Hoàngquang’s Blog

10/09/2010

10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 9:34 sáng
Tags:

DƯƠNG NGỌC

7/9/2010

Việt Nam tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đã thoát đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý, trong đó có 10 nghịch lý được xét trên các góc độ khác nhau.

Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu xa hơn.

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985 cao gấp gần 5,2 lần (bình quân thời kỳ 1986 – 2010 tăng 6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (bình quân thời kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá cao.

GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore 37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD, Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước; bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ “đứng yên” thì cũng phải nhiều năm sau Việt Nam mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm còn tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ý. Một, thứ bậc về GDP bình quân đầu người của Việt Nam vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên của GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp như trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên 4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới thì mới không bị tụt hậu xa hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980, thì từ năm 1981 đã tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010 này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố tăng vốn (chiếm khoảng 52 – 53%); do sự đóng góp của yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 – 20%); còn yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học – công nghệ) mới chiếm 28 – 29%, thấp xa so với con số 35 – 40% của một số nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đã đến lúc, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, thì ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng khó mà đạt được.

Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục với quy mô lớn.

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ý. Một, nhập siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách đây cũng đã khá lâu (năm 1992), còn có tới 24 năm nhập siêu. Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức hai chữ số); tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để tìm thị trường tiêu thụ, nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập thì càng nhập siêu. Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng trong khi sản xuất trong nước thì bị cạnh tranh, giảm thị phần, còn người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn – đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc.

Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm.

“Bàn tay hữu hình” còn quá dài, trong khi “bàn tay vô hình” còn quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng, nhưng phình to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành chính còn nặng nề. Chi phí bất hợp lý, thậm chí bất hợp pháp còn nhiều. Cạnh tranh chưa bình đẳng, “ra sân chơi chung, nhưng đã chấm trước người thắng kẻ thua”. Kinh tế thị trường nhưng độc quyền còn lớn.

Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trên 15 năm, nhưng tính gia công còn nặng. Do gia công nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

Sáu là, “tam nông” rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm tương xứng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đã giảm xuống nhưng hiện vẫn còn chiếm 70%; tam nông đã đóng góp tích cực trong việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 – 1998, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,… nhưng tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm – thủy sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp (năm 2000 chiếm 13,8%, năm 2005 còn 7,5%, năm 2009 còn 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn lớn cả về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu bền… còn lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90% tổng số hộ nghèo của cả nước…

Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đã kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng hàng đầu thế giới), nhưng lãi suất vay vốn ở Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ. Thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư còn thấp do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và tiêu dùng thì có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đã tăng khá nhanh (từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1% năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức 38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% thì năm 2005 đã đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%). Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.

Chín là, khoa học – công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp.

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. Tình hình này do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009 đã tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế thì thực hiện còn lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm hình thành và chậm phát triển.

Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nếu khoa học – công nghệ là động lực của phát triển, thì giáo dục – đào tạo là chìa khóa của khoa học – công nghệ. Giáo dục – đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục – đào tạo trong tổng chi ngân sách tăng. Ngành giáo dục – đào tạo liên tục cải cách, nhưng hiệu quả thấp…

Thảo luận (28 ý kiến)
Các chủ đề thảo luận khác
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

Le Nguyen
15:48 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Tuanbass hoặc hiểu nhầm ý tác giả (vì phần “tụt hậu” tác giả muốn so sánh GDP trên đầu người) hoặc Tuanbass không giỏi số học.

Hãy thử so sánh VN và Mỹ có tăng trưởng GDP tương ứng là 7% và 2%. Hiện GDP/người của Mỹ là 40.000 USD, còn VN cứ cho là 1.200 USD thì mỗi năm ở Mỹ phần tăng thêm là 800 USD còn VN chỉ 84 USD. Càng chạy càng tụt như Rùa đuổi theo Asin vậy!

Có điều tác giả gọi đây là “nghịch lý” thì tôi không đồng tình vì “nó” tất nhiên và dễ hiểu.
Phan Bảo Lâm
15:47 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Có bạn đòi hỏi giải pháp, tôi xin mạn phép đưa ra giải pháp.

Đó là luật pháp.

Luật pháp tuy chỉ là đơn ngành nhưng tác động của nó đến các ngành và lĩnh vực khác là tác động trực tiếp. Thử tìm xem có cái gì trong xã hội con người không nằm trong khuôn khổ luật pháp?

Luật pháp được thể hiện trên văn bản pháp lý và do cơ quan Nhà nước kiểm soát việc thực thi luật, mọi người mọi ngành tuân thủ và giám sát kiểm tra lẫn nhau. Luật pháp nghiêm khắc, chặt chẽ, khoa học thì mọi thứ sẽ được đặt đúng chỗ của nó. Sai lầm, khuyết điểm, thiếu tâm huyết, thiếu tầm nhìn, tiêu cực,… hết thảy đều được phát hiện và bổ cứu, sửa chữa kịp thời ngay từ khi phát sinh.

Luật pháp lỏng lẻo, không khoa học, quá thiên về 1 mặt nào đó như chính trị, nhân đạo, cảm tính,… tất yếu dẫn đến tùy tiện, ai muốn làm gì thì làm, mọi thứ đều lộn xộn, sự việc phát sinh không được giải quyết ngay, càng để lâu càng lan rộng, dẫn đến mất kiểm soát.

Cả 10 điểm nóng trên đều quan trọng, vậy ta nên bắt đầu từ điểm nào? Các điểm nóng này đều có liên quan với nhau, tương hỗ nhau, không thể tập trung vào điểm này mà bỏ rơi điểm kia. Tuy nhiên, cả 10 điểm trên đều có liên quan trực tiếp đến luật pháp.

Như vậy, chỉ cần hoàn thiện luật pháp, 10 điểm trên tự động hoàn thiện chính nó. Nói thì dễ, làm mới khó. Luật pháp liên quan đến quyền lợi của cá nhân và tổ chức, nếu không có sự đồng thuận thì dù điều khoản luật ấy là tiến bộ nhất, hợp lý nhất (nhưng bất hợp lý với 1 nhóm nhỏ người có quyền lực) cũng không được thông qua.

Bất kỳ nước tiên tiến nào, nếu xét tận cùng quá khứ xã hội và kinh tế của nó cũng bắt đầu từ luật pháp. Bạn tìm thử tôi xem có nước nào giàu mà luật pháp yếu kém không, hoặc ngược lại, luật pháp chặt chẽ mà nước đó lại nghèo không. Nền kinh tế của ta dựa vào vốn đầu tư FDI, vốn vay ODA, xuất khẩu, gia công,… tất cả những cái đó không phải phụ thuộc thì là gì? Mà đã phụ thuộc thì ta buộc phải chơi theo luật của người ta, đúng không? Có muốn chơi theo luật của mình cũng không được.

Nhìn Trung quốc mà học hỏi. Họ cũng phát triển như ta, nhưng họ luôn áp luật của họ lên đầu các nhà đầu tư nước ngoài, chịu thì chơi, không chịu thì biến. Karl Marx nói “nếu lợi nhuận đạt đến 300% thì dù có treo cổ nhà tư bản vẫn không ngăn được họ”. Trung quốc đã thành công khi áp dụng câu nói này. Họ đưa mồi nhử là lợi nhuận ra để buộc nhà tư bản phải chơi theo luật của họ.

Ta có thể yếu kém về mọi mặt nhưng về luật pháp, ta phải chủ động. Thực tế, ta còn kém về mặt này và tất nhiên, mọi lĩnh vực khác đều tương tự. Cái vòng luẩn quẩn này sẽ chỉ chấm dứt khi Nhà nước có cái nhìn nghiêm túc về xây dựng luật pháp cũng như các thiết chế xã hội dân sự.

Luật pháp tiến bộ là luật pháp mở, luôn tiếp nhận mọi sự phát sinh để điều chỉnh bổ sung đồng thời loại bỏ những điều khoản không còn hợp thời.
Tuanbass
13:38 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Các bạn làm toán sẽ thấy ngay mà, tôi ví dụ nhé, giả sử Việt Nam tăng trưởng 7%, Mỹ tăng trưởng 2%, nghĩa là mỗi năm về tương đối Việt Nam hơn Mỹ 5%.

Giả sử GDP Mỹ hiện nay hơn Việt Nam khoảng 100 lần, thì nếu giả sử cứ giữ nguyên tăng trưởng nhu vậy thì chắc chắn sẽ có lúc Việt Nam vượt qua Mỹ.

Cụ thể thì số năm để Việt Nam có thể vượt Mỹ sẽ là khoảng 95 năm: (1.05^95 ~100). Bắt kịp Thái Lan hay các nước khác còn ngắn hơn nhiều

Tôi phản biện bài tác giả thế để nói rằng, muốn vượt các nước khác, thì tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng và trực tiếp bậc nhất. Và vì vậy vẫn phải có hy vọng và niềm tin vào tốc độ tăng trưởng cỡ 7-8% vì đây là tốc độ khá tốt, không nên hiểu nhầm rằng tăng trưởng như vậy cũng không ý nghĩa gì trong việc bắt kịp các nước khác.
Võ Văn Sự
13:35 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Một nguyên nhân lớn mà ta cố tình không nói tới, đó là việc đầu tư vẫn dựa vào “chính trị” hơn là “kinh tế”, đó là các tổ chức kinh tế nhà nước họat động không hiệu quả bằng các lọai hình thức khác nhưng vẫn được đầu tư lớn nhất.

Điều này không khác gì lãng phí tiền bạc, tự nghèo đi. Phải xem tất cả các hình thức kinh doanh là con đẻ của xã hội và được nâng niu, tôn trọng như nhau.
Nhat Dinh
10:49 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Tuấn Bass nói lý thuyết quá.

Cụ thể là Trung Quốc tăng trưởng nhanh hơn tốc độ chung của thế giới nên TQ đang cải thiện vị trí tương đối của mình.

Còn riêng Việt Nam, theo số liệu tác giả đưa ra (và các nguồn khác cũng thế) thì đang phát triển ngang ngửa với tốc độ của các nước đang phát triển khác. Do đó, suốt 30 năm vị trí Việt Nam vẫn loanh quanh thứ 135-140 của thế giới.

Ý tác giả muốn nêu một sự thực là ta so với ta thì khá hơn rất nhiều so với 1980, nhưng cả thế giới, nhất là các nước đang phát triển cũng tăng trưởng, nên ta đừng coi là đã làm được phép màu hay điều kỳ diệu trong những năm đổi mới.
Hieu
10:29 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

@ Tuanbass, Hung Son: lập luận đầu tiên của tác giả là đúng chứ không sai các bạn ạ, cả về lý thuyết và thực tế.

Ví dụ đơn giản là thấy liền, 2 nước A và B có quy mô nền kinh tế tương ứng là 10 và 100 và có tốc độ tăng trưởng GDP tương ứng là 10% và 5% (A có quy mô nhỏ hơn nhưng tăng trưởng nhanh hơn).

Giả sử cả 2 nước cứ giữ tốc độ tăng trưởng này thì khoảng cách tuyệt đối giữa B và A ngày càng rộng, chứ không phải “gần lại và vượt qua” như bạn Tuanbass, hay “nhỏ dần nhưng luôn lớn hơn không” như bạn Hung Son nói. Các bạn cứ nhập các số trên vào excel là tính được liền ấy mà.

Còn nếu cho B tăng trưởng chỉ 1% thì sẽ khoảng cách sẽ nhỏ dần và A có thể vượt qua một lúc nào đó. Nói tóm lại, việc vượt qua hay không vượt qua phụ thuộc vào quy mô hiện tại của nền kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm.

Còn trên thực tế, đối với một nước chưa có nền tảng phát triển bền vững như Việt Nam thì việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao như hiện nay trong một thời gian dài là một điều khó khăn.

Trong khi các nước khác có nền kinh tế lớn hơn, phát triển tương đối bền vững ở mức từ 2% đến 5% thôi thì khoảng cách tuyệt đối sẽ tăng lên.
Peter Ta
09:08 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Một bài viết rất hay, khách quan và nhìn thẳng vào vấn đề.

Là một người Việt đang sống tha hương, tôi luôn mong cho nước mình ngày càng phát triển, dân tộc Việt ngày càng tiến lên.

Tôi muốn bổ sung ý kiến của mình về giáo duc, tác giả nói rất đúng, khoa học công nghệ là động lực của phát triển, và giáo dục là chìa khóa của công nghệ, theo tôi hiểu, tác giả muốn đề cập đến việc giáo dục và người học kém chất lượng. Theo tôi hoàn toàn sai, xin hỏi tác giả và mọi người, có biết bao người việc đang sống, công tác rất thành công ở nước ngoài? Như vậy nước Việt ta có thiếu người tài không? Theo tôi là không.

Ý kiến thứ 4 của tác giả thật tuyệt vời, cần cạnh tranh khách quan, công bằng trên mọi lĩnh vực, người tài cũng vậy, hãy trong người tài, đừng vì ai đó là con cháu, là anh em họ hàng cũa ta mà ta chọn, mà hãy chọn người vì tài năng. Tôi chắc chắn giải quyết được vấn đề này nước ta sẽ phát triển vượt bậc.
HS Nguyễn
08:11 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Cám ơn tác giả rất nhiều, bài viết đã một phần giúp cho thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên và phát triển tại hải ngoại có một cái nhìn tương đối cụ thể về tình hình kinh tế Việt Nam.

Cháu thấy luận điểm thứ 4: chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm và luận điểm thứ 5: khoa học – công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp, cũng như luận điểm 10: giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập,là những nhận định rất đúng.
Luu
07:50 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Đó là các “bổ đề cơ bản” made in Vietnam, có thể “phân tích sâu” nhưng chưa chắc đã có “giải pháp” như ông Minh đã nêu! Vì không chỉ có các nghịch lý trong kinh tế mà còn có các nghịch lý khác. Nếu không giải quyết các nghịch lý này mà không giải quyết các nghịch lý khác, thì nghịch lý là mãi mãi.
Dr. Jack
03:50 (GMT+7) – Thứ Ba, 7/9/2010

Bài này hay đấy chứ! Về cơ bản là toàn diện rồi, chứ tìm làm gì lỗi không đáng. Bài này chưa hẳn là cũ đâu.

Còn về giải pháp thì có vô số rồi đấy chứ, sao lại hỏi tác giả? Cứ tìm đọc báo sẽ rõ, tác giả có nói thêm cũng chỉ có thế.

Cám ơn tác giả bài báo.
Lê Anh Khoa
23:26 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết rất chất lượng, kinh tế Việt Nam ko chỉ có những vấn đề trên nhưng để phát triển tốt thì cần phải giải quyết từng vấn đề. Khi tất cả đều được giải quyết thì Việt Nam chúng ta sẽ phát triển tốt và ngày càng giàu đẹp.
Hùng Sơn
17:17 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết khá hay với những lập luận kinh tế và nhiều số liệu tổng hợp khá cụ thể.

Tuy nhiên, có những vấn đề gần như là tất yếu đối với một nước bắt đầu hội nhập và chuyển đổi cơ cấu kinh tế như nước ta, chẳng hạn như việc gia tăng vốn đầu tư và nhân công trong cơ cấu GDP.

Đó chưa hẳn là nghịch lý mà chỉ là những yếu tố tiềm ẩn bất lợi cho phát triển bền vững nếu duy trì tỷ trọng lớn quá lâu trong tăng trưởng.

Tôi đồng ý với bạn Tuanbass trong phản biện cách lập luận về tốc độ phát triển. Đó là bài toán vui về cuộc chạy đua giữa thỏ và sên. Dù thỏ chạy nhanh nhưng vì sên chạy trước nên khoảng cách giữa chúng tuy nhỏ dần nhưng luôn lớn hơn không. Kết luận (vui): thỏ không bao giờ vượt được sên (!).

Nên chăng, bài viết cần chỉ ra thêm nguyên nhân cơ bản và gợi ý giải pháp (gói giải pháp) thì thật chí lý! Cảm ơn.
Tô Thành Huế
16:03 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết rất hay! Hy vọng các nhà lãnh đạo sẽ sớm có tầm nhìn sâu sắc và đưa nền kinh tế nước nhà tiến xa.
Phan Bảo Lâm
15:47 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Nhất trí với phân tích của tác giả, tuy còn sơ lược nhưng đã vẽ nên 1 bức tranh khá toàn diện.

Tăng trưởng thực chất là tăng về số lượng. Nếu không có xuất khẩu thì khả năng tăng trưởng là có giới hạn. Ví dụ, dù bạn có 2 cái xe, 2 cái nhà … nhưng bạn chỉ có thể sử dụng 1 cái trong 1 thời điểm. Phát triển là sự tăng trưởng cả về chiều rộng và chiều sâu, nói cách khác, cả số lượng và chất lượng.

Ví dụ, nếu mỗi người đều có xe gắn máy tất yếu không ai muốn mua thêm cho mình chiếc nữa mà chỉ muốn nâng chất lượng sống bằng việc mua… .xe hơi. Nền kinh tế của ta là nền kinh tế hướng vào xuất khẩu với mục tiêu đáp ứng nhu cầu… của nước ngoài thì tăng trưởng bao nhiêu cũng không có giới hạn nhưng nhu cầu nội địa thì…. không thèm quan tâm nên tăng trưởng nội địa vẫn chưa đạt tới giới hạn, hay điểm phát triển, tức là khởi đầu cho 1 giai đoạn tăng trưởng mới.

Cứ nhìn kinh tế Hàn quốc là rõ, lúc đầu họ cũng xuất khẩu sản phẩm có tới 70-80 % yếu tố ngoại nhập, rồi 50% và cuối cùng là 0 %, hay 100 % “made in Korea”. Những chiếc xe hơi Hàn quốc đầu tiên vào thị trường VN đều có động cơ “made in Japan” còn bây giờ thì 100% của Hàn.

Nước nào cũng ưu tiên thị trường nội địa trước rồi mới tới xuất khẩu. Từ xuất khẩu “gia công” chuyển dần sang xuất khẩu “cây nhà lá vườn” tiến tới “tiêu chuẩn hàng xuất khẩu kém hơn tiêu chuẩn hàng nội địa”.

VN ta lại làm ngược lại, coi xuất khẩu là thu nhập chính của quốc gia. Không phải người VN không muốn dùng hàng VN mà là người VN bị các nhà kinh tế VN “khuyến khích” dùng hàng ngoại quá lâu nên sinh ra tâm lý “sính ngoại”.

Như vậy, khi giới hạn tiêu dùng của người VN đạt đến tầm cao mới thì sản xuất trong nước không theo kịp vì vẫn còn mải mê đáp ứng nhu cầu của… nước ngoài. Xung đột là tất nhiên mà 1 trong những hệ quả dễ thấy nhất là… nhập siêu.

Khi nhìn lại vấn đề, tìm kiếm nguyên nhân, mới phát hiện ra 10 “điểm nóng” kể trên. Việc thiếu “tầm nhìn” âu cũng là 1 yếu tố… khách quan.
A Cư
15:08 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Tôi có viết nhầm một chỗ: Tích luỹ (Gross capital formation) cũng chính là đầu tư (Tôi nhầm là GDP).
Nguyễn Phúc Khánh
15:05 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Ở Việt Nam có những điều mà có thể theo logic thường đó là nghịch lý nhưng vẫn tồn tại. Người nước ngoài khi giải thích về hiện tượng kinh tế VN còn có một “khái niệm”, đó là “TIV= This is Vietnam”.

10 điểm trong bài đưa ra không mới, tuy nhiên bài viết vẫn cho tôi thêm 1 cái nhìn toàn cảnh về kinh tế vĩ mô của VN.
Tuanbass
14:51 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Ngay từ luận điểm đầu đã thấy sai.

Tác giả có viết “Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu xa hơn”, luận điểm này vô nghĩa, và nó làm cho người đọc hiểu sai là Việt Nam sẽ không bao giờ đuổi kịp các nước khác. Tác giả dùng sai chữ “tụt hậu” khi quy nó về giá trị tuyệt đối.

Chẳng hạn bạn có tin là với tốc độ như hiện nay, chỉ 10 năm nữa là Trung quốc sẽ vượt Mỹ về giá trị tuyệt đối, mặc dù năm sau với quy mô của mình Mỹ vẫn tiếp tục nới rộng khoảng cách với TQ.

Cái sai về toán học của tác giả là ở đây, nghĩa là thực tế việc bỏ xa tuyệt đối này sẽ có giới hạn và đến lúc nào đó sẽ gần lại và vượt qua.
Le Hoang
14:35 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết xúc tích về các vấn đề mà Việt nam đang phải đối mặt. Nhìn lại thì đây là các vấn đề nóng. Nhìn tiếp, thì theo tôi ta nên sắp xếp các vần đề theo thứ tự sau:

1. Giao dục
2. Khoa học và công nghệ
3. Thể chế
4. Tam nông
5. Vốn cho đầu tư và chính sách lãi suất
6. Tiết Kiệm
7. Gia công
8. Nhập siêu
9. Phát triển bền vững
10. Tỷ lệ tăng trưởng

Có trí thức và công nghệ Việt nam mới có thể đổi mới tiếp về chất bao gồm cả đổi mới về thể chế tạo động lực phát triển cho cả nước. Từ vấn đề thứ 5 trở đi phụ thuộc vào 5 vần đề đầu.
Nguyen Thang
14:18 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết quá hay, và rất đúng với những gì đang diễn ra ở VN. chúng ta luôn tự hào là tăng trưởng cao, nhưng nhìn lại thì chúng ta ngày càng tụt hậu xa hơn, dân càng ngày càng nghèo đi, vì dù thu nhập tăng nhưng giá cả còn tăng cao hơn, nên chất lượng cuộc sống có khi lại đi xuống.

Bạn Minh nói có vẻ hơi quá, bạn cho rằng bài viết này toàn là ý kiến cũ, vậy bạn viết một bài nêu lại các “ý kiến cũ” kiểu như bài này cho bà con xem với, kiểu góp ý như bạn thì đến bác nông dân cũng nói được, nhưng làm mới khó.
Giang
13:18 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Tôi thấy bài báo rất hay, xác đáng.

Còn bạn Minh muốn hỏi giải pháp cho các vấn đề trên, tôi xin đưa ra 1 ý kiến mà tôi nghĩ chỉ cần bất kỳ ai lưu tâm cũng sẽ nhận ra, đó là “vấn nạn tham nhũng”. Khi vấn nạn này được cải thiện, nền kinh tế sẽ phát triển theo đúng nghĩa của nó.
Hieu
12:31 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết rất hay. Có thể 10 điều là chưa đủ nhưng cũng đủ để người đọc có cái nhìn bao quát về những bất cập của nền kinh tế Việt Nam từ trước tới nay.

@ Bạn Minh: trong giới hạn của một bài báo thì việc nêu ra giải pháp đầy đủ cho các vấn đề nêu trên là đòi hỏi hơi cao bạn ạ. Hơn nữa giải pháp cho các vấn đề nêu trên mình thấy cũng có rồi, chỉ cần thống kê lại là không thiếu thứ gì hết.
Rudoki
12:10 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Bài viết hay, chứng tỏ tác giả có đầu óc quan sát, tổng hợp…

Mặc dù mới chỉ dừng lại ở nhận định, nếu đi sâu vào phân tích, đề xuất giải pháp thì sẽ trở nên hoàn hảo!
A Cư
11:53 (GMT+7) – Thứ Hai, 6/9/2010

Tác giả nói về tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người chỉ dựa trên GDP thì thực ra chảng phản ánh được gì, thực tế trong nhiều năm nay Chính phủ và Quốc hội đưa ra đinh hương thế nào thì đến cuối kỳ cơ quan thống kê tính toán tăng trưởng gần giống như thế, có sai số thì chỉ là một tý đằng sau.

Tác giả chỉ dựa vào Solow mà kết luân tăng trưởng không bền vững thì cũng chua đủ, ví dụ như Trung Quốc: Đóng góp của nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng còn thấp hơn con số mà tác giả rất nhiều, như vậy phải chăng Việt nam có sự thay đổi công nghệ mạnh mẽ hơn Trung Quốc?

Đã có nhiều bài viết nói về những hạn chế của mô hình Solow về mặt lý thuyết. Ngoài ra tác giả đưa ra những số liệu như đóng góp của vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp ma không nói rõ nguồn hoặc trong khoảng thời gian nào. Hinh như tác gia sử dung số liệu hơi cũ.

Theo một số tính toán mới đây thì đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng cao hơn khá nhiều và đóng góp của TFP thấp hơn rất nhiều. Lưu ý răng cái gọi là “vốn đầu tư” của cơ quan Thống kê không phải là K của hàm Solow.

Thư 3 là nhập siêu thực ra do cơ cấu kinh tế sai lầm chứ không phải do hội nhập, tất nhiên hội nhập thúc đẩy cái chuyên này.

Ý thứ tư, thứ năm và thứ sáu của tác giả quá hay.

Ý thứ 8 tác giả đã đánh đồng tích luỹ với saving là hết sức sai lầm. Tích luỹ la gross capital formation theo kinh tế học thì nó chính la GDP. Theo Keynes nếu một nền kinh tế đóng thì tích luỹ băng để dành (saving) nhưng theo số liệu thống kê thì “vốn đầu tư” ngày càng tăng, tích luỹ tăng nhưng saving/GDP ngay càng giảm. Điều này mới nói lên sự tăng trưởng không bền vững và những rủi ro về nợ công.

http://vneconomy.vn/2010090612291548P0C9920/10-nghich-ly-cua-kinh-te-viet-nam.htm

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. Bác Tuanbass làm toán đúng rồi, các bác khác xem lại đi nhé.

    Tốc độ 7% hay 2% nó quan trọng ở phép nhân chứ không phải phép cộng!

    Lấy ví dụ của bác Le Nguyen nhé:

    Mỹ: hiện tại 40.000, tăng 2% –> sau 50 năm, GDP bình quân là 107.000

    Việt Nam: hiện tại 1.200, tăng 7% –> sau 50 năm, GDP bình quân là 35.000

    Năm thứ 51, Mỹ tăng thêm 2100 còn Việt Nam tăng thêm 2400 –> đuổi quá kịp

    Năm thứ 74, Mỹ 173k, VN 179k –> Việt Nam vô địch!!!

    Cho nên phải tăng trưởng nhanh là đúng rồi, thế giới thằng nào chả muốn tăng trưởng nhanh, cái chính là làm thế nào để bền vững thôi.

    Bình luận bởi Criss Oliva — 18/10/2010 @ 12:06 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: