Hoàngquang’s Blog

14/08/2010

Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ & Họ đã trở lại

13/08/10
Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ
Tác giả: B.Raman (Srilanka), Ngọc Thu dịch

+Họ đã trở lại-The Economist

+Lo lắng Trung Quốc, các nước Á Đông tăng cường quận sự
***
Năm nay đánh dấu kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hai nước đang tiến hành kỷ niệm Năm Hữu nghị Việt – Trung. Hồi tháng 11 năm ngoái, hai bên đã ký kết một số hiệp định về phân định ranh giới 1.300 km trên bộ và đồng ý bắt đầu các cuộc thảo luận, xây dựng các hướng dẫn để giải quyết các vấn đề chưa giải quyết, liên quan đến biển Đông.
Sau đó là các cuộc thảo luận thân mật trong cuộc họp của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung lần thứ tư, được tổ chức tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 7 năm 2010. Theo một bản tin trên Tân Hoa xã, trong cuộc họp, hai nước đã đồng ý “giải quyết một cách thích đáng các vấn đề lãnh hải ở biển Đông”. Theo hãng tin này, đây là một trong năm quyết định đạt được sự đồng thuận tại cuộc họp, do ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viên Trung Quốc đồng chủ trì, cùng với ông Phạm Gia Khiêm, phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
Theo Tân Hoa xã, ông Khiêm tái khẳng định rằng Việt Nam đã sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để xử lý đúng đắn các vấn đề biển Đông theo quan điểm tình hình chung về quan hệ song phương và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, cũng như sự cần thiết duy trì ổn định. Trong cuộc họp này, Trung Quốc và Việt Nam cũng đồng ý tiếp tục tăng cường trao đổi chính trị, tăng cường hợp tác kinh tế thương mại, tăng cường trao đổi văn hoá và tăng cường phối hợp các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực.
Ông Đới nói rằng, quan hệ song phương ở trong thời kỳ quyết định trong việc kế thừa quá khứ và hướng tới tương lai. Ông nói thêm: “Lịch sử 60 năm quan hệ song phương đã chứng minh rằng, việc phát triển tình hữu nghị Việt – Trung là vì lợi ích căn bản của hai nước và hai dân tộc. Nó cũng có lợi cho hòa bình và thịnh vượng trong khu vực”.
Ông Đới cũng nói thêm rằng, kể từ cuộc họp thứ ba của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác hồi năm ngoái, việc hợp tác trên thực tế giữa hai nước đã đạt được tiến bộ mới. Ông đã đề cập trong mối quan hệ này, trao đổi chính trị phát triển, hợp tác sản xuất mang lại lợi ích lẫn nhau, trao đổi văn hóa có hiệu quả, tiến triển trong việc giải quyết các vấn đề ranh giới, và phối hợp chặt chẽ hơn và hỗ trợ lẫn nhau về các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực. Ông nhấn mạnh rằng, vì lợi ích của sự phát triển trong tương lai của quan hệ song phương, hai bên nên luôn luôn ghi nhớ tình hình chung và có một cái nhìn dài hạn trong khi duy trì tình hữu nghị láng giềng tốt. Ông kêu gọi hai bên học hỏi lẫn nhau để đạt được sự phát triển chung, và để gia tăng sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau và để đối phó các vấn đề một cách thích hợp, thông qua đàm phán một cách thân thiện. Ông nói them rằng: “Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Việt Nam để chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước từ vị trí chiến lược và sử dụng Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung như là một nền tảng để thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện song phương”.
Ông Khiêm nói đó là lập trường không thay đổi của Đảng và Chính phủ Việt Nam, nhằm tiếp tục nâng cao quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, đó cũng là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Ông nói thêm: “Việt Nam luôn ghi nhớ sự hỗ trợ của Trung Quốc cũng như sự giúp đỡ cho cuộc cách mạng và xây dựng và cam kết phát triển tình hữu nghị lâu dài với Trung Quốc. Việt Nam sẵn sàng làm việc với Trung Quốc nâng cao sự hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau”.
Như vậy, cho đến tuần đầu tiên của tháng 7 năm 2010, quan hệ giữa hai nước vẫn thân mật, mặc dù luôn luôn có sự khác biệt về việc đòi chủ quyền của họ trên biển Đông và đã có những dấu hiệu cho thấy họ đã đồng ý để thảo luận về sự khác biệt trong một nỗ lực để đạt được một thỏa thuận đôi bên cùng đồng ý, tương tự như các thỏa thuận của họ hồi năm ngoái về phân định biên giới trên bộ.

Ngoại trưởng Clinton tại cuộc họp với khối ASEAN tại Hà Nội 7/2010


Mọi chuyện bắt đầu đi lệch giữa hai nước sau khi bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, mạnh mẽ nói đến vấn đề biển Đông tại cuộc họp của các Bộ trưởng Ngoại giao ở Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Hà Nội vào tuần thứ ba của tháng 7 năm 2010, và dự kiến Hoa Kỳ như là một bên liên quan trong việc bảo đảm quyền tự do đi lại. Trong khi Hoa Kỳ không đòi chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông, họ có lợi ích quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do đi lại của tàu bè và máy bay. Một kết luận rõ ràng từ sự can thiệp của bà [Clinton] đó là, Hoa Kỳ đã quyết định thách thức việc đòi chủ quyền của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền trên toàn bộ biển Đông.
Trung Quốc đã đòi chủ quyền như thế này trong vài năm và họ đã lặp lại sau cuộc họp ARF. Tân Hoa xã đăng tin như sau vào ngày 30 tháng 7 năm 2010: “Một quan chức Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm thứ Sáu (ngày 30 tháng 7) cho biết, Trung Quốc có ‘chủ quyền không thể tranh cãi’ trên các đảo ở biển Đông và vùng biển xung quanh. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng, ông Cảnh Nhạn Sinh nói trong một cuộc họp báo rằng, Trung Quốc sẽ thúc đẩy việc giải quyết những khác biệt về biển Đông với ‘các nước có liên quan’ thông qua đối thoại và đàm phán, và phản đối việc quốc tế hóa vấn đề. Trung Quốc sẽ tôn trọng các quyền tự do của tàu bè và máy bay của ‘các quốc gia có liên quan’ đi qua biển Đông theo quy định của luật pháp quốc tế, ông Cảnh nói”.
9 . Đó là ý kiến về biển Đông như là vùng biển quốc gia mà Trung Quốc thực hiện chủ quyền lịch sử mà bà Clinton tìm cách thách thức một cách mạnh mẽ, Hoa Kỳ đã và đang thách thức việc đòi chủ quyền của Trung Quốc ngay cả trước đó, nhưng một cách kín đáo để không ảnh hưởng đến quan hệ song phương Mỹ – Trung. Hội nghị ARF tại Hà Nội đã đánh dấu một bước ngoặt trong các tuyên bố của Mỹ về chủ đề này. Bà Clinton đã đưa ra lập trường của Hoa Kỳ một cách công khai và mạnh mẽ về các vấn đề nêu ra bởi lập trường của Trung Quốc đối với biển Đông mà không còn lo ngại tác động của nó lên quan hệ Trung – Mỹ. Đó là, như thể Hoa Kỳ đã quyết định rằng thời cơ đã đến để nói thẳng lập trường của Hoa Kỳ trước công chúng thay vì thể hiện mối nghi ngại với Bắc Kinh một cách kín đáo như họ đã làm trong quá khứ.
10. Điều gì đã gây ra sự thay đổi quan trọng trong lập trường của Hoa Kỳ? Phải chăng chính phủ của Tổng thống Barack Obama đã không hài lòng về những gì họ cảm nhận khi quan điểm không hợp tác của Trung Quốc tại hội nghị khí hậu ở Copenhagen hồi cuối năm ngoái? Hay sự quan ngại của Washington qua việc Trung Quốc miễn cưỡng lên án Bắc Hàn trong việc tấn công tàu Nam Hàn hồi tháng 3 vừa qua? Hoặc là sự giận dữ của Washington vì bị làm nhục khi Bắc Kinh từ chối chuyến viếng thăm đã thoả thuận của ông Robet Gates, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến Bắc Kinh, để phản đối việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan? Hoặc là có bất kỳ thể hiện sự quan ngại kín đáo nào của một số thành viên ASEAN gửi tới Hoa Kỳ qua việc quyết đoán ngày càng gia tăng của Hải quân Trung Quốc ở biển Đông và qua những gì mà họ xem hai chuẩn mực khác nhau của Trung Quốc trong về vấn đề này.
Trung Quốc tìm cách ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của các nước như Việt Nam để khai thác trong khu vực và vùng biển mà họ đòi chủ quyền về dầu hỏa và khí đốt, rằng tất cả các vấn đề liên quan đến quyền thăm dò, quyền đánh cá v.v… nên để dành để giải quyết trong tương lai, trong khi chính Bắc Kinh đã không tuân theo thỏa thuận này về cả chữ lẫn ý. Thật khó có thể nói chính xác những gì gây ra sự can thiệp của Hoa Kỳ một cách mạnh mẽ, ủng hộ các nước ASEAN tại Hà Nội. Có thể đây là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố nói trên.
Theo báo Washington Post ngày 31 tháng 7 năm 2010, ông Đới Bỉnh Quốc đã nói với bà Hillary Clinton hồi tháng 5 năm 2010, trong một trao đổi căng thẳng trên khu vực mà Trung Quốc đã xem tuyên bố của mình trên biển Đông là sự “quan tâm cốt lõi của quốc gia”. Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington cũng yêu cầu Bộ Ngoại Giao không đưa vấn đề ra trước cuộc họp tại Hà Nội và dường như [Trung Quốc] nghĩ rằng Washington sẽ làm theo các mong muốn của Trung Quốc. Trung Quốc đã bất ngờ khi bà [Clinton] nêu ra vấn đề, mặc dù theo yêu cầu của Trung Quốc không nên làm như vậy tại cuộc họp ARF hôm 23 tháng 7 năm 2010.
Báo Wasington Post cho biết: “Hoa Kỳ tiếp tục vấn đề này dường như làm ngạc nhiên các lãnh đạo Trung Quốc, mặc dù các quan chức Mỹ đã nói với Trung Quốc về vấn đề này hàng tháng. Các viên chức Hoa Kỳ và châu Á cho biết rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ là những nước dẫn đầu đưa ra phần nào các mối lo ngại rằng, lực lượng hải quân Trung Quốc ngày càng hiếu chiến trên biển, giữ tàu đánh cá và bắt các thủy thủ của các nước khác. Một số vụ nổ súng cũng đã xảy ra trong những tháng gần đây, các viên chức châu Á nói”.
Mức độ phiền toái của Hà Nội đối với Bắc Kinh là hiển nhiên, thực tế là họ đã áp dụng các biện pháp chắc chắn làm Bắc Kinh bực mình khi tăng cường quan hệ với Mỹ. Có hai sự tiến triển có ý nghĩa đáng kể trong mối quan hệ này. Thứ nhất là báo cáo rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đang đàm phán thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự, tương tự như thỏa thuận đã được ký kết giữa Hoa Kỳ với Ấn Độ hồi tháng 7 năm 2005. Kế đến là chuyến viếng thăm, rõ ràng là với sự tán thành của Hà Nội, tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu USS Washington (*) đến vùng biển Việt Nam hôm 8 tháng 8 để đánh dấu kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Trước đó, tàu này đã tham gia diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn Quốc ở biển Nhật Bản. Nó đã đến Hoàng Hải trong thời gian diễn tập, nhưng Hoa Kỳ đã quyết định thực hiện cuộc tập trận ở ngoài Hoàng Hải để đáp ứng các phản đối của Trung Quốc. Cùng lúc, Hoa Kỳ đã nói rõ ràng rằng, họ dành quyền được gửi tàu này đến Hoàng Hải, có thể trong tháng 9, như một phần trong cuộc diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn. Đối với Việt Nam đã nhận con tàu này, đó là quan tâm đến Trung Quốc vẫn chưa có tàu sân bay riêng, là một bước đi táo bạo để nhấn mạnh sự phiền toái của họ với Bắc Kinh bằng cách tìm kiếm sự áp đặt nguyện vọng của mình trên các nước ASEAN có các tuyên bố hợp pháp ở vùng biển Đông. Một số nhà phân tích Trung Quốc đã mô tả những dấu hiệu này của Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần với nhau hơn, như là gây bất ổn. Điều này đã không ngăn cản Việt Nam thực hiện các cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.
Bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, hôm 5 tháng 8 năm 2010, rằng các tàu Trung Quốc đã tiến hành thăm dò địa chấn từ cuối tháng 5, gần quần đảo Hoàng Sa. Bà cáo buộc Trung Quốc “vi phạm chủ quyền của Việt Nam và quyền chủ quyền trên biển Đông”. Trong lời đáp lại rõ ràng, bà Khương Du, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói trong một thông cáo báo chí đăng trên website của Bộ ngày 6 tháng 8 rằng, Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ lời bình luận và hành động nào vi phạm chủ quyền trên quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và vùng biển lân cận ở biển Đông. Bà nói thêm rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận”.
Ông Su Hao, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quản lý Xung đột và Chiến lược, thuộc Đại học Ngoại giao Trung Quốc, đã nói với “China Daily” rằng, luật pháp quốc tế và lịch sử đã cho Trung Quốc chủ quyền đối với khu vực. “Trung Quốc là nước đầu tiên đã phát hiện và đặt tên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và cũng là nước đầu tiên đã chính thức đặt các đảo ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) dưới một chính quyền. Thật ra, các tàu Trung Quốc đã và đang làm nghiên cứu ở khu vực Tây Sa (Hoàng Sa) trong một thời gian dài. Không phải là lần đầu tiên. Bây giờ Việt Nam đang thách thức hiện trạng, nhưng hoàn toàn không chứng cứ lịch sử và pháp lý hỗ trợ và các nhận xét của họ trùng hợp với quan điểm của Hoa Kỳ. Việt Nam đã cố ý đưa vấn đề biển Nam Trung Hoa, nhằm quốc tế hóa vấn đề, để nó có thể hành động như một đối trọng mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc, đã được Hoa Kỳ ủng hộ”.
Ông Xu Liping thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã tuyên bố rằng, Việt Nam chưa hề đặt ra bất kỳ câu hỏi nào về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao. Ông nói thêm: “Mỹ cần Việt Nam như một trong những công cụ của họ để đối trọng với sự phát triển của Trung Quốc, nhưng theo ý tôi, hai nước sẽ không xích lại quá gần nhau, mà họ chỉ lợi dụng lẫn nhau trong lúc này mà thôi”.
Phản ứng của Trung Quốc về những tiến triển trong quan hệ Việt – Mỹ cần theo được dõi chặt chẽ. Liệu cuối cùng họ sẽ tránh bất kỳ hành động nào chống lại Việt Nam và giảm sự quyết đoán của họ ở biển Đông? Hoặc họ sẽ gia tăng sự quyết đoán hơn nữa để dạy cho Việt Nam một bài học ngay cả khi có nguy cơ về một cuộc xung đột hải quân có thể có trong vùng biển giữa hai nước?
Tin tức về sự quyết đoán của Trung Quốc chống lại Việt Nam ở biển Đông trùng khớp với các tin tức về việc Trung Quốc tăng cường hơn nữa các nối kết cơ sở hạ tầng của họ với Tây Tạng để tăng cường khả năng vận chuyển nhanh Lực lượng Quân đội và Không quân. Một số dự án như xây dựng sân bay mới ở Tây Tạng và gia tăng khả năng vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường sắt tới Tây Tạng đã được xúc tiến và tìm cách được thực hiện trước thời hạn. Tại sao lại vội vàng như thế này? Các hoạt động ngày càng tăng của các nhà xây dựng cơ sở hạ tầng ở Tây Tạng cho thấy chính nó có sự chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự với Ấn Độ nếu họ quyết định đã đến lúc buộc Ấn Độ ngưng các dự án cơ sở hạ tầng tại Arunachal Pradesh, nơi Trung Quốc tuyên bố là miền Nam Tây Tạng.
Những sự phát triển liên quan đến quân sự của Trung Quốc có có liên quan đến mối quan hệ với Việt Nam và Ấn Độ cần được quan sát kỹ hơn.
Tác giả là Bộ trưởng đã về hưu, thuộc Ban Thư ký Nội các của chính phủ Ấn Độ, New Delhi, và hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu các đề tài thời sự, Chennai, ông cũng hợp tác với Trung tâm Chennai về Nghiên cứu Trung Quốc.
———
(*) Tàu USS John McCain đến thăm Việt Nam hôm 10 tháng 8, không phải tàu USS George Washington.
© Đàn Chim Việt
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.danchimviet.com/archives/16188

_______

Đăng bởi anhbasam on 13/08/2010

The Economist
Họ đã trở lại

Trung Quốc cần phải bớt lo lắng hơn về chiến lược “ngăn chặn” của Mỹ và nghĩ nhiều hơn nữa về lý do tại sao những người hàng xóm của mình lại chào đón người Mỹ
Banyan
Ngày 12-8-2010

Những cử chỉ mang tính tượng trưng xảy ra dưới mọi hình dạng và kích cỡ, song ít gây ấn tượng mạnh mẽ như chiếc USS George Washington, một con tàu dài hơn cả ba sân bóng đá, và có khả năng mang 85 máy bay và hơn 6.200 người. Nhưng ngay cả biểu tượng của sức nặng to lớn như vậy cũng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Chiếc hàng không mẫu hạm George Washington vừa có mặt tại biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa], ngoài khơi bờ biển Đà Nẵng, từng là tổ ấm của một trong các căn cứ quân đội Mỹ lớn nhất tại Việt Nam. Mười lăm năm sau khi mở đầu quan hệ ngoại giao, và 35 năm từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, chuyến thăm của tàu sân bay này, và các bài tập hải quân chung sau đó, là những bằng chứng nổi bật của tinh thần hoà giải. Nhưng các nhà quan sát ở Trung Quốc nhìn thấy một phần nào cử chỉ khác: không quá nhiều hơn một cái bắt tay với một cựu thù; quan trọng hơn là một nắm đấm vung lên hướng tới một một quốc gia hùng mạnh, đất nước của riêng họ.
Các nhà bình luận hay chửi rủa của Trung Quốc đã phát hiện ra một ông ba bị cũ: một nỗ lực của Mỹ nhằm “ngăn chặn” Trung Quốc bằng cách củng cố liên minh với các nước láng giềng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tỏ ra thận trọng hơn (hoặc có lẽ chỉ do chậm hơn mà chệch hướng). Tuy nhiên, tờ South China Morning Post loan báo rằng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đủ để có thái độ hết sức giận dữ về việc này, và những biểu hiện coi thường khác, để dự tính trì hoãn một chuyến thăm Mỹ. Vừa lúc băng giá được hình thành sau khi vụ xích mích về biến đổi khí hậu liên quan quan hệ Trung-Mỹ tại Copenhagen tháng mười hai năm ngoái dường như đã tan chảy, thì một không khí lạnh giá mới đã lại bắt đầu. Các chính trị gia “dẻo mỏ” người Mỹ, Global Times, một tờ báo Trung Quốc bằng tiếng Anh than, “họ đâm bạn ở phía sau lưng trong lúc bạn đang không chú ý.”
Các nhà phân tích Trung Quốc có thể chỉ ra một cuộc bài binh bố trận đầy ấn tượng từ “những màn khiêu khích” của người Mỹ để biện minh cho những cơn giận dữ của họ. Họ trích dẫn các bài báo nói rằng nước Mỹ đang đàm phán về hoạt động hợp tác hạt nhân với Việt Nam, và rằng, trong một sự đảo ngược rõ ràng cho những nỗ lực hạn chế các vũ khí giết người hàng loạt của mình, chính quyền Obama đang không khăng khăng đòi Việt Nam phải hứa không làm giàu uranium của mình. Trong khi với thỏa thuận hạt nhân năm 2008 của Mỹ với Ấn Độ, Trung Quốc đã đánh hơi thấy những nguyên tắc khắt khe khác thường.
Trung Quốc cũng đã phải đối mặt với một trải nghiệm đáng lo ngại trong tháng Bảy này, tại Diễn đàn Khu vực ASEAN hàng năm được tổ chức bởi Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Diễn đàn an ninh buồn ngủ thường niên này, được tổ chức năm nay tại Hà Nội, đã được thấy bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Mỹ, tuyên bố rằng Biển Đông là một “lợi ích quốc gia”. Khi mà 12 trong 27 quốc gia tại đó đã nói thẳng về một cách tiếp cận mới để giải quyết tranh chấp trên biển của họ, thì Trung Quốc đã ngửi thấy thái độ từ chối phối hợp, đặc biệt là âm mưu, khi Việt Nam nhanh chóng tăng cường những kháng nghị của mình về các hoạt động của Trung Quốc tại vùng biển tranh chấp.
Trước cuộc dạo chơi của mình đến Việt Nam, tàu sân bay George Washington đã tham gia tập trận chung với các lực lượng Nam Triều Tiên. Tôn trọng những vấn đề nhạy cảm của Trung Quốc, nó đã không diễn tập trong vùng biển Hoàng Hải, mà chỉ đậu ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc. Nhưng một phát ngôn viên Lầu Năm Góc đã cho biết hàng không mẫu hạm này sẽ thực hiện công việc đó “trong tương lai gần”. Điều này xuất phát từ mối quan hệ của Mỹ với Hàn Quốc đã được củng cố và những xung đột với Trung Quốc-qua vụ đánh chìm chiếc tàu hải quân Cheonan vào tháng Ba. Hàn Quốc và Mỹ, được ủng hộ bởi một cuộc điều tra quốc tế, đã đổ lỗi cho vụ chìm tàu là do một quả ngư lôi của Bắc Triều Tiên. Miền Bắc phủ nhận trách nhiệm của mình và Trung Quốc đã khước từ mó vào đồng minh nguy hiểm của họ.
Trong khi hải quân Mỹ rong chơi quanh các quốc gia láng giềng của Trung Quốc, thì các quan chức cấp cao đã tỏa đi khắp châu Á. Tại Indonesia, bộ trưởng quốc phòng Robert Gates đã làm các nhà hoạt động nhân quyền khó chịu và làm vừa lòng chính phủ bằng việc khôi phục các mối liên kết với các Kopassus, lực lượng đặc biệt của quân đội. Ông William Burns, thứ trưởng ngoại giao phụ trách các vấn đề chính trị, đã đến bốn quốc gia Đông Nam Á.
Tất cả là những gì mà Douglas Paal thuộc Carnegie Endowment, một nhóm chuyên gia cố vấn tại Washington, đã gọi là “sự bùng nổ toàn diện nhất các hoạt động ngoại giao và quân sự tại châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, trong nhiều thập kỷ” từ một chính quyền Mỹ. Không phải là đáng ngạc nhiên khi nhiều người ở Trung Quốc coi hiện tượng này như là bộ phận của học thuyết ngăn chặn mới. Nhiều người ở Mỹ cũng nghĩ vậy. Bằng sự phân tích này, ông Barack Obama khi nhận chức đã cam kết tiến tới những mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, và sẵn sàng chào đón quốc gia này như một cường quốc để đổi lấy sự chấp nhận có những trách nhiệm toàn cầu của Trung Quốc đi theo vị thế đó. Thế rồi một loạt các thất bại đã thuyết phục ông dũng cảm chống lại Trung Quốc với một chiến lược cứng rắn hơn. “Những cái mỏ dẻo” cũng chỉ phun ra những lời lẽ mê hoặc như nhau; song chiến lược ngăn chặn giờ đây là ván bài.
Tuy nhiên, điều đó ngược lại với cách mà chính phủ trình bày nó. Họ lập luận rằng nó chỉ đơn thuần là một khẳng định lại một “lợi ích quốc gia” và vai trò truyền thống ở Đông Á, một khu vực bị bỏ rơi bởi một nước Mỹ bị phân tâm vì chủ nghĩa khủng bố và cuộc chiến tranh tại Iraq và Afghanistan. Vắng mặt nhưng không bỏ quên, Mỹ đã giúp nuôi dưỡng một nhận thức quá mức trong khu vực về sự suy tàn của nước Mỹ và đi lên của Trung Quốc. Giờ là lúc đặt vấn đề đó vào đúng vị trí. Trong cách diễn đạt của ông Paal, chính sách ngoại giao châu Á của Mỹ gần đây là “không tập trung vào Trung Quốc, nhưng có những tác động đối với Trung Quốc”.
Một cái thùng hàng có nhiều mặt
Điều đó có thể là sắc thái quá khác biệt đối với những cây viết hàng đầu của tờ Global Times. Nhưng những hàm ý đó quả thực đáng cân nhắc. Trung Quốc dường như đã hiểu thấu ai đó ngay từ đầu: rằng điệu bộ vênh váo, trang trí cho dáng vẻ kiêu ngạo, với việc các quan chức Trung Quốc đã vung vãi ảnh hưởng của họ xung quanh khu vực và ở phương Tây trong độ sâu của cuộc khủng hoảng tài chính tạo nên không khí hoảng hốt không cần thiết. Những ngày này, cử chỉ lịch sự là trở lại trong sự hoan nghênh tán thưởng.
Hàm ý khác là thay vì chỉ đơn giản xỉ vả chống lại Mỹ, Trung Quốc có thể làm nhiều hơn để ngăn chặn các nước láng giềng trong việc cung cấp đất đai màu mỡ cho “những hạt giống của ngờ vực” mà nó gieo trồng. Điều đó đòi hỏi sự rõ ràng hơn những mục tiêu chiến lược thực sự của Trung Quốc, và một thái độ sẵn sàng thảo luận trong diễn đàn đa phương. Ví dụ trên Biển Đông, rất khó để biết chính xác yêu sách của nước này được dựa trên cái gì. Tuy nhiên, tàu thuyền của Trung Quốc coi biển cả như một hồ nước của mình; các bản đồ của họ cho thấy một cái lưỡi to lớn chủ quyền của Trung Quốc thè ra một cách xấc láo tới các quốc gia duyên hải Đông Nam Á. Không có gì ngạc nhiên khi các nước này chào đón những chiếc hàng không mẫu hạm của Mỹ. Dĩ nhiên vấn đề là nếu Trung Quốc rõ ràng hơn về những mục tiêu của mình, thì các nước đó có thể chào đón họ thậm chí nồng nhiệt hơn.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://anhbasam.com/
_______
10/08/10 | Tác giả: Đàn Chim Việt
Lo lắng Trung Quốc, các nước Á Đông tăng cường quận sự

WASHINGTON POST (9/8/2010): Các quốc gia Nam Á đang tăng cường sức mạnh quân sự, thông qua việc mua sắm tầu ngầm và máy bay chiến đấu với nhịp độ kỷ lục, đồng thời có sự sáp lại chiến lược với Mỹ như một lá chắn chống lại sự trỗi dậy và những yêu sách trên toàn biển Nam Trung Hoa của Trung quốc.
Việc mua sắm vũ khí trong khu vực đã tăng gần gấp đôi từ năm 2005 tới năm 2009 so với 5 năm trước đó, theo những dữ liệu do viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ấn hành năm nay.
“Tồn tại một nỗi lo sợ tại một số nước Nam Á” giám đốc nghiên cứu của học viện, ông Siemon Wezeman nói, “Trung quốc là vấn đề ở khu vực này”.
Chuyện mua sắm sẽ còn được tiếp tục, với những báo cáo rằng Việt nam đã thỏa thuận chuyển 2,4 tỷ đô la để mua của Nga 6 tầu ngầm loại Kilo và khoảng 12 máy bay chiến đấu SU-30MKK để trang bị cho hải quân. Thêm vào sự kiện này là việc Úc cũng cam kết mua hoặc sản xuất thêm 9 tàu ngầm và tăng cường cho không quân với 100 máy bay F-35s do Mỹ sản xuất. Malaisie cũng đã bỏ ra 1 tỷ đô la để mua 2 tàu ngầm diesel của Pháp, và Indonesie cũng mới vừa tuyên bố sẽ mua những tàu ngầm mới.
Những lo ngại của các nước Nam Á do sự nổi lên của trung quốc đã bộc lộ tại diễn đàn an ninh khu vực, bao gồm các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia châu Á, Hoa Kỳ, Trung quốc và các quốc gia mạnh khác của châu Á. Trong hội nghị, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hyllary Rodham Clinton lần đầu tiên đã tuyên bố hoàn toàn bác bỏ những yêu sách chủ quyền của Trung quốc đối với toàn bộ 1.3 triệu dặm vuông mặt biển. Mười một quốc gia khác, đứng đầu là Việt nam, với sự ủng hộ của Mỹ, đã dồn bộ trưởng ngọai giao Trung quốc vào thế hoàn toàn bị động, các nhà ngoại giao có mặt đã khẳng định như vậy.
Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á đã đẩy Trung quốc vào thế chịu trận, vì, các viên chức Mỹ và Nam Á nói, Trung quốc đã trở nên ngày càng hiếu chiến.
Trung quốc đã cải tạo nhiều tầu chiến thành các tàu hành chính hàng hải và đem đến sử dụng trên vùng biển. Ngày 23 tháng sáu, một tàu đánh cá của Indonesie bị đuổi khỏi vùng biển mà họ tuyên bố có chủ quyền, bởi một tàu quản lý nghề cá của Trung quốc- một chiế tàu chiến cũ có trang bị súng máy hạng nặng. Trong năm ngoái, hạm tàu của Trung quốc đã bắt ít nhất 22 tàu đánh cá việt nam, theo truyền thông Việt nam. Trung quốc cũng đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt hải sản trên vùng biển đang còn tranh chấp.
Thứ năm vừa rồi, Việt Nam tố cáo Trung quốc vi phạm chủ quyền của việt nam khi tiến hành khảo sát địa chấn trên quần đảo Hoàng sa. Người phát ngôn của bộ ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Phương Nga đã tuyên bố, tàu Trung quốc đã tiến hành những hoạt động khảo sát địa chấn từ cuối tháng 5, gần khu vực quần đảo Hoàng sa, thuộc chủ quyền của Việt nam, đồng thời trên những lô dầu và khí đốt trên thềm lục địa.
“Việt Nam yêu cầu Trung quốc chấm dứt ngay và không lặp lại những vi phạm về chủ quyền của Việt Nam”, bà nói.
Trong nhiều năm, các chuyên gia từng dự báo rằng “quyền lực mềm” cùng với sự tăng trưởng kinh tế của Trung quốc sẽ cho phép Trung quốc thống trị khu vực. Nhưng, do chính sách ngoại giao của Trung quốc ngày càng trở nên thô bạo, khu vực này quá lo ngại điều sẽ xảy ra, đáng lẽ sẽ sử dụng sự trỗi dậy của Trung quốc như đối trọng chiến lược với ưu thế của Hoa Kỳ , thì, năm nay.. .báo cáo của Viện Chính trị đối ngoại Úc kết luận , “đa số các nước châu Á hình như lại lặng lẽ đến gần Mỹ để cân bằng quyền lực chống lại tiềm năng tương lai của Trung quốc”.
Trong năm 2009, khi được hỏi chọ nuớc nào là nguồn ổn định và hòa bình lớn nhất cho khu vực, trong vòng 10 năm tới, các “tinh hoa chiến lược” trong vùng, đa số đều chọn Hoa Kỳ, theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Washinton. Kết quả điều tra đưa ra rằng: Quốc gia đặt ra những đe dọa lớn nhất cho khu vực là Trung quốc chứ không phải Bắc Triều tiên, như người ta tưởng.
Các chuyên gia đếu nhất trí rằng, chương trình mua sắm vũ khí của Việt Nam là quan trọng nhất, bởi vì nó đặc biệt nhằm ngăn chặn Trung quốc. Thực chất, việc tăng cường sức mạnh phòng thủ bờ biển tương đối mạnh để Trung quốc buộc phải cân nhắc mỗi khi đưa ra những yêu sách.
“Việt Nam đầu tư nhiều tiền và tập trung trên biển với tàu ngầm và tàu chiến thậm chí cả tên lửa”, Carl Thayer, giáo sư của Viện Hàn lâm Lực lượng Quốc phòng Úc tuyên bố.
Việt Nam cũng bắt tay với một số đối tác. Họ có mối quan hệ tốt với Ấn độ, một trong những đối thủ chính của Trung quốc trong khu vực. Lực lượng của Ấn độ cũng được trang bị bằng tàu ngầm loại Kilo của Nga, được xem như nơi huấn luyện cho thủy thủ việt nam. Nhưng Việt Nam càng ngày càng đến gần với Mỹ.
Lãnh đạo quân sự và chính phủ hai nước thường xuyên gặp gỡ. Người ta nói tới mối quan hệ chiến lược. Những cuộc họp cao cấp chính thức hóa quan hệ quân sự đang được chờ đợi trong năm nay. Thương mại giữa hai nước cũng tăng trưởng tốt đẹp, tăng từ 2,9 tỷ đô la năm 2002 lên 15,4 tỷ đô la trong năm 2009.
Sau khi tham gia diễn tập quân sự với Nam Hàn cuối tháng bảy, tàu không hạm USS George Washington đã có mặt trên biển Việt Nam vào cuối tuần qua và đón chào các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam đến thăm. Trung quốc đã phản đối Mỹ tập trận chung với Nam Hàn. Trong khi đó, Việt nam đã chào đón hải quân Mỹ.
Mỹ cũng đồng thời đang chuẩn bị sẵn sàng để củng cố nền công nghiệp năng lượng hạt nhân của Việt Nam. Theo chứng thực trước Quốc hội tháng Năm của Vann H. Diepen, phó bộ trưởng An inh quốc tế và không phổ biến hạt nhân, hai nước đã ký bản Ghi nhớ về triển vọng hợp tác hạt nhân dân dụng vào tháng Ba. Hai nước cũng thu xếp cho phép Việt Nam tự làm giàu Uranium đế sản xuất năng lượng. Trong tháng 11, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn việc xây dụng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Và dự kiến sẽ xây dựng từ 8 đến 10 nhà máy nữa.
Bùi Quang Vơm dịch
© Đàn Chim Việt
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.danchimviet.com/archives/15912

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: