Hoàngquang’s Blog

23/08/2010

Rủi ro tài chính vĩ mô: Lớn nhất là tỷ giá

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 10:50 sáng
Tags:

ANH QUÂN

– Thứ Tư, 18/8/2010
&Đôi điều về nợ nước ngoài -Bùi Kiến Thành

Chiều 17/8, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 VND lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%). Trong khi đó biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%.

“Rủi ro tài chính vĩ mô đáng kể nhất mà Việt Nam có thể gặp phải trong trung hạn là vấn đề tiền tệ, cụ thể là tỷ giá”.

Đó là nhận định của TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia trong bài phát biểu quan trọng với chủ đề “Kinh tế vĩ mô và rủi ro tài chính vĩ mô” trước Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các chuyên gia kinh tế và nhà tài trợ cho Việt Nam tại một hội thảo cấp cao về chính sách được tổ chức sáng nay, 18/8.

Theo ông Nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi nhưng còn nhiều khó khăn. Tăng trưởng GDP đã đạt cao hơn trong quý 2/2010, xuất khẩu tăng nhanh, giải ngân FDI tăng so với cùng kỳ… nhưng bên cạnh đó, tồn kho cao, thu hút vốn FDI gặp khó khăn và thâm hụt thương mại đã gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi đó, dù lạm phát đã giảm tốc nhanh chóng nhưng trước sự phục hồi của nền kinh tế thế giới và giá nguyên liệu tăng lên (giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh vào ngày 9/8 vừa qua), ông Nghĩa cho rằng các tháng còn lại trong quý 3, CPI có thể tăng khoảng 0,3% và con số sẽ còn cao hơn ở các tháng quý 4 năm nay, nhưng có thể chỉ quanh mức 0,5%.

“Có thể nói, kiểm soát lạm phát đã thực hiện khá tốt khi cộng dồn cả năm, CPI tăng khoảng dưới 8%”, ông Nghĩa cho biết.

“Nút thắt” tín dụng

Tuy nhiên, ông Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng, tín dụng vẫn đang là “nút thắt” cho hệ thống ngân hàng nói riêng và tăng trưởng của nền kinh tế nói chung.

Tính đến cuối tháng 7, mặt bằng lãi suất huy động trung bình của 36 ngân hàng thương mại đã xuống mức 11,09%/năm và lãi suất cho vay đối với các đối tượng ưu tiên đã giảm từ 0,5-1,5% so với quý 1/2010, theo đó lãi suất cho vay ngắn hạn dao động ở mức 12,5%/năm và cho vay trung, dài hạn mức 13-14%/năm. Tuy nhiên, lãi suất cho vay phổ biến vẫn ở mức khá cao, 15-16%/năm.

Về căn bản, doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận vốn ngân hàng”, ông Nghĩa nói. “Nếu tình hình kéo dài và không được khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng duy trì tăng trưởng ổn định trong những tháng tới”.

Liên quan đến hoạt động tín dụng các ngân hàng thương mại, ông Nghĩa lưu ý đến việc tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đến hết tháng 7 đã quá cao, tăng trên 34% so với cuối năm ngoái, trong khi huy động giảm.

Phó chủ tịch Nghĩa cho rằng, trong những tháng tới, tín dụng VND sẽ tiếp tục tăng khi khả năng tăng cho vay ngoại tệ hầu như không còn, và Ngân hàng Nhà nước đang nỗ lực đẩy mạnh hơn việc bơm vốn cho các ngân hàng thương mại qua thị trường mở theo chỉ đạo của Chính phủ.

Phân tích hiệu quả điều hành, ông Nghĩa cho rằng, hiện thị trường tín dụng vẫn tồn tại một số rào cản hành chính khiến cho mặt bằng lãi suất chưa thể giảm nhanh và mạnh như mong đợi.

Cụ thể, với việc bơm tiền trên thị trường mở đều đặn trong 2-3 tháng qua khiến cho nguồn vốn trên thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng) khá dồi dào nhưng các ngân hàng thương mại bị hạn chế dung vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng làm vốn tín dụng dẫn tới thiếu vốn cho vay và không thể tiếp cận vốn trên thị trường liên ngân hàng đang rẻ và dư thừa.

Hệ quả là các ngân hàng này phải tìm mọi cách tăng lãi suất huy động lên mức cao nhất có thể để tìm nguồn vốn trong khu vực doanh nghiệp và dân cư, kéo theo các ngân hàng khác cũng không thể hạ lãi suất huy động của mình để đảm bảo tính cạnh tranh.

Không những thế, quy định này còn đẩy các ngân hàng thiếu thanh khoản vào tình thế tìm mọi cách lách luật để tồn tại, theo đó các ngân hàng thức hiện mức lãi suất huy động gần như bằng nhau cho tất cả các kỳ hạn, nhờ đó sẽ huy động được nhiều tiền gửi ngắn hạn và lách được quy định của Ngân hàng Nhà nước về giới hạn 30% tiền gửi ngắn hạn huy động cho vay trung và dài hạn.

“Với biểu lãi suất như vậy, các ngân hàng thương mại có thể đẩy lãi suất thực lên cao hơn, bởi lẽ lãi suất thực phụ thuộc và kỳ hạn gửi và cách tính lãi chứ không phụ thuộc vào chỉ số phần trăm”, ông Nghĩa nhấn mạnh.

Liên quan đến thống tư 13 về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động, ông Nghĩa cho rằng đã tạo ra những lo ngại về sự khan hiếm tín dụng trong những tháng tới.

“Nếu Ngân hàng Nhà nước vẫn cố tiếp tục giữ những quy định thiếu thực tế như trên thì việc thực hiện mục tiêu đưa lãi suất về mức ‘vào 10 ra 12’ chắc chắn sẽ càng khó khăn”, ông khẳng định.

Bất thường ngoại hối

Trong khi đó, thị trường ngoại hối thường xuyên căng thẳng trong suốt quý 1/2010 với sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu ngoại tệ, có thời điểm, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do và chính thức lên đến trên 200 đồng/USD.

Sang quý 2, sức ép tỷ giá có giảm bớt và nửa cuối quý 2, thậm chí tỷ giá thị trường tự do liên tục thấp hơn thị trường chính thức. “Cần lưu ý, đây là điểm trái quy luật và bất thường, chứ không phải dấu hiệu tích cực trong điều hành tỷ giá”, ông lưu ý.

Ông Nghĩa lý giải rằng, việc tỷ giá thị trường tự do thấp hơn thị trường chính thức phản ánh chênh lệch quá thấp giữa lãi suất cho vay bằng USD và VND, đã tạo ra một lượng cung ảo ngoại tệ rất lớn ra thị trường. “Điều này không chỉ gây méo mó cung cầu ngoại tệ mà còn tạo ra những hệ lụy phức tạp trong điều hành tỷ giá giai đoạn sau”, ông khẳng định.

Liên quan đến diễn biến tỷ giá trên thị trường tự do đã trở lại cao hơn so với thị trường chính thức kể từ tháng 7 năm nay, ông Nghĩa cho rằng, đây là dấu hiệu tích cực cho thấy việc quy định hạn chế cho vay bằng ngoại tệ đã phát huy tác dụng và đang dần xóa bỏ được lượng cung USD ảo ra thị trường.

Tuy nhiên, việc giá mua USD bằng giá bán và luôn chạm trần tại các ngân hàng thương mại thời gian qua cho thấy hiện tượng “bình ngưng” vốn rất phổ biến trên thị trường ngoại hối trong năm 2009 đã chớm có dấu hiệu quay trở lại, nó phải ánh tình hình ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại đã bắt đầu căng thẳng và có hiện tượng thu thêm phí ngầm trong hoạt động mua bán ngoại tệ tại các ngân hàng này, Phó chủ tịch Nghĩa cho biết.

Ông Nghĩa cũng dự báo trong thời gian tới, đặc biệt là quý 4/2010, diễn biến tỷ giá USD sẽ khá phức tạp bởi cung cầu ngoại tệ có một số thay đổi nhất định do: nhập siêu đã cao hơn gấp đôi cùng kỳ và còn tiếp tục tăng; nhu cầu vay ngoại tệ đang có xu hướng giảm do lãi suất VND giảm nhẹ, trong khi lãi suất ngoại tệ tăng lên; các hợp đồng vay đáo hạn khiến doanh nghiệp phải gom USD trả nợ…

Phó chủ tịch Nghĩa cũng lập luận rằng, với mức lạm phát cao, VND đang trong xu hướng mất giá so với USD, thậm chí VND đang được định giá cao hơn so với giá trị thực.

Tóm lại, rủi ro tài chính vĩ mô đáng kể nhất mà Việt Nam có thể gặp phải trong trung hạn là vấn đề tiền tệ, cụ thể là tỷ giá hối đoái, khi mà sức ép tỷ giá đang gia tăng từ nhiều phía như thâm hụt vãng lai lớn; tỷ lệ vốn từ bên ngoài so với dự trữ ngoại tệ đã tăng từ 37% năm 2009 lên 80%, trong khi tỷ giá hối đoái kém linh hoạt và bị định giá quá cao so với tỷ giá thực…”, ông Nghĩa lưu ý.

http://vneconomy.vn/20100818110321467P0C6/rui-ro-tai-chinh-vi-mo-lon-nhat-la-ty-gia.htm

_________

Đôi điều về nợ nước ngoài –

13/08/2010

Đồng yên lên giá khiến gánh nặng trả nợ của các nước đi vay bằng yên thêm nặng.

Báo cáo của Viện Kinh tế Việt Nam cho thấy nợ nhà nước (nợ công), bao gồm cả nợ nước ngoài, tăng tới mức 52% so với GDP.

Vào tuần trước Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cũng khuyến cáo Chính phủ nên giảm đi vay nước ngoài để tránh rủi ro liên quan tới tỷ giá hối đoái.

Vào năm ngoái Nhật Bản nắm hơn 40% khoản mà Việt Nam vay nợ nước ngoài với ODA chiếm khoảng ba phần tư.

Vậy nợ nước ngoài như hạng mục ODA chẳng hạn có ý như thế nào, BBC đã phỏng vấn chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành từ Hà Nội.

Bùi Kiến Thành: ODA có nhiều khi cho vay với thời hạn 30-40 năm, với lãi suất 1-2%/năm, thậm chí có thời gian không phải trả lãi 10-15 năm…. đó là các khoản cho vay ưu đãi.

Trên giấy tờ thì trông mềm hơn. Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ thường thì ODA của Nhật lại có các điều kiện ràng buộc, bắt mua hàng Nhật, thuê Kỹ sư hay chuyên gia Nhật, có trường hợp đắt hơn giá thị trường 20-30%. Tức là lãi suất thấp nhưng kể như nhập cuộc là phải trả trước một khoản 20-30% rồi thì cũng như trả lãi ngay lúc đầu rồi.

Cho nên phải xem lại cái gọi là “viện trợ” hay cho vay lãi suất thấp mà người ta tưởng.

Do đó Nhà nước Việt Nam phải cân nhắc trong trường hợp nào thì cần tới ODA và cần để làm gì vì có thể nó cũng không hẳn là ưu đãi.

BBC: Khi Nhật cho VN vay ODA thì cho vay bằng đồng yên, biến động tỷ giá đồng yên trong vài năm qua rất mạnh. Vậy tỷ giá hối đoái ảnh hưởng thế nào?

Cái này có ảnh hưởng nhiều vì khi đồng yên lên giá 5-10% thì tiền đi vay về đổi ra tiền đồng để đầu tư bị mất 5-10%. Rồi khi kinh doanh xong muốn trả nợ thì phải đổi ra tiền yên để trả nợ. Nếu giá trị đồng yên mạnh thì tức là mình đổi được ít.

Cũng có trường hợp các công ty làm ăn tưởng có lời nhưng tới cuối năm tính toán lại thấy lỗ do tỷ giá. Do đó tỷ giá đồng yên nó có ảnh hưởng tới nợ công cũng như nợ tư của các tập đoàn.

BBC: Khi Chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế thì có nghĩa là Chính phủ đi vay. Rồi khi huy động được tiền rồi thì lại giao cho các tập đoàn lớn như Vinashin chẳng hạn. Vậy khi các tập đoàn đổ bể thì nghĩa vụ trả nợ thuộc về Chính phủ?

Khi Nhà nước Việt Nam đi bán trái phiếu thì Nhà nước Việt Nam đi vay chứ không phải Vinashin. Khi Nhà nước chuyển tiền sang cho Vinashin thì cái đó là chuyện nội bộ của phía Việt Nam. Tức là Chính phủ nợ nước ngoài chứ không phải Vinashin nợ.

Tuy nhiên Vinashin là doanh nghiệp của Nhà nước 100%. Ông chủ của Vinashin là Nhà nước, nên nợ của Vinashin cũng là nợ của ông chủ, trừ phi trong hợp đồng vay nợ nói khác.

Vinashin ngoài khoản đi vay của Chính phủ (từ tiền huy động trái phiếu quốc tế) thì còn vay thêm của những nơi khác khoảng 600 triệu đôla nữa từ các định chế tài chính quốc tế mà không có bảo lãnh của Nhà nước Việt Nam. Cái đấy mới là vấn đề.

Tức là ở đây có hai việc, Nhà nước Việt Nam đi vay, rồi về cho Vinashin vay, là một chuyện, còn Vinashin đi vay riêng thêm lại là một việc nữa.

BBC: Khi nói tới nợ công thì cũng không thể không nói tới ngân sách Chính phủ. Ông thấy có gì đáng chú ý trong việc hạch toán ngân sách?

Ngân sách của Chính phủ không chỉ bao gồm thuế mà còn cả doanh thu của các tập đoàn lớn như dầu khí hay khoáng sản (than). Tức là tập đoàn không được giữ doanh thu mà phải nộp vào ngân sách, hay Nhà nước Việt Nam nhập vào ngân sách để tiêu dùng. Cái này phải xem lại vì theo thông lệ quốc tế cái đó là doanh thu của tập đoàn, là tài nguyên chứ không phải là ngân sách.

Chẳng hạn thu nhập của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đóng góp tới 20% ngân sách Nhà nước. Tức là nếu không có khoản này thì số công nợ mà Nhà nước phải bù vào là tới 20% ngân sách. Nói cách khác đi nếu Nhà nước không đưa 66 ngàn tỷ đồng doanh thu của PetroVietnam vào ngân sách thì Nhà nước bị thâm hụt 66 ngàn tỷ đồng theo cách tính theo thông lệ quốc tế.

Cái này nó tạo vấn đề ở chỗ không tính được tổng số nợ trong ngân sách là bao nhiêu. Tức là nếu ta tách thu nhập của các tập đoàn kinh tế ra thì thâm hụt của ngân sách sẽ rất lớn. Vấn đề này chắc cũng sẽ có lúc nào đấy các nhà lãnh đạo Việt Nam phải suy nghĩ lại và tính xem có nên sử dụng như thế hay không và nếu sử dụng phải ghi chép ra sao cho đúng thông lệ quốc tế.

Nguồn: BBC

http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/oi-ieu-ve-no-nuoc-ngoai.html#more

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: