhưng thử hỏi mọi người có thấy Chính phủ Mỹ, chính khách Mỹ và các báo lớn ở Mỹ có ngừng lợi dụng “dân chủ”. “nhân quyền”, “tự do tôn giáo” và “tự do báo chí” để ngang ngược công kích Đảng Cộng sản Việt Nam hay Chính phủ Việt Nam hay không? Một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ gần đây còn lên tiếng ầm ĩ đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách đen với các “quốc gia đi ngược lại tự do tôn giáo” do Chính phủ Mỹ tự đặt ra!
Có một chủ đề vẫn luôn được các nhà lãnh đạo và dòng báo chí chủ lưu của Đảng, của quân đội Việt Nam tuyên truyền từ rất nhiều năm nay là đề phòng và chống lại âm mưu gây “cách mạng màu sắc”, “diễn biến hòa bình và tự diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch. Những vụ án cũng như sự thực về việc can thiệp thô bạo vào các công việc nội bộ của Việt Nam được báo chí chủ lưu công khai đưa tin cũng đủ khiến người ta phải giật mình, hơn nữa đó cũng chỉ là một phần chứ hoàn toàn không phải toàn bộ.
Lôi kéo và gây sức ép luôn là phương châm cơ bản của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam từ 15 năm qua. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam gần đây đã tổ chức hội nghị liên tịch, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh xã hội.
Không nên chỉ chú ý đến những lời đường mật của Ngoại trưởng Mỹ phát biểu tại Hà Nội hồi cuối tháng 7 vừa qua, mà còn phải thấy nước Mỹ và thế lực chính trị do Mỹ nuôi dưỡng đang ngấm ngầm muốn làm gì tại Việt Nam.
Trở lại chủ đề bài viết qua dòng tựa đề nói trên – Việt Nam liệu có liên minh với Mỹ? Người nhiều tư cách nhất có thể trả lời câu hỏi này là thực thực, là người lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt – Mỹ, mà các vị độc giả cũng không khó để đưa ra được những nhận định và kết luận của riêng mình./.
649. Thuỷ triều đỏ đang dâng
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://anhbasam.com/2010/09/08/649-thu%e1%bb%b7-tri%e1%bb%81u-d%e1%bb%8f-dang-dang/

648. LIỆU VIỆT NAM CÓ LIÊN MINH VỚI MỸ?
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://anhbasam.com/2010/09/07/648-li%e1%bb%87u-vi%e1%bb%87t-nam-co-lien-minh-v%e1%bb%9bi-m%e1%bb%b9/

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: