Hoàngquang’s Blog

31/08/2010

Chỉ có một thứ Dân chủ, Nhân quyền & Làm sao thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh: “NẾU CHÍNH PHỦ LÀM HẠI DÂN THÌ DÂN CÓ QUYỀN ĐUỔI CHÍNH PHỦ”?

Filed under: Chính trị- xã hội,TỰ DO DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN — hoangquang @ 4:05 sáng
Tags: ,

Chỉ có một thứ Dân chủ, Nhân quyền
Tống Văn Công

& Làm sao thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh: “NẾU CHÍNH PHỦ LÀM HẠI DÂN THÌ DÂN CÓ QUYỀN ĐUỔI CHÍNH PHỦ”? -Tống Văn Công

Đọc bài “Phát triển nhanh và bền vững” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi vô cùng ngạc nhiên khi ông 15 lần nhắc “thực hiện dân chủ”,mở rộng dân chủ”, 3 lần nhắc thực hiện “quyền làm chủ”! Thử giở gần chục quyển Nghị quyết Trung ương do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành thì thấy Nghị quyết nào cũng nhiều lần nhắc đến “thực hiện dân chủ”. Ngay Nghị quyết về công tác tư tưởng và báo chí cũng: “Phải phát huy dân chủ khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của toàn Đảng, toàn xã hội tạo bước phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và báo chí.” (trang 19).
Nếu so sánh với nguyên thủ các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Hàn, Singapore… thì sẽ thấy trong diễn văn nhận chức, thông điệp đầu năm và cả trong đề cương tranh cử, họ đều chỉ nói những chủ trương, công việc cần phải làm, không hề nói tới việc “thực hành dân chủ”, “mở rộng dân chủ”. Đã vậy, nhiều phát ngôn của các nước nói trên lại thường chỉ trích Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền! Chống chế lại, nhà nước Việt Nam cho rằng có hai thứ dân chủ và nhân quyền, của phương Tây và của Việt Nam. Nặng nề hơn, nhiều nhà lãnh đạo và nhà lý luận Việt Nam cho rằng “các thế lực thù địch” đã không ngừng lợi dụng dân chủ và nhân quyền của phương tây để công kích, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đối với nhân dân trong nước, có người đe rằng nếu theo thứ dân chủ, nhân quyền phương Tây thì sẽ tự đánh mất mình, sẽ đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình! (Chưa có nhà lý luận nào chứng mính điều này, ngược lại chỉ thấy đạo đức xã hội Việt Nam băng hoại chưa từng có suốt quá trình xây dựng đạo đức cách mạng!).
Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đối với vận mệnh dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa. Dân chủ và Nhân quyền là vấn đề mà nhân loại tiến bộ đã kiến giải và thực hiện hằng trăm năm rồi, hoặc chí ít là từ những Công ước của Liên hiệp quốc trong vài chục năm nay mà chính đại diện Nhà nước Việt Nam cũng đã đặt bút ký cam kết thực hiện!
DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN VÀO VIỆT NAM TỪ BAO GIỜ?
Dân tộc ta không có truyền thống nhân quyền và dân chủ. Có lẽ tư tưởng nhân quyền Việt Nam thể hiện cô đọng ở mỗi một câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân”. Một số người cho rằng Hương ước, Phép vua thua lệ làng, và câu Dân vi quý xã tắc thứ chi… của Mạnh Tử từ bên Tàu sang là mầm mống dân chủ! Học giả Phan Kế Bính nhìn khái quát đã viết trong Việt Nam phong tục: “Khắp nơi, dưới trời, đâu cũng là đất của nhà vua, suốt mặt đất, ai cũng là tôi tớ của nhà vua”. Trong hồi ký Con Rồng Việt Nam, Bảo Đại miêu tả cái uy của hoàng đế như sau: “Nghi lễ đã ấn định rằng, khi quỳ trước nhà vua mà ngẩng đầu lên nhìn là phạm tội nặng”. Bảo Đại kể, sau khi ông thoái vị, trên đường ra Hà Nội theo triệu tập của Cụ Hồ, đến Quảng Trị ông rất bất ngờ chứng kiến cảnh nhân dân đông nghẹt mừng đón ông theo kiểu đón hoàng đế. Tại Đông Hà, đại diện Ủy ban cách mạng bị tác động bởi lòng sùng kính của dân chúng toan bỏ nghi thức đón tiếp theo phong cách dân chủ đã dự định, để trở về với nghi thức cổ xưa khi đón vua. Bảo Đại biết như vậy là không ổn, nên đã tìm cách giúp cho các đồng chí ta thoát khỏi tình trạng lúng túng đó. Ông “đã tới gần họ rất niềm nở, nhưng tôi càng niềm nở bao nhiêu thì họ càng thêm kính cẩn bấy nhiêu!”. Bảo Đại bình luận: “Quả nhiên, cách mạng không phải là điều dễ đạt!”.
Mãi đến năm 1906 -1908, trí thức Việt Nam mới dấy lên phong trào Duy Tân (Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng) tiếp nhận tư tưởng dân chủ phương tây của J. J. Rousseau, Montesquieu… qua những tác phẩm thời ấy gọi là “tân thư” của các tác giả Trung Quốc tây học như Khang Hữu Vi, Lương khải Siêu… Năm 1907, Trường Đông kinh Nghĩa thục (do các chí sĩ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền… sáng lập) phát hành quyển Văn minh tân học sách (có nghĩa là đường lối tân học văn minh). Sách này có khoảng 12. 000 từ, đề ra nội dung “chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, mở rộng nhân quyền, cải thiện dân sinh”, với tư tưởng dân chủ, nhân quyền phương Tây. Sách nêu ra bài học dân chủ của phương Tây là “Trên có nghị viện duy trì kỷ cương pháp luật, dưới có báo chí đạo đạt nguyện vọng của hạ dân” và nêu ra 6 biện pháp thực hiện để Việt Nam theo kịp văn minh phương Tây.
Tháng 1 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Paris (gồm có Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Khánh Ký…) gửi đến Hội nghị Versailles Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm có 8 điều đòi được thực hiện dân chủ và nhân quyền như: thả người bản xứ bị kết án tù chính trị; cho dân thuộc địa được hưởng quyền pháp lý như người Âu châu; tự do báo chí và tự do ngôn luận; tự do hội họp và lập hội; tự do cư trú, tự do xuất dương; tự do học tập, lập trường kỹ thuật; thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; có đại biểu thường trực của người bản xứ bầu ra tại nghị viện Pháp… Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn tiếp tục viết nhiều bài báo đòi thực hiện tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp, như bài viết ngày 2 tháng 8 năm 1919 có những câu “Nếu không có các quyền tự do ấy thiết yếu cho việc truyền bá những tư tưởng và kiến thức mà đời sống hiện đại đòi hỏi thì không thể trông mong tiến hành bất cứ một công cuộc giáo hóa nghiêm chỉnh nào”. Những bài viết như thế truyền về nước góp phần soi sáng dân trí, khích động dân khí Việt Nam.
Năm 1926, khi cụ Phan Chu Trinh, một trong những lãnh tụ lỗi lạc của phong trào Duy Tân qua đời tại Sài Gòn, chí sĩ Phan Bội Châu viết văn tế khóc thương ông có câu: “Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng; Cửa dân chủ khêu đèn sáng chói”. Đó là tư tưởng dân chủ phương Tây bắt đầu sáng chói trên đất nước ta bởi các chí sĩ Duy tân và Đông Kinh Nghĩa thục truyền bá, đã dẫn tới việc thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1927, dựa trên 3 nguyên tắc Tự do, Bình đẳng, Bác ái, thực hiện khởi nghĩa vũ trang, nhằm “đánh đuổi thực dân Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.”
Tháng Tám 1945, một cột mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời Nhà nước dân chủ cộng hòa với ba tiêu chí độc lập, tự do, hạnh phúc. Chế độ mới mang tư tưởng dân chủ, nhân quyền của Việt Nam hay của phương Tây? Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập nước ta, Cụ Hồ trịnh trọng tuyên bố:
“Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tựdo bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”
Năm 1948, với bút danh Trần Dân Tiên, Cụ Hồ bộc bạch rằng “Cụ Hồ không giấu nổi sự vui sướng” bởi “trong đời Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Và cho rằng: “Thật vậy, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những yêu cầu đã gửi cho Hội nghị Versailles mà Cụ Hồ đã viết năm 1919″.
Ngày 25 tháng 8 -1945, vua Bảo Đại trong Tuyên ngôn thoái vị có câu “Chiếu đà dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta […]” và câu cuối cùng là “Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm!”. Việc chấp nhận tư tưởng dân chủ từ Cách mạng Tháng Tám đã được Bảo Đại kể lại khi lần đầu tiếp kiến Cụ Hồ: “Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn, vừa đạo mạo vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy. Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử, do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương, về Nga và Trung Hoa”. Bảo Đại viết những dòng này năm 1979 ở Pháp, tức là ông không có chịu áp lực nào. Là một người Tây học, vua Bảo Đại hiểu thứ dân chủ mà Cụ Hồ thực hiện thuộc về giá trị văn minh của toàn nhân loại và ông tin rằng Cụ Hồ là người “nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam”, cho nên ông phải tuân theo. Đó cũng là suy nghĩ của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam nhất là các nhân sĩ trí thức thời ấy khi kéo về quy tụ quanh Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Tự do, Dân chủ của bản Tuyên ngôn độc lập sau đó được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 và bước đầu được thực hiện với Chính phủ liên hiệp và các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do sáng tác, tự do lập hội… Các đảng phái lần đầu tiên được công khai hoạt động. Các báo có trước cách mạng kể cả tờ Bình Minh thân Nhật vẫn tồn tại (tờ Bình Minh sa sút từ khi Nhật chưa đầu hàng vì tâm lý chống phát xít), nay có thêm nhiều tờ báo mới. Những người lấy lòng quân Lư Hán ra báo Trung Việt tân văn. Nguyễn HảiThần ra báo Đồng Minh. Các nhân sĩ yêu nước xuất bản báo Quốc Gia. Tết 1946 báo này được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng bài thơ có những câu: “Tự do vàng đỏ một rừng hoa. Muôn nhà chào đón xuân dân chủ”. Từ chiến khu về có báo Cứu Quốc của Việt Minh, báo Kháng Chiến của Cao Bắc Lạng, tờ Vui Sống của ngành Y Tế… Dù báo chí có nhiều khuynh hướng, nhưng người đọc mới trong nô lệ bước ra vẫn rất tinh tường nhận rõ lằn ranh giữa yêu nước và phản trắc. Các tờ báo thân Tàu, các tờ báo có quan điểm bè phái luôn bị ế ẩm. Sau khi Pháp chiếm Hà Nội vẫn còn báo Bạn Trẻ của tư nhân tản cư ra vùng giải phóng tiếp tục in báo hằng ngày bằng máy pê-đa-lét đạp chân, phát hành vào cả nội thành trong nhiều năm (do Thượng sĩ – Nguyễn Đức Long và Vũ Bằng chủ trương). Vũ Đình Chí (Tam Lang) bị Pháp bắt giam ở Hà Đông, cho biết trong trại giam ông đã được đọc báo Bạn Trẻ. Ủy ban kháng chiến khu 3 xếp báo Bạn Trẻ ở vị trí hàng đầu trong các tờ báo kháng chiến. Về tự do sáng tạo, tự do ngôn luận và lập hội, có thể kể nhóm thi sĩ Tượng Trưng của Trần Dần, Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập, xuất bản tạp chí Dạ Đài in Tuyên ngôn:
“Hãy đem tất cả linh hồn, hãy mở tất cả cửa ngách của tâm tư mà lý hội. Trận gió sẽ lên: tức khắc và đột nhiên, vì thơ không cần lý luận.”
Tiếc thay, tất cả phải im tiếng, bởi súng đã nổ!
“NỀN DÂN CHỦ GẤP TRIỆU LẦN HƠN” CŨNG TỪ NGOẠI NHẬP!
Từ năm 1950, dưới sức ép của Trung Quốc, đường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản. Sau giải phóng miền Bắc, tốc độ chuyển ý thức hệ nhanh tới mức rất nhiều cán bộ, đảng viên vốn mang tư tưởng tự do, dân chủ của Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp 1946 đã bị bất ngờ. Trong bài thơ gửi Lê Đạt, nhà thơ quân đội Trần Dần đang nằm trong phòng tạm giam viết:
” Bạn nói sai chưa?
” Chế độ mới không bỏ tù tư tưởng… ”
Hàng loạt nhà chính trị, luật sư, nhà văn, nhà thơ quá tin vào nền tự do dân chủ mà mình góp công bồi đắp nay đã ra hoa kết trái, phải bị bất ngờ hụt chân: Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Phan Khôi, Lê Nguyên Chí, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao, Nguyễn Sáng, Sĩ Ngọc, Trần Duy, Quang Dũng, Tử Phác, Như Mai, Trần Lê Văn, Đặng Đình Hưng, Hoàng Tố Nguyên, Trần Thiếu Bảo… cũng có thể kể cả Trần Văn Giàu. Sự lệch pha khủng khiếp dễ thấy ở cái tít vedette trên báo Nhân Văn số 2: “Chúng tôi phỏng vấn Mở rộng Tự do và Dân chủ”. Tất cả những người còn mơ ngủ này không hiểu rằng gió đã đổi chiều. Miền Bắc Việt Nam đang “tiến lên chủ nghĩa xã hội… đoàn kết nhất trí với các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ đại”! (Lời nói đầu Hiến pháp sửa đổi 1960). Một mô hình theo thể chế Xô viết của khuôn mẫu Stalin nhanh chóng hình thành. Ở đây không còn chỗ cho cái thứ “dân chủ, tự do tư sản”. Chuyên chính vô sản được thiết lập với bộ mặt mới “dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua Đảng tiên phong của nó”. Một chế độ “dân chủ gấp triệu lần hơn thứ dân chủ hình thức, giả dối của giai cấp tư sản” đã hiện diện.
Về chính trị, sau toàn quốc kháng chiến, Việt Nam có 3 Đảng , nhưng hai đảng Dân chủ và Xã hội ngay khi thành lập đều tuyên bố chịu sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam. Hơn thế nữa, trong ban lãnh đạo của hai Đảng này có nhiều người là đảng viên cộng sản. (Năm 1988, khi chỉ đạo hai Đảng này phải kết thúc hoạt động, ông Nguyễn Văn Linh nói ông rất yên tâm đối với các nhà lãnh đạo của hai Đảng, nhưng lại không yên tâm đối với một số đảng viên cộng sản nằm trong hai Đảng này). Sau giải phóng miền Bắc, thể chế được công khai xác nhận là: “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao Động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân Việt nam đoàn kết rộng rãi trong mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà ” (Lời nói đầu Hiến pháp sửa đổi 1960).
Đúng như cách sắp xếp thứ tự trên, Đảng ở trên nhà nước. Người ta gọi đó là đảng trị. Nhà nước dù là do các Ủy viên Bộ Chính trị ngồi ở ghế cao nhất và có đủ hình thức, bộ, ngành, nhưng Đảng luôn bao biện làm thay. Nhà nước thụ động chờ đợi Đảng cho chỉ thị. Về danh nghĩa “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, công dân 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử, nhưng thực tế không ai có thể tự ứng cử và đề cử vào các cơ quan dân bầu kể cả mọi đoàn thể quần chúng. Tất cả đều do “đảng cử dân bầu”. Trước “đổi mới”, Đảng chỉ đề cử đúng với số lượng đại biểu cần bầu mà không cần giới thiệu nhiều hơn dù chỉ một người để cử tri chọn lựa! Quốc hội Việt Nam từ ngày ấy chỉ là nơi làm nhiệm vụ hợp pháp hóa các chủ trương của Đảng, bao giờ phiếu biểu quyết cũng đạt 100%. Trong bài phát biểu ở một Hội nghị Trung ương Đảng (khóa 3), ông Lê Duẩn tỏ ý nghi ngờ lý thuyết “nhà nước tiêu vong”; ông cho rằng nhà nước vô sản chỉ tiêu vong chức năng chuyên chính sau khi đã thực hiện “thế giới đại đồng”, còn chức năng quản lý xã hội thì càng ngày càng phải tăng lên. Phải chăng ông cho rằng chức năng “toàn trị” chỉ có tăng chứ không được giảm?
Các đoàn thể quần chúng như Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân… đều do một Ủy viên Trung ương Đảng làm chủ tịch, bí thư thứ nhất, các phó chủ tịch, Ủy viên thường vụ Ủy viên ban chấp hành cũng đều phải là đảng viên trung cao cấp. Chủ tịch Ban chấp hành đoàn thể cấp cơ sở cũng phải là ủy viên Ban thường vụ, hoặc ủy viên Ban chấp hành đảng bộ của cấp đó. Tất cả cán bộ đoàn thể đều hưởng lương từ ngân sách và lên lương lên bậc giống như công chức nhà nước. Tổng liên đoàn lao động đã từng đòi cho Chủ tịch công đoàn các thành phố được hưởng bậc lương tương đương với phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Cơ chế chính trị đã biến các tổ chức dân sự, xã hội, phi chính phủ trở thành tổ chức của hệ thống chính trị, các đoàn thể là bàn tay nối dài của Đảng và Chính phủ. Năm 1962, Tổng liên đoàn lao động được giao quản lý bảo hiểm xã hội với ý nghĩa là thực tập chức năng quản lý nhà nước!
Các quyền tự do (lập hội, hội họp, ngôn luận, báo chí) vẫn được ghi nhận ở Hiến pháp, nhưng từ nay phải được hiểu là quyền của tập thể đoàn viên, hội viên trong tổ chức chính trị dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng Cộng sản, hoàn toàn không phải là thứ tự do của từng cá nhân công dân! Báo Tiền Phong là cơ quan ngôn luận của thanh niên. Báo Thiếu niên tiền phong là của trẻ vị thành niên. Báo Nhi Đồng là của trẻ nhỏ. Tất cả Tổng biên tập, Ủy viên Ban biên tập, Trưởng phó phòng đều phải là đảng viên cộng sản. Hàng tuần các Tổng biên tập được triệu tập để nghe ý kiến chỉ đạo nội dung thông tin tuyên truyền của ban Tuyên huấn của Đảng cùng cấp.
Trong cơ chế đó, rất khó tìm thấy một vị lãnh đạo đoàn thể đặt lợi ích của đoàn viên trước khi nghĩ đến yêu cầu của Đảng. Một câu hỏi kéo dài trong tổ chức công đoàn: “Công đoàn chủ yếu là công cụ của Đảng, là “sợi dây nối liền giữa Đảng với công nhân” hay trước hết phải là công cụ bảo vệ quyền lợi của công nhân?”. Thực tế đã trả lời rõ ràng hơn các nghị quyết: Đã có khoảng 3000 cuộc tự động đình công của công nhân đòi quyền lợi không báo trước cho công đoàn biết theo Luật Công đoàn!
Chế độ kinh tế sau 1954 là cải tạo kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội: Cải cách ruộng đất, đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp. “Hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và các hình thức cải tạo khác”. “Kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân được nhà nước phát triển ưu tiên”. “Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn giúp đỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã”. “Nhà nước nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kinh tế nhà nước ” (tất cả những câu trong ngoặc kép ở trên đều trích từ Hiến pháp 1960).
Nền kinh tế theo chế độ xã hội chủ nghĩa đó, sau chiến tranh khi bị giảm nguồn viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa đã không thể đứng nổi, đưa tới cuộc “xé rào” rồi “đổi mới”, tức là xóa bỏ các nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, thực hiện kinh tế thị trường. Nhờ đó đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, phát triển vượt bậc, được WTO chấp nhận vào cuộc toàn cầu hóa.
“Liên xô vĩ đại”, nơi sản xuất và xuất cảng các lý thuyết bài bác tự do dân chủ phương Tây, đã sụp đổ bởi ý nguyện của nhân dân và số đông đảng viên cộng sản muốn thoát khỏi “chế độ dân chủ gấp triệu lần hơn” mà họ phải chịu đựng ngạt thở suốt 70 năm. Thế nhưng ở Việt Nam có những thế lực vẫn tiếp tục bốc thơm cho nó, trong đó có nhiều vị mang chức danh giáo sư, học vị tiến sĩ! Chỉ có điều khác xưa, ngày nay không còn ai đầy kiêu hãnh hoặc chân thành nhắc lại những danh ngôn của Lênin về “chuyên chính vô sản”, về “nền dân chủ gấp triệu lần hơn”, “tự do báo chí chỉ là thiên kiến của giai cấp tư sản”, mà ngược đời là phải dùng lại cái vỏ ngôn từ, hình thức của tự do dân chủ phương Tây để che đậy, trang điểm cho nền tự do, dân chủ xã hội chủ nghĩa! Có vài cây bút thừa nhận chế độ chưa có dân chủ, thậm chí là độc tài, nhưng thích hợp với tình trạng dân trí và cả quan trí chưa cao, hoặc ổn định chính trị cần cho đất nước còn hơn là dân chủ. Mới đây, nhà nước xuất bản tạp chí Nhân quyền, điều xưa kia báo chí vô sản cấm kỵ. Nói như André Menras – Hồ Cương Quyết đây là “kéo dài hệ thống dưới một bộ mặt mới”!
THỬ SO SÁNH NGÔN TỪ CỦA TA VÀ CỦA TÂY VỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN
Chúng ta thử so sánh ngôn từ của Tây và ta nhé!
A – Trước hết hãy định nghĩa dân chủ là gì?
1- Định nghĩa của Mỹ:
“Dân chủ là chính phủ được thành lập bởi nhân dân, trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc các đại diện được bầu từ một hệ thống bầu cử tự do. Theo Abraham Lincoln, dân chủ là một chính phủ của dân, do dân và vì dân”. (A. Lincoln là tổng thống Mỹ thứ 16, từ 1861 – 1865).
2- Định nghĩa của Việt Nam theo Hiến pháp 1992:
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”…
Thế nhưng, thực tế cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Việt Nam là thế này:
Ông Trương Văn Đa, đại biểu Hội đồng Nhân dân từ khóa 1 đến khóa 5 cho rằng “Đến nay Hội đồng Nhân dân và Quốc hội đã có nhiều cải tiến, nhưng thực tế các đại biểu Hội đồng Nhân dân và Quốc hội vẫn là nghị gật, nghị ừ.”
Giáo sư, tiến sĩ Trần Ngọc Đường, Viện Nghiên cứu lập pháp cho rằng: “Hiện nay những vấn đề tầm cỡ của quốc gia đều do Bộ Chinh trị quyết định trước, nhờ đó Quốc hội thông qua nhanh chóng, nhưng nhược điểm của cách làm như vậy là thiếu dân chủ”.
B – Hiến pháp 1992 của ta từ điều 50 đến 70 ghi nhận nhân quyền và các quyền tự do không thiếu điều gì của phương Tây đòi hỏi:
“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự đều được tôn trọng, thể hiên ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật.
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.”
“Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác”.
“Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.”
” Công nhân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí;có quyền được thông tin; có quyền hội họp và lập hội theo quy định của pháp luật.”
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.”
– v. v. và v.v.
Như vậy nếu nhìn vào ngôn từ thì thấy cách nói của ta về những vấn đề cơ bản của nhân quyền và các quyền tự do không có gì trái với phương Tây. Sự trái nhau được ẩn nấp ở cụm từ “theo quy định của pháp luật”. Hiến pháp nói công dân có quyền tự do lập hội, nhưng những người lập Công đoàn độc lập, Hội nhà báo tự do… đã nhanh chóng được mời vào trại giam. Nói tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhưng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) phải tự giải thể. Gần 700 tờ báo chỉ được phép ở “lề phải” của sự thật và chân lý. Mọi vấn đề lớn của quốc kế dân sinh, thậm chí các cán bộ Đảng phạm pháp cũng phải chờ chỉ đạo của Đảng để nói hay không nói, được nói tới mức nào.
Số đông đảng viên cộng sản đi vào cách mạng chỉ với lòng yêu nước. Hai cuộc kháng chiến đã làm cho họ nhìn phương Tây với ý thức đối lập. Khi nghe lý thuyết tự do, dân chủ của Đảng đã lãnh đạo kháng chiến thắng lợi thì tất cả đều tin rằng một Đảng gồm toàn những người đã “vô sản hóa” thì không thể trở thành độc tài, phản dân chủ, tham nhũng, càng không thể liên minh với kẻ thù dân tộc. Thực tế cuộc sống diễn ra càng ngày càng khác xa những gì mà họ từng mong ước. Cải cách ruộng đất là sự kiện đầu tiên làm cho các đảng viên hiểu ra rằng Đảng quang vinh vẫn có thể phạm những sai lầm của thời trung cổ mông muội!
Cuộc “tự diễn biến” đầu tiên là của một số cán bộ cốt cán của Đảng tiếp nhận sự chuyển động hướng về tự do dân chủ ở Liên Xô do Nikita S. Khrushchev khởi xướng: Chống sùng bái cá nhân lãnh tụ, phê phán hành động độc tài của Stalin, thực hiện Đảng toàn dân, Nhà nước toàn dân, thực hiện dân chủ trong Đảng và ngoài xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 9, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, nhưng vẫn không thuyết phục được các đảng viên này: Ung Văn Khiêm, Lê Liêm, Nguyễn Kiến Giang, Dương Bạch Mai, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Trần Minh Việt, Vũ Thư Hiên, Huy Vân…
Sau đổi mới, mở cửa, sự hòa nhập với thế giới đã mở mắt cho nhiều đảng viên cộng sản nhận ra nguyên nhân thất bại của mô hình xã hội chủ nghĩa Stalin là do rời bỏ những giá trị của nền văn minh nhân loại (nhân văn, tự do, dân chủ, sở hữu tư nhân, xã hội công dân, kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, chế độ đại nghị) cưỡng bức cuộc sống đi vào ngỏ cụt của chuyên chính vô sản, sở hữu toàn dân, kinh tế kế hoạch tập trung, nhà nước toàn trị, xã hội trại lính. Các đảng viên cộng sản biết được lý thuyết Marx – Lênin mà mình tin theo mấy chục năm qua thật ra là của Lênin, Stalin. Bởi vì sau khi giải tán tổ chức Đồng minh những người cộng sản (ngày 17 – 11 1852), Karl Marx và F. Engels không chủ trương làm cách mạng vô sản bằng biện pháp bạo lực nữa, vì cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi. Hai ông cùng chỉ đạo xây dựng đảng xã hội dân chủ. Sau khi Karl Marx qua đời (năm 1883), F. Engels họp đại biểu phong trào công nhân thế giới vào tháng 7 năm 1889 thành lập Quốc tế thứ 2, chủ trương đấu tranh nghị trường, thực hiện tự do, dân chủ bằng nhà nước pháp quyền. Ngày 6 tháng 3 năm 1895, Engels viết lời nói đầu cho quyển sách Đấu tranh giai cấp ở Pháp, có đoạn như sau: “Lịch sử chứng tỏ chúng ta mắc sai lầm. Quan điểm của chúng ta ngày ấy là một ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều điều hơn, không những xóa bỏ mê muội của chúng ta mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 đã lỗi thời về mọi mặt ” (1848 là năm ra đời Tuyên ngôn của Đảng cộng sản). Quốc tế 2 là tiền thân của Quốc tế xã hội sau này, đã lãnh đạo nhiều quốc gia trở thành dân chủ giàu mạnh.
Những người hô hào chống “diễn biến hòa bình”, chống “tự diễn biến”, không hiểu rằng từ Quốc tế 1 đến Quốc tế 2 là một quá trình “diễn biến hòa bình” rất tốt đẹp làm cho chủ nghĩa xã hội tìm được sức sống. Cả K. Marx và F. Engels đều không ngừng “tự diễn biến”, kịp thời nắm bắt được tình thế thay đổi, để tìm ra lời giải mới cho cuộc sống nhân loại.
Sau đổi mới, một lớp đảng viên ưu tú nhất đã tiếp tục “tự diễn biến”: Trần Xuân Bách, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Lữ Phương, Lê Hồng Hà, Tô Hải, Phạm Đình Trọng, Đỗ Xuân Thọ… có thể kể cả các vị Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Khắc Viện…
Nhờ hội nhập toàn cầu, có áp lực của dư luận tiến bộ trên thế giới, cho nên những biện pháp chuyên chế không thể thực hiện lộ liễu, chỉ những người có hành động quá quyết liệt như Nguyễn Hộ mới bị trấn áp. Hơn nữa, những đảng viên “cấp tiến” ngày nay không còn bị đơn độc như những người trước kia. Hiện nay đã có những lớp lớp trí thức trẻ vượt lên họ, đi trước họ, quyết liệt hơn họ, vô hình trung đã bảo vệ và khuyến khích họ.
Tôi may mắn được trò chuyện nhiều lần với Trần Xuân Bách khi ông còn là ủy viên Bộ Chính trị. Một lần tại nhà riêng của ông trên đường Phan Đình Phùng, tôi hỏi: “Đòi đa nguyên, đa Đảng, anh có sợ Đảng bị mất độc quyền lãnh đạo không?”. Ông đáp: “Dân tộc mình đang hết sức cần thiết phải có tự do dân chủ để phát triển nhanh chóng, đuổi kịp thời đại, sau khi đã bị tụt hậu quá xa. Phải có đa nguyên, đa Đảng thì mới thực sự có dân chủ. Đảng phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên. Hơn nữa, phải nhận thức rằng khi không còn ở thế độc quyền, Đảng sẽ có nhiều điều kiện để thoát khỏi tham nhũng, sẽ gần dân hơn, được dân tin cậy hơn. Một Đảng gắn bó với dân, được dân tin cậy thì không bao giờ thất bại”.
Tiếc thay, những người lãnh đạo thiển cận không nhận thức được chân lý rất giản đơn như Trần Xuân Bách. Tệ hại hơn có người còn cho rằng năm 1945 Đảng còn yếu nên phải thực hiện dân chủ để lôi kéo nhân dân thực hiện đại đoàn kết dân tộc. Quả là một cách nghĩ phản bội nhân dân! Từ lâu, người Nhật, người Hàn Quốc… đón nhận chân lý phải có dân chủ mới có giàu mạnh, đã đưa đất nước họ lên hàng đầu thế giới.
PHẢI LÀM GÌ? NÓI CÓ HAI THỨ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN THÌ CHẲNG NHỮNG XÚC PHẠM CỤ HỒ MÀ CÒN CHỐNG MARX – ENGELS!
Một ân nhân của Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng, ông André Menras – Hồ Cương Quyết, vẫn giữ nguyên niềm tin vào Đảng của Bác Hồ, một Đảng đã đưa đất nước này trở thành tấm gương “vì độc lập tự do” trước nhân loại. Ông đã trở lại, xin nhập quốc tịch Việt Nam để được tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp vì hạnh phúc của nhân dân ở Tổ quốc thứ hai của mình. Nhưng chỉ qua một thời gian ngắn, người công dân mới ấy đã thất vọng kêu lên: “Một Đảng không thích hợp với hòa bình: Vẫn không có dân chủ “! Ông càng đau xót hơn khi phát hiện Đảng trong sáng ngày xưa “nay vì những đặc quyền đặc lợi phù du mà trở thành một bộ máy hành chính ngày càng dễ sai khiến, độc tài, thậm chí mang tính cảnh sát, một bộ máy hành chính bị cô lập, phụ thuộc, lỗi thời và khiếp sợ trước sự phát triển cần thiết của nền dân chủ”! Dù vậy, ông vẫn “tha thiết mong tìm lại được một Đảng mang tính hiện thực đáng tự hào, sẽ đi trước thời đại hòa nhịp bước cùng với dân tộc”. Ông gửi gắm: “Nhìn lại lịch sử, chưa bao giờ tồn tại một tấm gương cụ thể về một chế độ độc đảng mà mang đến dân chủ”.
Chúng tôi nghĩ rằng đó là những lời cảnh tỉnh thiện chí nhất của một người từng đem sinh mạng mình đóng góp cho sự nghiệp giải phóng Việt Nam và ngày nay vẫn thành tâm muốn trở thành người Việt Nam vì quá yêu nhân dân trải nhiều đau khổ này. Những ai trong Đảng Cộng sản Việt Nam còn lương tri cần phải lắng nghe ông, nhận ra điều ông xót xa, để quyết tìm ra những biện pháp đổi mới toàn diện mà cấp bách nhất là đổi mới chính trị, thực hiện tự do, dân chủ. Mấy năm gần đây hậu quả của sự chậm trễ đổi mới chính trị đã dễ dàng nhận thấy trong nhiều hiện tượng bất ổn của xã hội. Mục tiêu đổi mới chính trị sắp tới cần gấp rút nhằm tới:
1 – Thực hiện cuộc bầu cử dân chủ có đủ các yếu tố: Phổ thông, tức là mọi người dân đã trưởng thành đều có quyền bầu cử; tổ chức bầu cử theo định kỳ mấy năm một lần; bầu cử tự do, phải là cuộc tranh cử giữa các ứng cử viên có quan điểm khác nhau, thể hiện công khai trong cương lĩnh xây dựng và bảo vệ đất nước để cử tri xem xét chọn lựa bằng lá phiếu. Chấm dứt cách làm “đảng cử dân bầu”, đảm bảo người đắc cử thực sự là đại biểu của nhân dân. Quốc hội thay mặt nhân dân quyết định mọi chính sách quốc kế dân sinh, không còn là “nghị gật” theo nghị quyết đã có trước. Mọi quyết định theo đa số, nhưng bảo đảm cho thiểu số được tiếp tục phản biện.
2 – Có thể theo cách của những nhà sáng lập Hoa Kỳ đặt ra những yêu cầu để xây dựng bản Hiến pháp dân chủ:
– Làm sao để nhân dân có thể bầu chọn được những người lãnh đạo xứng đáng nhất điều hành đất nước? Phải để cho mọi công dân được tự do chọn mặt gửi vàng; mọi ứng cử viên tuân thủ nguyên tắc tranh cử công khai bằng cương lĩnh bảo vệ tự do công dân, đem lại dân giàu nước mạnh.
– Kiến tạo đất nước có hình mẫu trong tương lai: tự do cho mọi tư tưởng sáng tạo; bình đẳng cho mọi công dân có chí tiến thủ; thiên đường cho con trẻ, nâng đỡ chăm sóc người già, kẻ bất hạnh.
– Cơ chế vận hành nào để tự do, dân chủ phát triển, đảm bảo ngăn chặn độc tài? Đó là cơ chế phân lập ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền này độc lập với nhau, kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau, tạo ra một chính phủ bị hạn chế quyền lực. Các cá nhân công dân được tự do, trong khi chính phủ của họ không được tự do, nhất cử nhất động đều phải làm đúng pháp luật.
3 – Ngay trước mắt cần thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội đúng như nội dung các điều 19, điều 22 của Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã cam kết thực hiện từ ngày 24 tháng 9 năm 1982.
Các quyền nói trên đã được Hiến pháp 1946 của chúng ta ghi nhận và thực tế cũng đã có thực hiện như phần trên đã nói. Hiến pháp 1992 cũng có ghi nhận các quyền ấy, nhưng sau đó đã bị vô hiệu hóa bởi các luật. Ở các quốc gia dân chủ, người ta coi cách làm luật như vậy là hành động vi hiến, phải bị đưa ra tòa án Hiến pháp xét xử. Ví dụ, điều sửa đổi bổ sung của Hiến pháp Hoa Kỳ là “Nghiêm cấm Quốc hội thông qua các luật vi phạm tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và quyền lập hội ôn hòa”. Sau đổi mới, Nghị quyết 8b Trung ương (khóa 6) cũng đã đề ra việc “Thành lập các hội đáp ứng yêu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức này thành lập theo nguyên tắc tự nguyện và tự trang trải về tài chính…”. Rất tiếc nghị quyết rất đúng đắn đó đã không được thực hiện tốt và ngày nay không ai nhắc đến.
Nhiều năm qua, hiện tượng 3000 cuộc tự tổ chức đình công không thông qua công đoàn do Đảng lãnh đạo đã cho thấy sự bức xúc của công nhân thiếu một đoàn hội mà họ có thể tin cậy gửi gắm. Thiết nghĩ, trước mắt nên tạo điều kiện cho công nhân được tự do lựa chọn người mình tin cậy bầu vào ban chấp hành công đoàn của nhà máy, xí nghiệp.
Vừa qua tại Đại hội Nhà văn, 20 nhà văn có tài có nguyện vọng được lập một Hội nhà văn tự trang trải về tài chính không nhận bao cấp của chính phủ. Nguyện vọng của họ phù hợp với Nghị quyết 8b của Trung ương Đảng khóa 6, rất đáng được khuyến khích. Có thể bảo rằng họ quá ít so với gần 1000 hội viên Hội Nhà văn? Chúng tôi nghĩ điều quan trọng là tài năng chứ không phải số lượng. Hơn nữa số người này đã nhiều hơn gấp đôi số người thành lập Tự lực văn đoàn vang dội trong lịch sử rồi còn gì?
Kết thúc bài viết, chúng tôi muốn nhắn nhủ những người chủ trương có hai thứ dân chủ, nhân quyền của phương Tây và của Việt Nam rằng, họ chẳng những đã xúc phạm nặng nề đối với Hồ Chí Minh mà nếu chịu khó đọc lại lời của K. Marx và F. Engels viết trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cách đây 162 năm, sẽ thấy họ còn chống lại Marx – Engels một cách hết sức thô bạo:
“Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thẩn cũng không kém như thế. Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới.” (Nxb Sự Thật, 1974, trang 49 – 50).
Tưởng cũng nên biết thêm rằng, ngày nay toàn cầu hóa không chỉ tới các quốc gia, các tập đoàn mà theo Thomas L. Friedman nhận xét, toàn cầu hóa đã tới mỗi cá nhân trong một “thế giới phẳng”, “thế giới từ nhỏ đã trở thành siêu nhỏ”. Chẳng lẽ trong thế giới siêu nhỏ này chỉ riêng dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục bị đẩy vào thân phận “ếch ngồi đáy giếng”?
Ngày 19 tháng 8 năm 2010
T. V. C.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy5ib3hpdHZuLm5ldC9iYWkvMTAxNDA%3D

___________
30/08/2010
Làm sao thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh: “NẾU CHÍNH PHỦ LÀM HẠI DÂN THÌ DÂN CÓ QUYỀN ĐUỔI CHÍNH PHỦ”?
Tống Văn Công
Sau bài viết “Vì sao Hồ Chí Minh đặt dân chủ trước giàu mạnh?”, tôi nhận được nhiều ý kiến bạn đọc trong, ngoài nước, hỏi vì sao hiện nay cả nước đang liên tục rầm rộ tổ chức học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng những tư tưởng lớn của người rất cần cho sự nghiệp Đổi mới, cho cuộc sống nhân dân thì lại không được học tập, vận dụng?
Trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một trong những nội dung cốt lõi về dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách mạnh mẽ: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (HCM toàn tập, NXB Sự thật, tập 4, trang 283).
Đây là một nội dung có ý nghĩa then chốt ở một thể chế dân chủ, nó như lửa thử vàng để biết vàng thật hay vàng giả, ở đây là dân chủ thật hay dân chủ giả.
Có thể bạn sẽ hỏi liệu Chính phủ của chúng ta đã có những sai lầm gì “làm hại dân”?
Năm qua, Chính phủ có nhiều việc làm bị chỉ trích nặng nề như:
– Dung dưỡng các tập đoàn kinh tế làm ăn tùy tiện gây thất thoát lớn (hiện dư luận đang bức xúc về chỉ thị của Thủ tướng giải cứu sự sụp đổ của Vinashin).
– Quản lý kém làm cho nền kinh tế mất sức cạnh tranh (giá chi phí cho một đơn vị tăng trưởng cao gấp đôi, thậm chí gấp ba các nước Châu Á, Thái Bình Dương).
– Cho nước ngoài vào khai thác bauxite Tây nguyên gây bất an về quốc phòng và môi sinh; cho nước ngoài thuê rừng biên giới.
– Gần đây nhất là đề án đường sắt cao tốc bị toàn dân đặt ra nhiều nghi vấn…
Tuy nhiên tôi chỉ xin nêu ra đây một hiểm họa của đất nước: Tham nhũng – Giặc nội xâm!
Nếu chính phủ để tình trạng tham nhũng kéo dài và tăng lên vô hạn thì có phải là đã mang tội “làm hại dân”?
Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Nhật bị mất chức chỉ vì “nghe lén” và “không thực hiện được một lời hứa”. Ngày 5-7-2010, Thủ tướng Hàn quốc từ chức vì đề án xây dựng một thành phố mới của ông đưa ra bị Quốc hội bác bỏ… So với người thì các vị lãnh đạo nước ta có lỗi nặng gấp nhiều lần, nhưng đã được xuê xoa quá mức, chính vì thế mà không có sức răn đe để sửa chữa sai lầm!
Vậy tìm điều kiện để thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” chính là tìm đơn thuốc hiệu quả trị được chứng nan y tham nhũng và nhiều khuyết điểm khác của hệ thống chính trị.
Bài viết này bắt đầu từ tình trạng tham nhũng; xác định chân tướng, nhân thân kẻ tham nhũng; phân tích nguyên nhân bất trị của tham nhũng; và cuối cùng là đề ra phương thuốc đặc trị tham nhũng. Phương thuốc ấy tạo ra điều kiện và khả năng thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh.
1. Khuyến nghị quốc tế: kiểm soát quyền lực
Nghị quyết Đại hội 8 năm 1996 kết luận tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa đất nước.
Gần 10 năm sau, tham nhũng phình to, câu kết nhau như thành như lũy, khiến nguyên Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Trần Bạch Đằng kêu gọi: “Nã đại bác vào tham nhũng!” (Báo Tuổi trẻ xuân) với những lời lẽ thống thiết. Ông nói: “Tham nhũng đang đe dọa sự phát triển kinh tế cùng đạo đức xã hội”!
Gần một năm sau, tại Hội nghị Trung ương 3/7/2006, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận định: “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”.
Ba năm sau nữa, ông Đặng Quốc Bảo – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng – miêu tả hình dáng tham nhũng nằm lồ lộ ở nước ta với hai đặc trưng: (1) Kinh tế ngầm lộng hành, mafia cộng với cán bộ thoái hóa; (2) Bộ máy công quyền hư hỏng, vô cảm, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, thiếu chuyên nghiệp, ít hiểu biết, xa rời nhân dân, dị ứng với dân chủ.
Các vị lãnh đạo Việt Nam cho rằng Đảng đã rất quyết tâm chống tham nhũng, nhưng do luật pháp còn bất cập, năng lực quản lý yếu, cán bộ bị sa sút đạo đức trong cơ chế thị trường, các hoạt động chống tham nhũng chưa đồng bộ.
Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp Việt kiều dịp Tết 2010 nói: “Ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì cái hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam mình thì có khi không muốn tham nhũng cũng động lòng tham”.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: “Có bốn nguyên nhân dẫn đến tham nhũng là: thể chế còn sơ hở, thủ tục hành chính rắc rối, phiền hà, tinh thần phê tự phê bình còn yếu, đặc biệt là vai trò của cấp ủy Đảng và người đứng đầu chưa được thể hiện” (Báo Tuổi trẻ ngày 13-1-2008).
Liệu những nguyên nhân mà các vị lãnh đạo Việt Nam nêu ra đã đủ chưa?
Năm 2009, chương trình Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một công trình nghiên cứu quan trọng về vấn đề tham nhũng ở Việt Nam và đã trao kết quả công trình cho Chính phủ ta. Công trình này nêu rõ hình tướng của tham nhũng ở Việt Nam. Xin tóm lược:
– Do kinh tế tăng trưởng cho nên dù cho nạn tham nhũng đang tràn lan vẫn ít được đề cập. Tham nhũng hủy hoại dần tính chính danh của chế độ.
– Nông dân biểu tình chống tham nhũng đất đai gia tăng, doanh nhân bực dọc nạn nhũng nhiễu gia tăng.
– Nền kinh tế tự do hóa, nhưng vai trò quản lý của Nhà nước không giảm đã tạo điều kiện cho tham nhũng.
– Tham nhũng xảy ra dưới 3 hình thức: Hối lộ – còn gọi là “bôi trơn”; tư nhân hóa bất hợp pháp tài sản Nhà nước trong chính sách cổ phần hóa; mua bán quyền lực.
– Quan hệ mờ ám giữa cán bộ chính trị và doanh nhân được gọi là “doanh nghiệp sân sau”, “công ty gia tộc”, “thế lực đen móc ngoặc với các phần tử biến chất trong bộ máy cầm quyền”.
– Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng thực thi kém hiệu quả việc chống tham nhũng là do luật pháp bất cập, đạo đức suy đồi trước kinh tế thị trường. Thực ra đó chỉ là những yếu tố liên quan, chứ không phải vấn đề trung tâm của tham nhũng.
Tham nhũng ở Việt Nam thực chất là một vấn đề mang tính hệ thống.
Biểu hiện của tính hệ thống là: Tham nhũng vận hành phổ biến, bình thường, không phải biệt lệ, không thể tiến hành công việc nếu không chịu dính với tham nhũng! Hầu hết những người vốn là tốt,nhưng khi nằm trong guồng máy họ cũng phải chấp nhận tham nhũng để tồn tại.
– Các văn bản pháp lý ở Việt Nam thường thiếu rõ ràng và chồng chéo. Không phải người soạn thảo kém, mà do hệ thống đòi hỏi phải như vậy để dễ dàng lạm dụng quyền lực, tham nhũng. Đó là tác động của các nhóm lợi ích có quyền lực lớn. Bà Phạm Chi Lan – nguyên tư vấn Văn phòng Chính phủ phát biểu trong cuộc Hội thảo hồi tháng 3/2009 cho rằng đó là cách các nhóm lợi ích “cài cắm lợi ích cục bộ khi soạn thảo luật, cơ chế”.
– Xu thế coi công quyền như công cụ làm giàu, nên tệ nạn mua quan bán chức tràn lan. Tập tục “một người làm quan cả họ được nhờ” đang sống lại.
– Lương thấp, đạo đức xuống cấp chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Không làm rõ các quy định được, chừng nào cái “logic” đang chi phối hệ thống vẫn tồn tại.
Nâng cao tính minh bạch và kiểm soát quyền lực bộ máy công quyền là khuyến nghị mấu chốt của UNDP.
Nâng cao tính minh bạch gồm: công khai tài liệu thanh tra; nâng cao tính độc lập của thanh tra, của hoạt động tòa án, của cơ quan giám sát; coi trọng giải quyết tố cáo của dân; nâng cao vai trò xã hội dân sự, các cơ quan truyền thông giám sát hoạt động của nhà nước, khuyến khích công dân tố giác, khuyến khích báo chí dám đứng ra điều tra tham nhũng.
Để làm rõ thêm bộ mặt của tham nhũng, xin nghe bà Lê Hiền Đức (tên thật là Phạm Thị Dung Mỹ) sinh năm 1932, giáo viên nghỉ hưu, người được Tổ chức Minh bạch quốc tế tặng Giải thưởng Liêm chính năm 2009 kể:
“Các cấp trung gian nó bao che cho nhau, bảo kê cho nhau mình không thể cựa được. Tôi nhận đơn từ của nhân dân 63 tỉnh thành tố cáo đủ các mặt, đất đai nhà cửa… Thanh tra Nhà nước đã đến [nhà tôi] chở đi hồ sơ 214 vụ rồi, nhưng chưa thấy thông báo việc này việc kia được giải quyết. Có người đi kiện lúc 27 tuổi tới năm 54 tuổi mà vẫn chưa được giải quyết! Ông Bí thư quận Cầu Giấy có biết bao tội, là kẻ bảo kê cho bà Hiệu trưởng tham nhũng. Tôi báo cáo việc này với ông Bí thư Thành ủy Hà Nội thì hai tháng sau được tin ông quận này đã được chuyển công tác… Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”!
Tham nhũng ở Việt Nam năm 2008 được Tổ chức Minh bạch toàn cầu xếp ở đầu trong nhóm 1/3 nước cuối bảng xếp hạng. Chỉ số thứ hạng từ năm 1997 – 2008 hầu như không đổi: 2,8; 2,6; 2,7. So sánh với các nước trong vùng thì điểm số của Việt Nam khá hơn Indonesia 5 bậc, hơn Philippines 20 bậc, xấu hơn Thái Lan 41 bậc, Trung quốc 49 bậc, Malaysia 74 bậc, Hongkong 109 bậc, Singapore 117 bậc. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn Rủi ro chính trị, kinh tế (PERC) xếp Việt Nam là nước tham nhũng đứng thứ 3 Châu Á, chỉ khá hơn Indonesia và Campuchia, tụt lại sau Philippines. Chỉ số minh bạch về thị trường bất động sản thì Việt Nam xấu hơn Indonesia 22 bậc, Philippines 29 bậc, Thái Lan 31 bậc, Malaysia 54 bậc, Singapore 68 bậc.
2. Tham nhũng là ai?
Tham nhũng là hành vi của kẻ có chức quyền.
Ngày xưa là quan lại. Do đó, Luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông có 40 điều chống tham nhũng (trong tổng số 722 điều) đều là dành cho quan lại chứ không phải cho thứ dân.
Ngày nay, kẻ tham nhũng là viên chức trong hệ thống cầm quyền. Tham nhũng nhỏ xảy ra ở người có chức quyền nhỏ. Tham nhũng lớn ở người có chức quyền lớn. Tuy không có quy định thành văn nhưng trong thực tế từ cán bộ cấp trưởng ấp, trưởng khu phố đến phó trưởng phòng của phường xã, đều phải là đảng viên. Do vậy bệnh tham nhũng trong thực tế lại chính là bệnh của đảng viên từ thôn ấp cho tới những cơ quan cao nhất! Nhiều đảng viên không làm công tác chính quyền, nhưng với cơ chế Đảng lãnh đạo toàn diện, họ có điều kiện tham nhũng còn hơn cả viên chức chính quyền. Vậy tham nhũng là bệnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị.
Xin nêu ra đây một số nhận định của các nhà nghiên cứu về tham nhũng ở nước ta.
Giáo sư Yoshiharu Tsuboi người Nhật Bản – là nhà Việt Nam học có nhiều công trình sâu sắc – đã nói như sau về tham nhũng ở Việt Nam:
– “Tham nhũng ở Việt Nam không đơn thuần là vấn đề đạo đức mà là cơ cấu trong tổ chức, để loại được tham nhũng phải cải thiện lớn cơ cấu tổ chức và quản lý tài chính”.
– “…Khó thúc đẩy tình hình nếu như không có một số lợi nhuận cho các đảng viên và cán bộ chính quyền. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm ngơ ở mức độ nhất định trước vấn đề biển thủ hoặc tham nhũng của họ”.
– “…Số lượng tham nhũng quá đông, nếu toàn bộ các vụ tham nhũng bị lật tẩy thì hệ thống hành chính có nguy cơ ngừng hoạt động, thậm chí dẫn tới khủng hoảng chính trị. Do vậy nếu khoản tiền tham nhũng không cao quá mức và được chia đều cho những người dính líu thì chính quyền để yên cho họ”.
– “…Tham nhũng ở Việt Nam có thể tóm gọn là “Ai lại sợ đèn đỏ, khi tất cả đều vượt đèn đỏ”!
– “…Hệ thống được thành lập theo kiểu khi bên trong xuất hiện có người có khả năng phản đối tham nhũng thì tham nhũng sẽ được dùng làm lý do để loại bỏ người đó”.
– “…Bằng cơ cấu nuôi dưỡng tham nhũng, nhà cầm quyền đặt gần như toàn bộ người dân vào vị trí tội phạm tiềm năng, với cung cách phán xử tùy tiện, những ai làm mất lòng hệ thống tham nhũng có thể bị trừng phạt đúng theo pháp luật”!
Giáo sư Carl Thayer người Úc, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam có uy tín trên thế giới, cũng có bài viết về tham nhũng ở Việt Nam. Nhận xét các vụ án tham nhũng lớn như PMU 18, Đại lộ Đông – Tây, giáo sư nhận định: “Các vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam có trung tâm bảo trợ của những hệ thống quyền lực gồm những đảng viên cao cấp và gia đình họ, và ngay trong luật lệ… Khi tham nhũng bị phơi bày, chúng đều được chỉ đạo giải quyết từ “bên trong cánh cửa”.
…“Trong vòng 5 năm có 12 ủy viên Trung ương bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, nhưng rất ít vụ bị đưa ra tòa. Qua hai kỳ Đại hội, 12 năm, tham nhũng đã tăng nhiều hơn. Nguyên nhân là do Đảng cộng sản Việt Nam chống thực hiện tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp, tư pháp) mà nắm trọn, kiểm soát cả ba quyền này”.
Các tác giả Lê Đăng Doanh, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Hoàng Ngọc Giao… cũng có những bài viết miêu tả rõ nét khuôn mặt tham nhũng đang ngự trên chiếc ghế quyền lực của đất nước. Những đảng viên còn giữ lòng tự trọng hẳn sẽ luôn cảm thấy căm giận và xấu hổ!
3. “Tham nhũng nã đại bác vào Đảng”
Chúng ta đều biết rằng chủ nghĩa Mác – Lênin không có khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chỉ có các hình thức Nhà nước chuyên chính vô sản được “vận dụng sáng tạo thích hơp với thực tiễn của mỗi quốc gia”.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước tập quyền và Đảng hóa. Trong một bài nói ở Hội nghị Trung ương khóa 3, ông Lê Duẩn cũng cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô không coi trọng nhà nước.
Thật ra các nhà nước toàn trị đều đặt Đảng trên nhà nước, nghị quyết Đảng cao hơn pháp luật.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường phân tích nguyên nhân chính gây ra sai lầm lớn của cải cách ruộng đất ở Việt Nam là không dùng luật pháp mà dựa vào đấu tố. Vì nhận định đúng đắn ấy mà ông bị sa thải. Sau Đổi mới, cùng với sự hội nhập quốc tế, khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật” mới được xuất hiện.
Mãi đến 29/11/1991, tại Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Tổng Bí thư Đỗ Mười với tư duy bị trói bởi ý thức hệ đã khiên cưỡng lắp ghép từ “xã hội chủ nghĩa” vào “nhà nước pháp quyền”. Hơn 15 năm sau, tháng 4/2006, nghị quyết Đại hội 10 của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra nội dung: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và các quyết định của các cơ quan công quyền”.
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đã thắc mắc rằng: kiểm tra, giám sát được đặt riêng ra như vậy, không rõ là nó nằm bên trong hay nằm ngoài hệ thống quyền lực nhà nước?
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh công bố nội dung học thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bài diễn văn ở phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 12, ngày 19/7/2007. Nhiều nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã viết bài lý giải học thuyết mới mẻ này.
Với cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, ông Trần Đức Lương có bài viết đăng trên tạp chí Cộng sản số 1 năm 2007 với tựa đề: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, ngày càng trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của Đảng, nhà nước và nhân dân ta”. Xin trích ra đây một nội dung cơ bản:
“Một trong những điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là quyền lực Nhà nước thống nhất trên cơ sở phân công và phối hợp trong việc thực hiên quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể hiểu rằng sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng cũng nhằm đảm bảo cho sự phân công và phối hợp được thông suốt, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đưa cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống”.
Các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam viết nhiều bài dẫn giải nội dung học thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đưa ra những khái niệm lạ lẫm như “tam quyền phân hợp”, “tam quyền phân hợp giám”. Nói chung, những khái niệm phân lập, đối trọng không được phép đặt ra. .
GS. TS. Tô Xuân Dân và cán bộ Mặt trận Tổ quốc Trung ương Nguyễn Thanh Bình có bài viết chung nhan đề “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng” (Tạp chí Cộng sản số 1/2007). Hai ông đưa ra 7 vấn đề có tính nguyên tắc để thực hiện đúng đắn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đọc dẫn giải 7 vấn đề thấy hai ông là những lý thuyết gia chính trị hơn là nhà luật học. Tôi đặc biệt chú ý đoạn văn sau đây của hai ông:
“…Vấn đề là ở chỗ, bản chất của Đảng cầm quyền thế nào, mục tiêu chính trị của nó có phải vì lợi ích chung của dân tộc, vì con người hay không và do đó có sẵn sàng tuân theo những quy định của pháp luật hay không; có đủ phẩm chất đạo đức để vượt qua các cám dỗ quyền lực to lớn mà một Đảng cầm quyền duy nhất có nhiều khả năng gặp phải hay không và nó có tự đặt ra và thực hiện được những lề luật nghiêm khắc cho chính mình hay không?”.
Nêu ra nội dung trên hai ông không nhằm cảnh báo nguy cơ đối với Đảng mà ngay sau đó đưa ra khẳng định: “Thực tiễn phát triển của xã hội ta, đất nước ta xác nhận và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Hơn 74 năm qua Đảng thể hiện tập trung ý chí nguyện vọng và trí tuệ của toàn dân tộc”. Hai ông tin rằng: “Hoàn thiện những cơ sở pháp lý đó sẽ giúp tránh được bao biện, làm thay hay can thiệp không đúng nguyên tắc của cấp ủy và cán bộ Đảng vào công việc của chính quyền mà có thời kỳ nhiều nơi đã mắc phải”.
Thực tiễn đất nước 3 năm qua đã bác bỏ nhận định nói trên của hai ông, và chứng minh rằng số đông đảng viên cộng sản không thể “vượt qua các cám dỗ quyền lực to lớn”!
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm trong bài “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11/2009 đã nêu ra nhiều điều còn băn khoăn. Đặc biệt là đoạn văn sau:
“…Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta,càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hổng và yếu kém nhất trong cơ chế hệ thống tam quyền của Nhà nước, phải được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể chế”.
Tuy nhiên, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực Nhà nước vẫn na ná như nội dung văn kiện Đại hội 10: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó”.
Thực tế hiểm họa “nội xâm”của đất nước đã chứng tỏ sự “liệt kháng” của thể chế phân công ba quyền thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xin dẫn chứng thêm hai câu chuyện:
(1) Cách đây 15 năm, ngày 16/11/1993, Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc trả lời phỏng vấn báo Lao động về việc “phải cấp bách cải cách Tư pháp để chấm dứt tệ nạn “thư tay gửi tòa án” và “những bản án bỏ túi” trước khi tòa xử. Cơ quan Nhà nước cũng như công chức Nhà nước khi thực thi công vụ phải trong khuôn khổ pháp luật và họ có thể bị kiện trước tòa nếu gây hại cho dân”.
Sau 15 năm cấp bách cải cách Tư pháp như ông Lộc nói, hiện trạng của quyền Tư pháp được thể hiện trong vụ án bà Ba Sương ở Cần Thơ là thế này:
UBND thành phố Cần Thơ có công văn số 1575/UBND -NC ngày 25/3/2008 nội dung: “Thực hiện ý kiến kết luận của thường trực Thành ủy tại Thông báo số 91-TB/VPTU ngày 20/8/2008, Chủ tịch UBND thành phố có ý kiến chỉ đạo như sau: Sau khi Thanh tra Thành phố chuyển một số nội dung sai phạm của Nông trường Sông Hậu sang Cảnh sát điều tra thì tổ chức họp báo, công khai với báo chí…”. Cơ quan Tư pháp các cấp đều không có phản ứng gì về cách chỉ đạo ấy, chỉ có nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi thư phản đối: Tôi không rõ có những lý do gì bên trong mà cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố vụ án? Việc này phải do cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát tiến hành chứ? (Có tin “lý do bên trong” mà cụ Võ Văn Kiệt hỏi là lãnh đạo Cần Thơ muốn tìm cớ để thu hồi đất của Nông trường Sông Hậu cho một dự án lớn!).
Như vậy là tệ nạn “thư tay”, “bản án bỏ túi” kiểu du kích thời Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc ngày nay đã được chính quy hóa thành những Công văn, Thông báo rất ngang nhiên!
(2) Ngày 19/9/1997, Thủ tướng Chính phủ có công văn số 4678/QT1 “chuyển khu dân cư ở số 2 Thụy Khuê, Hà Nội. Văn phòng Chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu đất phía sau khách sạn La Thành cho các hộ dân ở đó tái định cư”. Ngày 6/9/1998, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có quyết định số 498/QĐ-VPCP phê duyệt phương án bố trí diện tích đất cho từng hộ gia đình, nhưng danh sách này thiếu 11 hộ, trong đó có bốn hộ do các ông bà Nguyễn Xông Pha, Chu Quang Biên, Lê Lục Công, Trần Minh Hồng làm đại diện. Văn phòng Chính phủ có công văn 6403/VPCP-QT1 giao cho UBND quận Tây Hồ bố trí tái định cư cho 4 hộ dân nói trên. Bốn hộ dân này tìm hiểu biết rằng Văn phòng Chính phủ làm trái công văn Thủ tướng, cốt để thừa ra 233 m2 đất ở một ví trí đắc địa xây chung cư đưa ra bán giá cao cho 15 hộ dân không thuộc khu nhà số 2 Thụy Khuê. Ngày 21/9/2009, bốn hộ dân nói trên làm đơn khiếu nại gửi Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nhưng không được Bộ trưởng giải quyết. Ngày 2/11/ 2009, bốn hộ dân làm đơn gửi Tòa án nhân dân Hà Nội. Tòa án nhân dân Hà Nội thông báo trả lại đơn với lý do “Không thuộc thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án hành chính tại Tòa án”. Bốn hộ dân khiếu nại Tòa án Hà Nội nhận lại đơn kiện, nhưng không được. Ngày 29/12/2009, bốn hộ dân gửi đơn kiện lên Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án nhân dân tối cao im lặng. Bốn hộ dân cầu cứu luật sư Cù Huy Hà Vũ. Luật sư Cù Huy Hà Vũ gửi hồ sơ vụ này lên Ủy ban Tư Pháp của Quốc hội. Và vụ việc được… nằm yên trên đó!
Vụ này không lớn, nhưng sự ách tắc của nó chứa 3 điều đáng suy ngẫm:
1/ Nó dính líu đến nhiều bộ luật: Luật đất đai, Luật khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao…
2/ Nó liên quan đến ba nhánh quyền lực nhà nước là hành pháp, tư pháp, lập pháp mà không giải quyết được.
3/ Nó liên quan trách nhiệm của các Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Thủ tướng, Bộ trưởng, Chánh án tòa tối cao, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật mà vẫn bị tắc!
Điều ấy đủ để nói lên rằng, công thức pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện hành có nhược điểm lớn nhất là trao cho Đảng trực tiếp lãnh đạo cả ba quyền lực Nhà nước, tạo tình thế Đảng đứng trên pháp luật. Nhà tư tưởng Montesquieu từng cho rằng, khi quyền lực tập trung vào một mối, dù là một người, hay một tổ chức thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn. Rõ ràng pháp quyền xã hội chủ nghĩa không tạo sức mạnh và uy tín cho Đảng mà nó tạo ra nguy cơ, tôi muốn dùng cách nói của ông Trần Bạch Đằng: “Hằng phút, hằng giờ tham nhũng nả đại bác vào Đảng”! Trong khi Đảng thì… ngay một nhà lý luận lớn của Đảng như Giáo sư Tiến sĩ Mạnh Quang Thắng cũng phải rầu buồn: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một bộ phân không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng…”.
4. Phải tam quyền phân lập mới có “thần linh pháp quyền”
Gần đây có nhiều bài viết tán dương việc cải cách tư pháp theo hướng không để tòa án ở cùng với cấp hành chính, cho rằng như vậy sẽ tránh được cơ quan hành pháp can thiệp vào việc xét xử của tòa án, và từ đó sẽ có tư pháp độc lập. Có đúng vậy không? E rằng những người nêu ý kiến này mới nhìn sự thật ở một nửa! Cần thẳng thắn đặt ra và bàn bạc thấu đáo trước thềm Đại hội 11 của Đảng là: Đảng có nên lãnh đạo tư pháp theo kiểu cầm tay chỉ việc như vậy hay không? Sự lãnh đạo của Đảng đối với quyền Tư pháp nên theo cách nào?
Mới đây, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An có bài trả lời rất hay phỏng vấn của Thu Hà trên VietNamNet về việc sửa đổi Hiến pháp. Ông nói: “Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp, và còn bị chi phối trong xét xử”.
Vậy ai chi phối? Và để chi phối được tư pháp, họ có cần phải ở cùng một cấp hành chính hay không? Nếu họ ở trên một cấp, hoặc trên hai, ba cấp hành chính, ở tận Hà Nội thì họ có thể chi phối được tòa án ở các tỉnh thành phía Nam hay không?
Mặc dù rất dè dặt khi phân tích những nguyên nhân yếu kém của quyền tư pháp, Tiến sĩ Hồ Bá Thâm cũng đã nêu ra một ý kiến rất đáng suy nghĩ về sự lãnh đạo của Đảng đối với quyền tư pháp: “Hơn nữa, khi đường lối của Đảng đã được cụ thể hóa thành Hiến pháp thì Hiến pháp là cao nhất chứ không phải Đảng cầm quyền khi thực thi quyền lực Nhà nước”.
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đã chỉ đúng chỗ mắc mứu lớn chính là vì học thuyết Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đặt “việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Lẽ ra sự lãnh đạo của Đảng chỉ nhằm đưa ra quan điểm lớn là: “Phải làm thế nào để thực hiện cho được quyền tư pháp độc lập, thượng tôn pháp luật, không chấp nhận bất cứ sự chi phối nào ngoài pháp luật”.
Với tinh thần nói thẳng, nói thật có từ Đại hội 6 – Đổi mới, nhưng từ đó đến nay không được nuôi dưỡng tốt, tôi muốn tiếp lời Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đặt ra câu hỏi vốn rất kiêng kỵ này: Tại sao chúng ta không chấp nhận tam quyền phân lập? Đó là kết tinh tư tưởng cao cả của các hiền triết thời cổ đại từ Platon, Aristotle cho đến các nhà tư tưởng thế kỷ 18 như Lock, Montesquieu, J.J. Rousseau, Kant, Hegel… đã trở thành tài sản vô giá của toàn nhân loại trong tiến trình tranh đấu tìm đến Dân chủ – Tự do. Chính Marx, Engels lúc cuối đời cũng chấp nhận các phương pháp đấu tranh nghị trường trong thể chế của Nhà nước pháp quyền. Cương lĩnh của Quốc tế xã hội dân chủ do Engels sáng lập đã được phát triển và vận dụng ở nhiều nước, có xây dựng Nhà nước tam quyền phân lập, đưa các quốc gia ấy trở thành dân chủ, giàu mạnh. Sự nghiệp Đổi mới của chúng ta thực ra cũng đã vận dụng nhiều bài học của chủ nghĩa xã hội dân chủ, rất tiếc lại không vận dụng bài học xây dựng Nhà nước theo Tam quyền phân lập!
Tại sao? Vì sợ mất đi tính thống nhất của quyền lực Nhà nước chăng? Không đúng! Tính thống nhất của Nhà nước chính là lý tưởng của dân, do dân, vì dân. Một nền tư pháp độc lập mạnh mẽ sẽ kiềm chế được sự lạm quyền của hành pháp, hoặc sự vi hiến của lập pháp, sự bạc nhược của tư pháp thì đó mới là bảo vệ thành công sự thống nhất lý tưởng xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân!
Sợ mất đi trách nhiệm “phân công quyền lực”? Ai phân công? Các nghị quyết của Đảng đều dùng từ “phân công”. Bài viết của nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng dùng từ “phân công quyền lực”. Tuy không nói rõ chủ thể phân công, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước thì mặc nhiên phải hiểu rằng Đảng phân công ba quyền lực Nhà nước. Đúng ra, phải dùng từ phân quyền (decentralize) vốn là một thuật ngữ đã phổ biến thế giới về nhà nước pháp quyền. Còn từ phân công (to divide the work) là để chỉ việc phân chia lao động như phân công lao động theo ngành, giới tính, vùng đất, phân công lao động quốc tế… Có ý kiến cho rằng từ “phân công” tỏ ra nhẹ nhàng hơn “phân quyền” (Tiến sĩ Hồ Bá Thâm). Nhưng ở đây điều cần đạt tới không phải là cảm giác “nặng”hay “nhẹ”mà rất cần đạt được sự chính xác của thuật ngữ quốc tế giữa thời hội nhập toàn cầu.
Sợ mất sự “phối hợp”, tạo nên “sức mạnh tổng hợp” vốn là truyền thống? Xin thưa, các lý thuyết phân quyền chỉ nhấn mạnh kiềm chế, kiểm soát, đối trọng. Nếu muốn nói đến sự phối hợp thì cũng có thể tìm thấy được: Khi cả ba quyền kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau sẽ bật lên một sức mạnh tổng hợp kéo nhà nước đang ở trên đầu nhân dân, phải hạ xuống nằm bên dưới luật pháp!
Sao lại kiêng kỵ tam quyền phân lập đã có mầm mống hằng ngàn năm, được hoàn chỉnh hằng trăm năm, tạo ra sự phân quyền cân bằng và độc lập giữa ba quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp,Tư pháp), quyền lực này kiểm soát, kiềm chế quyền lực kia, tránh xảy ra lạm quyền, chuyên quyền, độc quyền, đảm bảo cho sự tự do chính trị của Nhà nước được lập nên từ quyền lực nhân dân?
Sợ thực hiện tam quyền phân lập sẽ làm cho ba quyền ấy vuột khỏi tầm tay lãnh đạo của Đảng? Rất sai! Trước hết, nó làm cho chúng ta có một Nhà nước dân chủ đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại. Xu thế thời đại là: Pháp luật đứng trên Nhà nước. Chính quyền phục vụ nhân dân chứ không phải hành dân. Chính phủ có trách nhiệm tìm chính sách phù hợp để phát triển đất nước nâng cao phúc lợi nhân dân và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Người dân được làm mọi việc mà luật pháp không cấm, còn chính quyền chỉ được làm đúng theo quy định của pháp luật. Quốc hội chỉ tuân thủ Hiến pháp lập nên từ ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân. Quốc hội không giơ tay theo nghị quyết đã có sẵn, để bị mang tiếng là nghị gật!
Hệ thống tư pháp độc lập ngăn chặn những việc làm sai trái của hành pháp và lập pháp gây hại cho quyền lợi và tự do của công dân. Tòa án độc lập xét xử mọi tranh chấp và mâu thuẫn xã hội theo luật pháp và chỉ tuân theo luật pháp, cho nên được coi là “thành trì của tự do”. Hôm qua, 6/7/2010, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói với Hội nghị cải cách tư pháp, dặn rằng việc đầu tiên là phải bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ tòa án trong sạch, vững vàng. E rằng điều ông dặn chỉ là vấn đề thuộc vào thứ yếu.
Lịch sử xây dựng quyền tư pháp của nhân loại đã chứng tỏ rằng, Bao Công chỉ xuất hiện được từ cơ chế. Cơ chế mới là vấn đế số một, vấn đề đầu tiên! Cơ chế tam quyền phân lập, dùng quyền lực hạn chế quyền lực, sẽ buộc được các Tổng Bí thư, Thủ tướng cũng như phó thường dân khi tòa gọi phải nhanh chóng kíp hầu tòa. Không còn chuyện Tòa án Hà Nội, rồi cả Tòa án tối cao đều bó tay không gọi nổi Thủ tướng! Như vậy có làm giảm quyền lãnh đạo của Đảng? Không! Vụ Quốc hội bác bỏ dự án Đường sắt cao tốc vừa qua đã làm cho nhân dân tin Đảng đã tôn trọng ý dân, đã có thêm động lực để “Đảng phải gần dân, hiểu biết dân, học hỏi dân” (Hồ Chí Minh). Nhân dân sẽ thấy Nhà nước của dân, do dân, vì dân không phải chỉ ở khẩu hiệu mà đã là sự thật nhìn thấy. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhận được thêm năng lực mới. Quyền Tư pháp độc lập sẽ góp một trong những sức mạnh lớn nhất tẩy trừ tham nhũng. Đảng thải loại được lũ sâu mọt thoái hóa đang ẩn náu trong hàng ngũ của mình. Đảng viên sẽ gồm những người liêm khiết trong mắt của nhân dân. Hồ Chí Minh nói “chống tham ô lãng phí quan liêu là dân chủ”, có ý nghĩa như vậy. Nhân dân sẽ công nhận Đảng tích cực đổi mới toàn diện, từ đó mà tính chính danh được nâng lên.
“Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”! Với tam quyền phân lập, “trăm điều phải có Thần linh pháp quyền” (Hồ Chí Minh), tư tưởng ấy sẽ hiện diện trong đời sống, nâng cao quyền dân, làm trong sạch Đảng, tăng cường sinh lực Nhà nước. Há chẳng phải là một việc cấp bách mà Đại hội Đảng rất cần quan tâm?
Đến đây, xin dùng một danh ngôn đã có sức sống 2500 tuổi của nhà hiền triết Platon thay cho lời kết: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của Nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Còn ở nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì, ở đó tôi thấy có sự cứu thoát của Nhà nước”.
T. V. C
http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/lam-sao-thuc-hien-uoc-tu-tuong-ho-chi.html#more

Advertisements

3 phản hồi »

  1. Hay! nhưng làm sao biến sự thượng tôn pháp luật thành hiện thực được?
    – Chờ đợi 01 người lãnh đạo khai phá chăng ?
    – Hay bằng bạo lực ?
    – Hay chờ cho dân trí và thu nhập dân chúng tăng cao (GDP/người > 6.000USD/Người/năm) rồi mới có được? chờ cho đến bao giờ?

    Bình luận bởi truong — 01/09/2010 @ 5:28 chiều | Phản hồi

  2. dung nghe cong san noi? ma hay nhin 90% dan toc vn dong trong lam lu ngheo doi,lam than ly tan,trong khi 10% trong do co hon 3 trieu dang cuop cam quyen, va 5 trieu ke thoi nup bong an theo be dang cong san thi song trong nhung lua giau sang.
    hay nhin nhung gi cong san da va dang lam?nao,HOANG SA,TRUONG SA,AI NAM QUAN,DAT,BIEN RUNGVA TAI NGUYEN CUA QUOC GIA DA VA DANG DUOC BE DANG CONG SAN HAI DAN HIEN DANG CHO HAN CONG BAC KINH,de muu cau danh loi cho ca nhan va be dang cong san vn.VA HON 90% cac chu truong phat trien kinh te cua dat nuoc ,tu xay dung duong xa cau cong,den cac nha may nhiet dien, cung nhu cac nha may dien hat nhan, tham chi con lay ten (tau la) dat ten cho nha may dien cua vn,cho den khai tai nguyen khoang san cua vn dieu do han cong bac kinh dam trach thuc hien thi cong?hang hoa san pham mang nhan hieu china co chua nhieu chat doc hai den suc khoe cua nhan dan hien dien tren thi truong khap ca nuoc,tu xom lang den thanh thi,va binh linh an danh nup bong cong nhan han cong da co mat khap 63 tinh thanh trong ca nuoc,truoc tien la chung gianh lay cong an viec lam cua nhan dan lao dongnghe kho vn,sau la nam em quan cho linh tu bac kinh,hien quan so hon 20 su doan,day la tiem an nguy hai cho dan toc vaan ninh dat nuoc.
    neu con cong san thi dan toc khong bao gio co tu do dan chu,tu do ngon luan tu do bao chi,tu do ton giao tin nguong .v.v…va nhan dan se con duoc huong tu do bi ap buc,dan ap,bat bo giam cam,ban giet va danh dap chet nguoi,do be dang cong san cam quyen thuc hien.
    tu hao hon 2000 cua dan toc con day sau 3 lan danh duoi bon cha ong cua han cong xam luoc,nhung nguyen khi quoc gia chua thay duoc bac tri nhan xuat hien,va su cham tre nay con tiep noi,thi dan toc se lam no le cho han cong va dat nuoc chi con la AN NAM TINH HAN CONG QUOC SE KHONG CON XA./.

    Bình luận bởi H2SG — 02/09/2010 @ 10:02 sáng | Phản hồi

  3. Mình chân thành cãm ơn anh Tống văn Công về bài phân tích quá hay,quá súc tích,mình chỉ là một anh dân quê ngu dốt,nhưng mà mình vẩn nhìn thấy trong anh tràn đầy tình yêu đất nước,đồng bào,mình cũng chung ý nghỉ như anh,và anh H2SG mình thấy đại đa số dân VN từ thành thị đến nông thôn,từ lâu rồi,không còn tin vào đãng và nhà nước nữa.Vì sao vậy?vì sự độc tài,độc đoán,thói kiêu căng hách dịch,tham nhũng,bất lương,lì lợm,tham quyền cố vị của các quan chức,đãng viên từ thôn ấp đến tận trung ương,ngay cả thằng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã sai phạm quá nhiều rồi đã có sự lên án của các tướng lãnh mà nó vẫn cứ cố lì,rõ ràng là những chuyện duy nhứt chỉ có ỡ VN mà thôi.Mình vẫn biết rằng người VN từ xưa đến nay vẫn rất yêu đất nước,đồng bào.Sẵn sàng hy sinh mạng sống để dành lại độc lập,tự do,thống nhứt đất nước, nhưng từ sau năm 1945 đến nay toàn thể nhân dân ta bị bọn CS lừa đão,xô đẩy,giết hại quá nhiều rồi biết đến bao giờ đồng bào VN mới thoát khỏi cảnh nô lệ tù dày này

    Bình luận bởi nguthuong54 — 06/09/2010 @ 5:21 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: