Hoàngquang’s Blog

23/08/2010

Phỏng vấn nhà kinh tế Đặng Phong Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay

Filed under: Kinh tế,TƯ TƯỞNG — hoangquang @ 9:19 sáng
Tags:

Phỏng vấn nhà kinh tế Đặng Phong
Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay

Báo Người Đô Thị
Tháng 5/2008
Hân Hương thực hiện
& Đặng Phong – “pho sử sống” kinh tế đi vào lịch sử-Phan Thế Hải
+GS Đặng Phong nói chuyện với các bạn trẻ(Hà Nội – Tháng 11-2008)

Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong – tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo Người Đô Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển tiềm năng

Ông mời tôi ăn cơm trưa: “Có cá diếc kho tương và rau muống học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy “chúng nó” hét dzô, dzô… không nuốt nổi”. Ăn lối nhà quê, nhưng ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.

Người ta sợ tôi bị “mua”

Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng dạy?

– GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi làm tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp). Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện… ở đó ra. Tôi cũng bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của tôi là: “Chế độ thu mua thóc ở VN”, được đánh giá tốt, có lẽ vì thế ông thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở lại giảng ở trường ĐH Paris VII.

Nghe nói ông từng bị “đả đảo” ở Mỹ?

– Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là “chuyện động trời” đối với một trí thức xã hội chủ nghĩa. Thêm chuyện trường ĐH Irvine (bang California – Mỹ) mời tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã “bị phương Tây mua rồi”. Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi trao đổi thẳng thắn với một cán bộ đại sứ quán ta ở Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua Mỹ vào năm 1991.

Buổi giảng đầu tiên tại Irvine “Thực trạng kinh tế VN” khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình “đả đảo”, đòi “Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!” Họ đòi bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn. Tôi đồng ý, có ba người xấn vào nóng nảy lên án tình trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về tham những, tôi nói đúng có tham nhũng – nhưng chính quyền Sài Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế, có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ… không hề muốn xuống ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ nguyện vọng đó như mọi công dân khác.

Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận, sửa chữa – sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.

Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?

Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?

– Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.

Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính – thu nhập của họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.

Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ – có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí… là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.

Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ – là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.

Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào… để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia, Malaysia, Nhật Bản… để sản xuất.

Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ). Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.

Bộ máy kinh tế giỏi

Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế giỏi?

– Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng… phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm…, Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng…) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế – xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm… trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.

Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế đó?

– Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi…

Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế giỏi?

– Marx nói “Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong 100 – 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại”. Tức là tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp, tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.

Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ “lực lượng lao động hợp tác xã” thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta- bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ – nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa.

Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn…

Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?

– Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn Nhất… là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá… rồi bán thầu cho Hoa kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ…) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v… Tất nhiên sự tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí… Đó một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.

Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?

Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng là con đường “nâng giai cấp “ của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.

Hơn và kém xưa

Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:

– Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc… đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên – thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.

– Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình, người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan. Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ trấn lột, chém giết, cướp bóc… Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới. Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn… Mọi người được yên ổn làm ăn.

– Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu… lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng… Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.

Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống, mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ cũng không ổn định.

Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai nạn xảy ra liên tục… thể hiện sự bất cập của hệ thống quản lý hiện nay.

Đặng Phong

http://www.viet-studies.info/kinhte/DangPhong_NguoiDoThi_phongvan.htm
____________

Đặng Phong – “pho sử sống” kinh tế đi vào lịch sử
Cập nhật lúc: 8/21/2010 12:25:01 AM (GMT+7)

Phan Thế Hải

(VNR500) – Cuộc dạo chơi ở chốn trần gian của GS. Đặng Phong, người được mệnh danh là pho sử sống về kinh tế ở Việt Nam, đã dừng lại để về với thế giới bên kia. Việc ra đi của ông dẫu đã được báo trước nhưng vẫn để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và người thân lòng tiếc thương vô hạn.

Với tôi, Đặng Phong là một nhân hiệu, một nhà khoa học, một người anh thân tình. Tôi biết đến tên tuổi ông đã lâu, trước khi gặp mặt, dẫu, từ chỗ tôi tới nhà ông chỉ mất 5 phút đi bộ.

Đầu năm ngoái, sau khi đọc xong cuốn: “Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989″, thấy đây là cuốn sách hay, có chất lượng khoa học, tôi quyết định phải gặp tác giả. Nhân lúc ngồi với nhà văn Vũ Thi ở Hồ Tây, bàn về cuốn sách, Vũ Thi giới thiệu tôi với Đặng Phong, từ đó, tôi đã dăm lần gặp ông tại nhà riêng ở làng cổ Yên Phụ.

Hồi đó, do bệnh tình diễn biến xấu nên sức khỏe của ông không được như xưa. Tuy vậy, trí nhớ của ông vẫn rất tốt và đặc biệt, ông nói về nền kinh tế thời kỳ bao cấp rất hào hứng, mạch lạc. Lúc đó, ông đang khẩn trương hoàn thành cuốn “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới”. Ông mở máy tính, giới thiệu từng trang bản thảo đang hoàn thiện, cùng với đó là hệ thống tư liệu sống mà ông sưu tập được qua các thời kỳ, những bức ảnh mà ông chụp được trong các chuyến đi.

Ông tâm đắc với bức ảnh một đám rào mong manh trong dòng nước lũ mênh mông đầy ẩn ý. Ông bảo sẽ đưa nó làm ảnh bìa cho cuốn sách. Cùng với những bản thảo, tư liệu sống, ảnh chân dung cố thủ tướng Võ Văn Kiệt được đặt trên tủ kính một cách trang trọng trong phòng khách của ông, với những dòng chữ viết tay của Đặng Phong rất trân trọng và cảm động giành cho “ông Sáu”.

Hồi đó, các xét nghiệm ở viện K đã cho thấy ông bị căn bệnh ung thư vòm họng, sau khi sử dụng hết các liệu pháp Tây y, người ta khuyên ông chuyển sang Đông y. Theo đó, mỗi tháng ông sang Trung Quốc độ hơn 2 tuần, vừa uống thuốc, vừa theo dõi, rồi về nước, hết đợt dùng thuốc, thu xếp tiền bạc lại sang. Mỗi lần từ Trung Quốc về, sức khỏe của ông có khá hơn, nhưng dường như cũng không cưỡng lại được sự khắc nghiệt của căn bệnh nan y.

Cũng chính vì tình trạng sức khỏe như vậy, nên về nhà nhưng hầu như ông không tiếp khách. Tôi với Vũ Thi là một ngoại lệ. Mỗi lần đến thăm ông, thường chỉ kéo dài hơn ba chục phút, sau đó ông xin phép được đi nghỉ. Dẫu phải chống đỡ với bệnh tật, nhưng khi nói về lịch sử kinh tế thì ông vẫn hào hứng như một cậu học trò. Danh hiệu “Pho sử sống” về kinh tế mà người đời giành cho ông quả không sai tý nào.

Mỗi nhân vật lịch sử đều được ông nhìn nhận với sự cảm thông chính trị sâu sắc. Theo ông, lịch sử như một dòng chảy, mỗi con người chỉ là một sinh linh nhỏ bé và khó có thể cưỡng lại được dòng chảy ấy. Trách nhiệm của người đi sau là phải có sự suy ngẫm kỹ để rút ra bài học cho tương lai.

Theo cách nói của ông: “Đánh giá lịch sử cần phải có sự lễ độ và khoa học”. Với phương châm đó, ông đã giành cho những nhân vật mà ông nghiên cứu những lời lẽ phải chăng, thoát ly khỏi các định kiến chính trị.

Võ Văn Kiệt: Người vứt kinh tế bao cấp vào sọt rác

Đặng Phong cho rằng, sau thống nhất, Sài Gòn bị kéo vào guồng máy kinh tế tập trung. Đến mùa thu hoạch, đồng lúa miền Nam chín vàng, nhưng dân thành phố lại ngấp nghé nạn đói. Nhà nước áp giá pháp lệnh 5,2 hào một kg trong khi thị trường là 1,5 đồng một kg, nông dân đâu chịu bán. Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Kiệt khi ấy chỉ đạo Công ty Lương thực thu mua lúa của dân theo giá tương xứng, cứu đói cho thành phố.

Ủy ban Vật giá bèn “kiện” lên trung ương rằng ông Kiệt phá rào. Bà Ba Thi, Giám đốc Công ty Lương thực thành phố bị triệu ra kiểm điểm. Thế nhưng sau khi ông Kiệt ra báo cáo, thuyết phục, Tổng bí thư Lê Duẩn ủng hộ. Giá thu mua lương thực cả nước nhờ đó được điều chỉnh lên gần với giá trị thực.

Sau vụ đó, đến lượt Xí nghiệp Dệt Thành Công thiếu vật tư, đình trệ sản xuất. Nhà nước không lo nổi chuyện cung ứng vật tư, nguyên liệu cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp thì không có ngoại tệ, trong khi Ngân hàng Ngoại thương thừa đôla trong két lại không được tự ý cho vay. Nhiều ngành khác cũng đình đốn. Ông Kiệt đã chỉ đạo ngân hàng phải cho vay và yêu cầu doanh nghiệp phải trả được nợ. Nút thắt được gỡ, doanh nghiệp nhập nguyên liệu về sản xuất, có hàng hóa phục vụ dân, có lãi dư trả nợ.

Ngay từ thời còn làm Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Võ Văn Kiệt đã bộc lộ tính cách mạnh mẽ và đã có những quyết sách kinh tế quan trọng. Đầu tiên là cải cách hệ thống kế hoạch, dần dần thừa nhận quyền tự chủ của xí nghiệp quốc doanh, của địa phương. Sau đó là việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng.

Với sự tham vấn của các chuyên gia kinh tế có kinh nghiệm, ông Kiệt đã thành công trong chuyển đổi hệ thống ngân hàng nhà nước. Từ đó các ngân hàng thương mại quốc doanh mới thực sự có sức sống, rồi tỷ giá ngoại tệ được đẩy lên sát giá thị trường, mở cửa thu hút kiều hối… Ông cũng là người ký ban hành Quyết định 217 trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh…

Đại hội VI năm 1986, ông Kiệt chịu trách nhiệm thiết kế ba chương trình kinh tế lớn: Phát triển sản xuất lương thực, chấm dứt chủ trương công nghiệp nặng đi trước; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất hàng xuất khẩu. Ba chương trình được thúc đẩy đồng bộ, quyết liệt làm thay đổi cục diện kinh tế. Đến 1989, từ một nước thiếu ăn, lần đầu tiên ta xuất khẩu gạo.

Ngay việc xuất khẩu gạo cũng là quyết định táo bạo. Trong nước thừa gạo, nhưng xí nghiệp nhà nước không đủ tiền thu mua. Ông Kiệt ký cho phép giám đốc Vietcombank vay ngoại tệ, nhập vàng về bán cho dân lấy tiền mua gạo xuất khẩu.

Năm 1991, ông Võ Văn Kiệt được giao trọng trách Thủ tướng. Đây được coi là sự kiện quan trọng để ông Kiệt đã tiếp tục triển khai những ý tưởng của mình vì lợi ích của nền kinh tế. Với thành quả ban đầu của quá trình đổi mới, trung ương tự tin hơn trong mở cửa với bên ngoài.

Và trên cương vị Thủ tướng, ông Kiệt có được vị thế ngoại giao để đặt quan hệ chính thức với nguyên thủ các quốc gia, đầu tiên là các nước trong khối ASEAN. Đột phá là quan hệ với Thái Lan, rồi đến Indonesia và các nước khác. Và từ 1990, Việt Nam sáng lên, thoát khỏi cái bóng hậu chiến, được thế giới kính trọng. Ông Kiệt trở thành nguyên thủ quốc gia được bạn bè quốc tế yêu quý.

Dưới nhiệm kỳ của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhiều văn bản pháp luật làm khuôn khổ pháp lý cho kinh tế thị trường đã được ban hành. Từ những đóng góp của ông trong việc thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều chuyên gia, học giả đã gắn liền sự nghiệp của ông với hai chữ đổi mới.

Những điều Đặng Phong nói khiến tôi liên tưởng tới một đánh giá của ông Nguyễn Trần Bạt (Chủ tịch InvestConsult Group) cách đây không lâu: Võ Văn Kiệt là người có công vứt cả hệ thống cơ chế quản lý kinh tế bao cấp vào sọt rác và thay vào đó một hệ thống quản lý khác, hợp với cơ chế thị trường. Ông Bạt cũng cho rằng Võ Văn Kiệt là một trong ba vĩ nhân của dân tộc ở thế kỷ XX. (hai người kia là Cụ Hồ và ông Lê Duẩn)

Đổi mới là một cỗ xe

Đặng Phong ví đổi mới như là một cỗ xe. Cỗ xe này có lúc đi nhanh, có lúc chậm. Để đi được, phải có người đẩy, có người lái, thậm chí có người kéo lùi. Cũng có người thời kỳ đầu là người tiên phong đẩy cỗ xe, nhưng có lúc lại kéo lùi lại. Trường hợp các ông Nguyễn Văn Linh hay Đỗ Mười đã có những vai trò khác nhau trong bước chuyển động của cỗ xe đổi mới.

Đổi mới không phải là công của một cá nhân, không có người khởi xướng, không có cha đẻ, hay lãnh tụ đổi mới. Mỗi ông có một vai trò khác nhau. Về lý luận có thể kể đến Trường Chinh và những người giúp việc cho ông. Về thực tiễn có thể kể đến Võ Văn Kiệt, Đoàn Duy Thành…

Võ Văn Kiệt không phải là người uyên bác về lý luận, không phải là người đưa ra tư tưởng đổi mới, nhưng ông sâu sát, có trách nhiệm với đời sống của dân. Ông Kiệt có vai trò như một chiếc xe tăng “đỡ đạn” cho những người “xé rào”. Tiếp xúc với các chuyên gia về kinh tế thị trường ở lại từ sau ngày 30/4, nhưng, có lẽ nhờ sự lão luyện của một nhà lãnh đạo chiến tranh nhân dân mà Võ Văn Kiệt không đặt ra các vấn đề mang tính lý thuyết.

Ông Kiệt để cho thực tiễn tự giải quyết các vấn đề của chính nó và đẩy thực tiễn đến một tình thế không thể cưỡng lại được nữa. Không có ông thì không có Dệt Thành Công, Việt Thắng, Bột giặt Viso, Thuốc lá Sài Gòn, Công ty Lương thực của bà Ba Thi… Ông Kiệt còn là chỗ dựa cho những đổi mới về chính sách trong nông nghiệp, về giá… ở An Giang, Long An… với những tên tuổi như Nguyễn Văn Hơn, Chín Cần (Nguyễn Văn Chính)…

Đổi mới ở Việt Nam là một cuộc đấu tranh không có kẻ thua; không có ai hoàn toàn là bảo thủ, cũng như không có ai là thuần túy đổi mới. Tổng Bí thư Lê Duẩn, tác giả chính của “làm chủ tập thể” lại là người ủng hộ Đoàn Duy Thành “khoán” ở Hải Phòng, ủng hộ “bù giá” ở Long An và khi nghe Bộ trưởng Ngoại thương Lê Khắc nói, “vào tới Tân Sơn Nhất thấy sặc mùi Nam Tư”.

Lê Duẩn khẳng định, “làm như Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), tôi ủng hộ”. Đỗ Mười, từ là người sắt đá với tư cách là Trưởng Ban Cải tạo hồi “đánh tư sản” miền Nam về sau khi đứng đầu Chính phủ lại “chúc người dân phát tài”.

Trường Chinh khi xưa phê phán Kim Ngọc khoán sản phẩm ở Vĩnh Phú trong những năm 60 lại là người ủng hộ rất sớm khoán ở Hải Phòng. Đổi mới ở Việt Nam không có cá nhân nào là tác giả duy nhất. Có những người từ rất bảo thủ về sau lại đi đầu trong đổi mới. Có những người từng nổi lên như một ngọn cờ nhưng chỉ đổi mới một giai đoạn rồi thôi.

Tổng Bí thư Trường Chinh: khởi xướng về lý luận

Có thể nói, từ năm 1960 đến năm 1986, tư tưởng kinh tế Việt Nam do Tổng bí thư thống soái. Nổi bật trong tư tưởng đó được thể hiện trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang” của Lê Duẩn. Ông Duẩn cũng được coi là cha đẻ của học thuyết làm chủ tập thể. Tư tưởng kinh tế này có thể tóm tắt mấy ý chính gồm: Công hữu hóa về tư liệu sản xuất; Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; Thương nghiệp phải lo cho mỗi người dân VN; Xây dựng pháo đài kinh tế cấp huyện…

Tháng 5/1986, Lê Duẩn ốm nặng, chuyển giao quyền Tổng bí thư cho Trường Chinh. Lúc này, Đảng đang chuẩn bị đề cương chính trị cho Đại hội VI. Những người được phân công soạn thảo gồm có: Tố Hữu; Trần Phương; Việt Phương; Trần Quỳnh; Đoàn Trọng Xuyến… Nhóm này đã từng là tác giả của các văn kiện đại hội đảng trước đó. Nếu họ tiếp tục việc soạn thảo, khó có thể có đột phá.

Khi nắm quyền Tổng Bí thư, Trường Chinh đã thay thế nhóm này bằng một nhóm khác gồm: Hà Nghiệp; Đào Xuân Sâm; Lê Văn Viện… Trong Đảng, Trường Chinh được coi là Nhà lý luận. Uy tín của ông về lĩnh vực này rất lớn, ý kiến của ông đưa ra không mấy người dám bác bỏ. Đây là điều quan trọng để ông đưa những tư tưởng đổi mới vào nghị quyết mà không bị đấu tố

Trường Chinh quan tâm đến những phản ứng của cuộc sống khá sớm và kể từ khi làm quyền Tổng Bí thư, ông đã đi xuống các địa phương “xé rào” và tiếp xúc rất nhiều với các nhà doanh nghiệp áp dụng cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh. Ngày 20/06/1986, Trường Chinh cách chức hai phó Thủ tướng Trần Quỳnh và Tố Hữu. Hai ông này là những hòn đá tảng của tư duy kinh tế tập trung.

Việc đưa một số quan điểm vào nghị quyết, nay nhìn lại thấy bình thường nhưng tại thời điểm năm 86 là cả một vấn đề. Đặc biệt, việc thừa nhận nền kinh tế thành phần; chấp nhận giá cả thị trường; không theo đuổi việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; mở cửa với các nước ngoài khối XHCN… Đây là những tư duy rất quan trọng để các cơ sở có thể vận dụng vào đời sống kinh tế.

Đánh giá cao vai trò của Trường Chinh về mặt lý luận, nhưng Đặng Phong vẫn cho rằng đổi mới là tự thân đòi hỏi của cuộc sống. Ông dẫn một câu của Trần Phương: Cả dân tộc như bị nhốt trong một phòng kín. Vì sự sinh tồn, người dân đục thủng một lỗ để thông hơi. Đảng đã không bịt lỗ thủng ấy mà thừa nhận, rồi cho làm cửa sổ. Khi cửa sổ không còn đáp ứng được nhu cầu, Đảng có mở rộng thêm thành cửa ra vào.

Hào quang Liên Xô

Trả lời câu hỏi: Đâu là cội nguồn bệnh tật của nền kinh tế Việt Nam?

Đặng Phong cho rằng: Chủ nghĩa xã hội có nguồn gốc từ nước Đức. Không chỉ Marx mới là người duy nhất đề xuất ra mô hình đó. Thời Hitle, tư tưởng Quốc Xã (National Sosialist) thực chất là chủ nghĩa xã hội quốc gia. Chủ nghĩa xã hội này chỉ khác chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô xuất khẩu là một bên chủ nghĩa xã hội cho quốc gia và một bên là cho toàn thế giới.

Chiến thắng phát xít khiến uy tín của Liên Xô trở nên lớn quá, không thể không ngưỡng mộ. Thêm vào đó, những thành tựu của Liên Xô cuối những năm 1950 trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ, công nghiệp vũ khí và một số lĩnh vực khác khiến chúng ta bị lóa mắt.

Từ những thành tựu ấy, năm 1957, và năm 1960, đại hội Đảng cộng sản và công nhân quốc tế đã ra Tuyên bố chung về phong trào cộng sản quốc tế. Tuyên bố chung này có nhiều điểm nhưng về kinh tế thể hiện ở mấy quan điểm chính: Chế độ sở hữu: Công hữu: Chính sách: Kế hoạch hóa; ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; Lý thuyết bỏ qua giai đoạn; quá độ tiến thẳng…

Liên Xô không chỉ là chỗ dựa về mặt tư tưởng mà còn là chỗ dựa về mặt vật chất. Viện trợ của Liên Xô không chỉ làm cho hệ tư tưởng quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung của Việt Nam được phổ biến một cách sâu rộng mà còn giúp cho mô hình này chậm đi tới kết cục sụp đổ.

Tuy nhiên, cho dù hậu quả là bi kịch thì cũng phải nhìn nhận rằng, hai thứ viện trợ ấy đều là những “viện trợ tình nghĩa”. Cho dù tiến trình đổi mới tư duy ở Việt Nam xảy ra là độc lập với những cải cách ở Liên Xô, từ khi Gorbachov giữ chức Tổng Bí thư (3/85), những cải cách ở Liên Xô cũng đã tạo thuận lợi rất nhiều cho những gì diễn ra ở Đại hội VI của Việt Nam. Đặc biệt, khi chúng ta không còn cái gọi là thành trì làm chỗ dựa, thì việc phải tồn tại bằng chính đôi chân của mình khiến việc chuyển hướng sang cơ chế thị trường trở nên dứt khoát, không do dự…

Đặng Phong là vậy, với ông lúc đó dường như chỉ có lịch sử và sức khỏe. Ông đã biết trước được căn bệnh của mình nên mỗi lần về nước đều tranh thủ viết, tranh thủ hiệu đính cho các công trình dang dở. Dẫu đó là công trình của riêng ông hay của các học trò.

Cũng do việc điều trị ở nước ngoài quá lâu, nên vào đầu năm nay ông đã bán nhà ở Yên Phụ để lo chuyện thuốc thang. Mỗi lần từ Trung Quốc về, ông ở nhà con gái và cũng từ dạo đó, ông không còn liên lạc với bạn bè. Sáng 20/8, Vũ Thi báo cho tôi, rằng ông đã ra đi lúc gần hai giờ sáng. Vậy là “pho sử sống” của lịch sử kinh tế Việt Nam đã đi vào lịch sử.

Sinh thời, Đặng Phong vẫn thường nói: “Mình cùng tuổi với Trịnh Công Sơn, với nhạc sỹ họ Trịnh là chỗ bạn bè, mỗi lần Trịnh Công Sơn ra Hà Nội đều đến đây”. Ông rất thích câu của Trịnh: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/để một mai tôi trở về làm cát bụi.” Giờ đây, ông đã trở về cùng cát bụi, xin được thắp một nén hương tưởng nhớ./.

GS.Đặng Phong: Đọc và suy ngẫm

Trong điều hành kinh tế, phải phản ứng nhạy bén với cái mới, phải làm sao có những kênh thông tin và cơ chế đưa ra quyết sách tối ưu, để tránh tình trạng tư duy kinh tế và chính sách kinh tế lạc hậu và trì trệ đến mức, quần chúng và cơ sở buộc phải “bất tuân thượng lệnh”, phải phá rào để mở đường đi. Hiện tượng đó, dù sao cũng chỉ là hạ sách mà thôi…

(Trích từ “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới”- NXB Tri thức)

Có thể nói rằng người Việt Nam vẫn chưa hình thành rõ một hệ thống tư duy kinh tế.

Cách của người Việt Nam là cứ đi sẽ thấy đường, và chúng ta đã có những thành công. Chúng ta đang làm, vừa thi công vừa thiết kế. Nếu để vẽ một đường nét về tư duy kinh tế Việt Nam, tôi sẽ vẽ một ngôi nhà mà vừa thiết kế, vừa thi công. Để có một tư duy kinh tế rõ ràng và chắc chắn, thì người trẻ có một sứ mệnh rất quan trọng…

(Theo Sinh viên VN)

Sau 20 năm đến bây giờ là tư duy kinh tế lại thiếu đi những hàng rào cần thiết, thiếu hàng rào pháp lý. Tình trạng phá rào giờ là không tốt. Nhà nước chưa nghĩ ra được hàng rào để kinh tế không ách tắc, ví dụ hàng rào để ngăn chặn tham nhũng. Giờ đây tình trạng ăn cắp, móc ngoặc diễn ra ngay cả trong những ngành như giáo dục, y tế.

(Theo Tiền Phong)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=1079

_______

GS Đặng Phong nói chuyện với các bạn trẻ

(Hà Nội – Tháng 11-2008)

Lê Ngọc Sơn ghi lại

Trong vai trò là một nhà nghiên cứu về lịch sử kinh tế, GS nhận thấy điểm nổi trội nhất của tư duy kinh tế Việt Nam là gì?

Hôm nay tôi nói chuyện với các bạn trẻ tức là tôi nói với tôi 50 năm về trước. Khi nói chuyện với các bạn trẻ thì tôi nhớ lại rằng khi tôi 20 tuổi, tôi nghĩ như thế nào, tình cờ theo cách gì, tôi đọc sách báo, nghe thầy/cô giảng thì tôi nghĩ gì? Hôm nay có một bước lùi 50 năm của đời tôi, nói chuyện với các bạn khiến tôi phải hình dung như tôi nói với chính tôi trước đây 50 năm. Nói như thế thì mình khởi đầu hơi xa một chút, bới nếu không thế các bạn trẻ sẽ không hiểu được khi đọc cuốn “Tư duy kinh tế” của tôi. Những người lớn hiểu, các bạn trẻ tôi chắc sẽ chưa hiểu được mục đích là tại sao thế hệ trước lại có nhiều cái huý kỵ như thế, lại sùng bái một số lý thuyết như kế hoạch hoá tập trung, công hữu xã hội chủ nghĩa, tại sao các cụ già mình lẩm cẩm thế, các bạn sẽ đặt câu hỏi là công xã mình tồi quá nhỉ? Tôi muốn nói để các bạn hiểu thế hệ đó không tồi và nếu không có người giải thích, các bạn trẻ sẽ hiểu mấy ông già này cuồng tín quá. Phải trở lại với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc; năm 1945, người Pháp đô hộ Việt Nam một cách tàn bạo vô nhân đạo khiến nền kinh tế của ta gần như không phát triển, chỉ có cướp bóc và cướp bóc. 80 năm để cho dân nước ta mù chữ, để dân phải đói khát, thiếu thốn, rách rưới, một năm giỏi lắm được 3 tháng ăn cơm còn lại ăn cháo, ăn sắn, ăn ngô… Cái nền thống trị của thực dân Pháp mà để cho nền kinh tế Việt Nam như thế à? Tuy nhiên, có như thế mới nảy sinh ra Nguyễn Ái Quốc, mới có những chàng thanh niên tuấn tú, kiên cường đi tìm con đường để giải phóng đất nước. Nếu nước Pháp đối xử với Việt Nam như bây giờ thì ai đi giải phóng đất nước làm gì. Và trong cái bế tắc ấy thì rất nhiều người đi tìm các con đường khác nhau. Phong trào Cần Vương là muốn khôi phục lại triều đại phong kiến, hay phong trào Duy Tân thì muốn học Tây, học Nhật cũng đều không thành công. Rồi đến Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học đi kiếm mấy khẩu súng sau đó định đi cướp đồn địch, vẫn không có kết quả.

Có một đội ngũ duy nhất, đông đảo tài giỏi nhất đi tìm đến với chủ nghĩa Mác-Liên Xô, đó là con đường giải phóng Việt Nam. Tôi muốn nói kỹ về việc đó để các bạn trẻ hiểu rằng, thế hệ đó không dại dột. Đó là lớp người thông minh và kiên cường nhất Việt Nam thời kỳ đó. Và sự lựa chọn hữu ý ấy có cái lý của nó. Liên Xô khi đó đánh bại phát xít Đức, trở thành một cường quốc, đó là một tấm gương. Lựa chọn Lênin, chủ nghĩa xã hội là lựa chọn của đại đa số người dân thông minh nhất Việt Nam khi đó. Tôi muốn các bạn trẻ hiểu được điều đó để kính trọng những người đi trước kể cả những sai lầm của họ. Phải hiểu những sai lầm ấy là sự trả giá cho những cái đúng. Cái cơ bản là chúng ta huy động được toàn dân để giải phóng đất nước này, dành độc lập cho nước Việt Nam. Việt Nam có thể tự hào với thế giới vì chiến thắng Điện Biên Phủ, với đại thắng mùa xuân…

Thứ hai, cũng liên quan tới các bạn, các bạn rồi cũng sẽ như tôi thì hãy cảnh giác. Có khi tuổi trẻ làm được những điều rất tốt nhưng đến một giai đoạn nào đó, tình thế đổi mới, mọi thứ khác đi mà mình vẫn dùng theo phương pháp cũ thì không được. Điều đó đã xảy ra với thế hệ của chúng tôi trước đây, tôi tin tưởng những lý thuyết đó là đúng và nó đúng, tuy nhiên trong lịch sử loài người không có bất cứ lý thuyết nào là đúng tuyệt đối với mọi thời đại cả, nó đúng ở lúc này ở chỗ này nhưng vào chỗ khác chưa chắc đúng.

Chiến thắng của chúng ta năm 1975 giúp một thế hệ rất đông trong đó có tôi nghĩ rằng mình có thể trở thành một cường quốc trên thế giới. Đi tiếp về con đường đó nhưng chúng tôi đã vấp, mô hình kinh tế đó vào thời bình không thích ứng và gây ra ách tắc như tôi đã nói. Cái ách tắc đó tôi không đổ lỗi cho riêng ai, đó là lỗi của thời đại. Có điều đáng tiếc là lúc đó chúng ta bị ám ảnh quá nhiều bởi những nguyên tắc cũ kỹ mà lẽ ra sẽ tỉnh ngộ sau 1-2 năm thì chúng ta mất 10 năm, điều đó làm chậm bước đi của chúng ta. Tôi nghĩ rằng cái đó là bài học cho thế hệ mai sau. Đến khi 30 tuổi thì chớ có nghĩ và làm như khi mình 20 tuổi mà phải làm khác đi, đừng có chủ quan và duy ý chí. Đó là một bài học giá trị.

Thứ ba, tôi muốn nói với các bạn rằng bắt đầu đổi mới kinh tế Việt Nam thì có một sự đổi mới về “nhân dụng”. Thế hệ trước chúng tôi, những người trẻ gần như không có bao nhiêu vị trí. Thế hệ mà khi những nhà lãnh đạo trong Bộ Chính trị đã 60-70 tuổi thì 40 tuổi vẫn cứ bị coi là trẻ con, trong khi ngoài 40 tuổi người ta có thể làm Tổng thống Mỹ được. Có một giai đoạn người trẻ không được trọng dụng. Tôi nhớ thời tôi có một câu hát rất thấm thía với thế hệ trẻ: Khi người ta cần già thì mình còn trẻ, khi mình còn trẻ thì người ta lại cần già. Khi người ta cần đàn bà thì mình lạ là đàn ông. Trải qua bao xuân hạ thu đông, đến khi cần trẻ thì ông đã già. Đó là cái chua chát của thế hệ chúng tôi.

Thế hệ các bạn trẻ từ sau đổi mới thì có thêm một sự đổi mới nữa về nhân lực. Có rất nhiều chuyên gia trẻ tuổi tạo dựng được một chỗ đứng do chính năng lực của họ. Trong Viện nghiên cứu của tôi ở trường ĐH có thể thấy rõ điều đó. Những em đã học ở nước ngoài về rất có bài bản, ngoại ngữ rất tốt, đọc sách rất nhiều, các cụ già trợn mắt: Ừ, thằng này giỏi, cãi nó không được. Đó là sức mạnh của các bạn, của trí tuệ và sự thật. Những thế hệ chúng tôi có học đến như thế cũng không được vì điều kiện của người ta phải là ở nhà tù Côn đảo, phải tham gia chiến tranh, phải có bao nhiêu huân huy chương cơ. Thế hệ bây giờ thì không, kiến thức là cái quyết định. Các bạn đang làm một cuộc cách mạng, từ ngày Đổi mới các bạn trẻ (mà bây giờ cũng sắp thành các cụ già rồi) đã đem lại những đóng góp rất quan trọng vào công cuộc chuyển đổi của đất nước. Bấy giờ giới trẻ có thể làm rất nhiều việc, tôi càng ngày càng thấy giới trẻ vượt qua mình. Tôi rất thích dùng người trẻ: Nói chuyện thì với cụ già, nhưng làm việc thì phải cùng người trẻ. Ở nhà này, trong đội ngũ của tôi, làm việc là tôi dùng người trẻ vì đem lại hiệu quả rất cao và điều quan trọng là họ không kênh kiệu về thành tích của mình. Cho nên tôi bảo, họ nghe tôi rất nghiêm chỉnh, và tôi có chỗ nào không đúng thì họ cũng sẵn sàng góp ý.

Thế hệ trẻ bây giờ có những vận hội rất lớn, các bạn không bị ngăn chặn bởi một cái hiện tượng mà tiếng Tây có nghĩa là “kính lão”. Vẫn kính lão vì các bạn đến nhà tôi, kính trọng tôi vì tôi lớn tuổi, đi xe bus ở nước ngoài thì người ta nhường ghế cho tôi. Kính theo mức ấy thôi chứ không phải là kính theo kiểu ông bảo gì tôi cũng phải nghe. Họ có suy nghĩ và quan điểm của mình, có cách giải quyết của mình. Tôi đánh giá như thê là một cách kính lão hiện đại.

Điều cuối cùng tôi muốn nói với các bạn là: Tuổi trẻ có cơ hội để thâu nạp cho mình rất nhiều kiến thức. Tự tìm cho mình một chỗ đứng không cần dựa giẫm vào ai, không cần xin xỏ, bon chen. Nếu thực sự có năng lực thì sẽ có chỗ đứng trong xã hội. Cái chỗ đứng là của cá nhân, điều quan trọng hơn là góp một phần nào đó cho sự phát triển của xã hội thì các bạn cũng hoàn toàn làm được. Điều tôi muốn khuyên các bạn là phải luôn biết cảnh giác với bản thân mình.

Nhiều khi nói chuyện với rất nhiều bạn trẻ tôi phải thành thật nói rằng thầy trò chúng tôi cãi nhau rất nhiều, tuổi trẻ nghĩ mọi việc đơn giản quá. Nhiều người muốn cải cách đất nước. Tôi hỏi: Em sẽ cải cách bằng cách nào thì họ im lặng. Con đường để đưa nước Việt Nam thành một quốc gia phát triển không đơn giản như các bạn nghĩ. Cải biến một xã hội không phải là quét một cái nhà, không phải là khiêng một cái bàn với mấy cái ghế, muốn chuyển biến điều đó cần có sự chuyển biến của hàng triệu triệu con gnười. Muốn là một chuyện, được hay không lại là chuyện khác. Muốn mà không được thì sinh ra tức tối, chán nản. Đó là điều mà tôi khuyên các bạn nên tránh. Phải kiên nhẫn và cố gắng để hiểu xã hội này. Phải nhìn xã hội như thực thể của 80 triệu con người chứ không phải đơn giản. Mình có ý kiến như thế này, người khác lại không nghĩ thế. Làm thế nào mà có thể bắt người ta theo mình được? Chính vì vậy, ngoài mở mang kiến thức các bạn còn phải suy nghĩ rất sâu sắc.

Qua quãng thời gian nghiên cứu về tư duy kinh tế Việt Nam, ông có thể vẽ lên vài nét về đặc điểm của nó?

Tư duy kinh tế ở Việt Nam thế hệ chúng tôi có thể gọi là tư duy sách vở thì đúng mà cũng không đúng, vì sách vở thời đó chẳng có bao nhiêu, toàn bộ tư duy kinh tế xoay quanh bộ Tư bản. Nếu sách vở chỉ có thế thì làm sao có kinh tế học được. Bây giờ mới thấy kinh tế học là hàng trăm bộ sách, và một bộ sách best-seller cũng chỉ tồn tại được khỏang 10 năm và sau đó lạc hậu và lại có những cuốn khác. Tư duy kinh tế (khi đó) mà cứ nằm trong bộ Tư bản luận của Mác thì không được.

Nghĩa là chẳng có mô hình nào là hoàn hảo cả, và bắt chước là một đại họa?

Tư duy kinh tế bây giờ là một thứ kinh tế pha tạp giữa nhiều lý thuyết khác nhau. Những năm 1992-1993 thì thấy tư duy kinh tế của Nhật Bản là quan trọng nhất. Bây giờ thì Nhật Bản hỏng rồi. Một thời thì học Thái Lan nhưng bây giờ ai sang sân bay Thái Lan để học đây? Một thời học Mỹ, mê thích Mỹ lắm nhưng khi Mỹ sa lầy ở Irắc thì ai dạy Mỹ đây? Mỹ khủng hoảng và câu hỏi đặt ra là phải làm kinh tế như thế nào vì Mỹ là đầu mối của cuộc khủng hoảng. Mỹ đã từng dạy cả thế giới, vậy thì giờ Mỹ lâm hoạ, ai sẽ dạy cho Mỹ đây? Chúng ta đi theo sau quá nhiều nước khác nhau và đến nay thì vẫn chưa thể hình thành cho mình một hệ thống tư duy kinh tế cho chính mình. Tuy nhiên điều đó không đáng trách vì hình thành cần có thời gian, 10 năm chưa đủ. Phải có các nhà kinh tế học. Câu hỏi đặt ra là những nhà kinh tế học là ai? Họ theo định nghĩa là những người có thể đưa ra tư duy kinh tế góp phần cho sự phát triển của đất nước mình. Có một học thuyết như thế không, chúng ta tìm đi. Câu trả lời là chưa có. Chúng ta đang tìm theo cách là cứ đi sẽ đến. Như mô hình kinh tế bao cấp thời trước, bây giờ tôi tổng kết lại thì nó là cái gì? Còn bây giờ chúng ta đang vừa làm, vừa thiết kế, vừa thi công. Trong thi công, điều chỉnh cái bản thiết kế. Đó là cách của người Việt Nam. Hay nếu nói có thể vẽ một đường nét nào đó chính xác nhất cho tư duy kinh tế của Việt Nam thì đó chính là một ngôi nhà vừa thiết kế vừa thi công.

Để hình thành lên một đội ngũ những nhà kinh tế học đúng nghĩa như mình mong muốn, thì lãnh đạo cần phải thay đổi cách nhìn nhận với khoa học, đặc biệt là khoa học kinh tế?

Thực tế trái với tư duy kinh tế đôi khi tạo nhận thức rất khác nhau. Thực tế được nhìn từ rất nhiều chiều. Tôi nhớ những năm kinh tế khủng hoảng 1978-1979, dân không có gạo phải đi ăn mày thì có người cho rằng là do địch phá hoại nên cần trấn áp, bắt bớ bọn phản động. Có người lại nhìn nó là giác ngộ của quần chúng lao động còn kém nên cần tăng cướng giáo dục. Có người cho rằng trình độ quản lý kém dù đã mời 5-7 chuyên gia Liên Xô về giảng dạy. Đó là những cách chẩn bệnh của những ông lang khác nhau. Cuối cùng thì cuộc sống nó phải tự mở đường đi. Đây là bệnh của cơ chế, không phải địch phá hoại, không phải giác ngộ của quần chúng. Để tìm ra căn bệnh này chúng ta mất 10 năm. Bây giờ cũng thế, lạm phát, khủng hoảng, tham nhũng là một thực tế. Nhưng giải thích có nhiều cách khác nhau: Tại trình độ giáo dục của cán bộ kém à? Thế thời kháng chiến đói quá phải tham nhũng à? Thời chúng tôi thiếu đói mà giữ cái kho không thất thoát một hạt thóc nào cả. Thế thì giải thích bằng sự thiếu đói thì có đủ và đúng không. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai, bây giờ không phải là nhận thức nữa mà là lợi ích. Rất nhều các nhóm lợi ích đã hình thành và chúng tác động đến mặt này mặt kia của các biện pháp. Ta cũng biết là một “đại gia” có thể ảnh hưởng tới quyết định của tỉnh và nhiều ông đã phải ra toà chính vì có nhiều nhóm lợi ích điều hành chính sách. Đến lúc đó thì không phải là đúng sai nữa mà là có lợi hay không có lợi.

Theo quan điểm của giáo sư, những khó khăn của nền kinh tế hiện nay có phản ánh điều gì về tư duy kinh tế người Việt không?

Việt Nam là đối tượng chịu ảnh hưởng của khủng hoảng chứ không phải đối tượng gây ra nên tư duy kinh tế Việt Nam không liên quan tới cái khủng hoảng đó. Tuy nhiên vấn nạn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là tham nhũng, là tăng trưởng có một tỉ lệ rất ảo…

Có vẻ như trong những năm gần đây thì tư duy kinh tế của Việt Nam có kiểu áp dụng hỗn tạp từ nhiều quốc gia khác. Nên chăng, mỗi quốc gia cần tạo cho mình một tư duy kinh tế mang bản sắc riêng?

Tôi nghĩ không nên dùng từ hỗn tạp, nó chỉ là sự pha tạp. Chúng có sự khác nhau vì hỗn tạp thì không có trật tự gì cả, bừa bãi trong khi sự pha tạp thì giống như ta làm cocktail. Chúng ta theo mô hình Nhật Bản, Thái Lan, cũng có ý kiến muốn theo mô hình Bắc Âu nhưng trong một khoảng thời gian ngắn không thể có ngay một chủ thuyết cho chính mình và đứng có yêu cầu Việt Nam phải có cái đó ngay lập tức. Tôi e rằng ai đó sẽ tham vọng quá khi nói rằng muốn đưa ra một chủ thuyết cho Việt Nam trong 1-2 năm tới. Để có được một chủ thuyết phát triển thì phải có sự phát triển đã. Trên cơ sở sự phát triển đó, mình rút kinh nghiệm từ thực tế để đưa ra lý thuyết phát triển. Hàn Quốc, Đài Loan hay Nhật Bản đều như thế. Một thuyết phát triển không phải là một cái bánh mỳ mà mình nặn rồi cho vào lò là được. Cái lò kinh tế đó cần thời gian hàng chục năm mới có thể đưa ra sản phẩm của trí tuệ. Hiện nay, chúng ta đang tìm và thế hệ các bạn phải đóng góp chất xám.

Cái Tết năm 2006 được coi là cái Tết vui nhất của người Việt vì kinh tế phát triển chưa từng có. Tuy nhiên, từ đó mà ta thấy rằng cách chèo lái nền kinh tế Việt Nam, giống như một người trẻ mới lớn có tính cách bộc phát: nhanh chóng tự hào, say sưa vì cái thành tích mà mình đạt được?

Xét về đổi mới kinh tế Việt Nam thì đúng là từ thời kỳ đó đến nay Việt Nam là một nước trẻ, với thế giới thì giống như một chàng trai trẻ mới chập chững ra thành phố mang theo cả những thành tích. Thành tích là thật nhưng lại dễ làm người ta có những niềm vui quá đáng làm người ta quên đi mình còn rất trẻ.

Tôi chưa thấy Thủ tướng nước nào sang Mỹ gặp Tổng thống bên họ mà phải cầm giấy đọc. Mà một tổng thống thì có gì là quá ghê gớm, ngồi với George Bush cũng giống như ngồi với sinh viên, thanh niên các bạn thôi, việc gì mà phải khúm núm, khép nép đến mức không thể nói được một câu. Ông không nhớ trong đầu ông cần nói gì à mà phải cầm giấy? Thế thì ông điều hành cái đất nước như thế nào, cũng cầm giấy à? Điều đó nghĩa là chúng ta có nhiều điều đáng tự hào nhưng cũng có không ít điều đáng hổ thẹn.

Theo ông người trẻ nên xây dựng cho mình cái lý tưởng như thế nào để có thể góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước trong tương lai?

Thế hệ các em so với chúng tôi hơn nhiều cái những cũng kém nhiều cái. Tôi cảm thấy các em không yêu nước như chúng tôi trước đây. Các em nghĩ đến nhà cửa, tài khoản (tiền), không nghĩ tới sự dấn thân cho điều gì đó dài hơi có thể gian khổ. Các em có phần nghĩ đến mình nhiều hơn trước kh nghĩ đến đất nước. Tôi miễn bình luận vì cái đó không phải lỗi của các em mà là tại lịch sử. Tiếp nữa là các em được mở cửa ra thế giới, tiếp cận với nhiều thứ và vớ được bất cứ cái gì cũng cho là của quý, của thiên hạ là nhất. Nhiều em đi học nước ngoài về, say sưa với những lý thuyết học được và nghĩ rằng có thể thay đổi đường lối của đất nước rối nhưng theo tôi thì còn lâu. Khi chụp giật được một vài cuốn sách, một vài bài báo thì nghĩ mình có thể làm thánh làm tướng đều được. Tuổi trẻ hay hấp tấp những đáng khen ở chỗ có lòng can đảm, dám nói ra chính kiến của mình. Thế hệ chúng tôi không có được điều đó.

Gần đây, Chính phủ đã bắt đầu cảnh báo vần đề môi trường mặc dù nó đã không còn mới trên thế giới nữa. Có người nói mình đang phát triển bằng mọi giá trong đó có hy sinh môi trường cùng các yếu tố khác. Vậy suy cho cùng, nét tư duy kinh tế của mình là như thế nào trong thời điểm hiện tại, thưa ông?

Cái đó không phải là tư duy của riêng Việt Nam, Thái Lan, Indonesia cũng như thế, đặc biệt là các nước đang phát triển cần đi nhanh để đuổi kịp người khác. Nhưng hậu quả của nó là ông càng chạy nhanh bao nhiêu ông càng đi chậm bấy nhêu. Đó là hạn chế trong tầm nhìn xa trông rộng của Việt Nam và nhiều quốc gia đang phát triển. Đừng có trách ai vì đó là quy luật chung của một nước đang phát triển.

Việt Nam và các nước đang phát triển thiếu đi một đội ngũ trí thức rất mạnh mẽ đủ sức ép đối với nhà nước. Ví dụ, Cuba là nước khó khăn về kinh tế nhưng lại có một đội ngũ trí thức tuyệt vời, luôn có nhiều ý kiến với nhà nước. Nhưng đội ngũ trí thức đó suy cho cùng thì vẫn phụ thuộc vào sự phát triển. Cho đến khi giải phóng, Cuba đã là một nước phát triển nhất châu Mỹ Latin, là tủ kính của nước Mỹ cho nên hệ thống đại học của nó rất tốt. Cuba xuất phát điểm từ sau cách mạng đã là rất cao rồi. Vấn đề môi trường suy cho cùng là vấn đề văn hoá và tri thức của một dân tộc. Ở những nước đang phát triển thì hai yếu tố này đều rất kém: Người ta có thể vứt rác, khạc nhổ, có thể xả chất thải ra sông suối rồi lại tắm rửa, bơi lội ở đó… Đó là vấn đề về văn hoá và môi trường.

Thế làm thế nào để phát triển bền vững?

Phải nghĩ tới văn hoá. Tôi không hiểu sao có cả một Bộ về Văn hoá mà không có các chương trình ở trường học, trên TV về giáo dục môi trường, về văn hoá. Có thể nói, văn hoá đại chúng của ta rất kém, chỉ mang nặng khẩu hiệu. Trung Quốc cũng có rất nhiều vấn đề về môi trường và văn hoá những họ mạnh tay hơn. Ví dụ như tôi đi Vạn lý trường thành, không có một người nào đeo bám du khách để bán cái này cái kia cả. Họ cũng cần tiền đấy chứ! Nhưng kỷ cương của Nhà nước của họ rất chặt. Ở Việt Nam không có bất cứ ai quản lý cái đó cả. Đó là lỗi của Nhà nước chứ không phải là nền văn hoá Việt Nam. Những chuyện đó tưởng nhỏ nhưng vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ để giải quyết cái đó không khó.

Văn hoá, tri thức, kỷ cương của Nhà nước, sự sắc nét trong bộ máy chính phủ là những yếu tố mà tôi nghĩ Việt Nam sẽ làm được nếu mạnh tay. Tôi nghĩ Việt Nam có một đội ngũ không tồi, vấn đề là sử dụng họ như thế nào. Văn hoá của người VIệt Nam không cao, không thấp. Còn nhớ năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chương trình “Đời sống mới” với nội dung như không được gọi vợ bằng mày, không tiểu tiện/đại tiện bậy bạ, mọi quầy bán háng phải có chỗ vứt rác,… Mọi người tuân thủ nghiểm chỉnh và sau vài tháng mang lại hiệu quả rất tích cực. Cho nên điều đó khó mà không khó nếu Nhà nước mạnh tay….

Xin cảm ơn GS!

Lê Ngọc Sơn gửi, lên trang viet-studies ngày 22-8-10
http://www.viet-studies.info/kinhte/DangPhong_NoiChuyen_LeNgocSon.htm

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: