Hoàngquang’s Blog

09/08/2010

Phát biểu cảm tính của một nhà khoa học

Đăng bởi anhbasam on 06/08/2010
Dân luận
Phát biểu cảm tính của một nhà khoa học
Đoan Trang viết riêng cho Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông trên Facebook
Theo Facebook

&Sử liệu mới về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Tác giả: André Menras (Hồ Cương Quyết)
***
Từ ngày 29 tới ngày 31/7, một hội thảo khoa học với chủ đề “Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn đề an ninh con người” đã diễn ra tại Đại học Temple, Philadelphia (Mỹ), với sự tham dự của gần 50 học giả Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, chủ yếu là nước ngoài. Đây là hội thảo hè lần thứ 13 của một nhóm các nhà nghiên cứu người Việt, trong đó có những trí thức nổi tiếng như GS Trần Hữu Dũng, GS Hà Dương Tường, TS Vũ Quang Việt, v.v. Phía Việt Nam tham dự lần này có ông Đinh Kim Phúc, giảng viên sử, Đại Học Mở TP HCM.
Ngày 28/7, một ngày trước khi diễn ra Hội thảo, Trưởng ban Tổ chức, TS Vũ Quang Việt đã có bài trả lời phỏng vấn của BBC. Nói về tình hình Biển Đông, ông Việt cho rằng: “Phải làm sao để dư luận thế giới hiểu rõ vấn đề vì chỉ khi đó họ mới có thể ủng hộ các giải pháp tốt đẹp được. Và bản thân chính người Việt Nam cũng phải hiểu rõ tình hình như thế nào trước. Chẳng hạn, theo nghiên cứu của tôi, không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam”.
Phát biểu của ông Vũ Quang Việt lập tức gây phản ứng trong giới nghiên cứu về Biển Đông. Có ý kiến từ phía Hội thảo cho rằng TS Việt đã làm sai nguyên tắc của Ban Tổ chức khi trả lời báo chí trước khi Hội thảo chính thức diễn ra; ngoài ra, đây chỉ là ý kiến cá nhân, không thể là tiếng nói của Hội thảo Mùa hè 2010.
Tuy nhiên, bước vào Hội thảo, TS Vũ Quang Việt một lần nữa lại nhắc lại ý kiến này. Quan điểm của ông bị phản bác ngay tại Hội thảo.
Sơ hở về học thuật
Những tài liệu nghiên cứu về lịch sử tranh chấp Trường Sa – Hoàng Sa đều có ghi lại rằng, ngay từ đầu thế kỷ 17, các chúa Nguyễn đã tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo mỗi năm 8 tháng. Năm 1816, Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thủy trình. Năm 1835, Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải tiếp tục hoạt động cho đến khi Pháp vào Đông Dương.
Năm 1932, chính quyền thực dân Pháp đã tuyên bố An Nam có chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, đồng thời sáp nhập Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên. Năm 1933, Pháp tiếp tục tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa, sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Đó đều là những “chứng cứ tài liệu trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam”.
Nhà nghiên cứu Dương Danh Huy, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, phân tích cụ thể sơ hở trong luận điểm của ông Vũ Quang Việt: “Pháp đã tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo một cách phù hợp với Công ước Berlin. Chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa mặc định đi cùng chủ quyền đối với Việt Nam. Sau này, Pháp trao trả chủ quyền lại cho Việt Nam, nghĩa là hiển nhiên Việt Nam có chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Có vẻ như ông Vũ Quang Việt đã nhìn nhận thiếu điều mặc định trên, nên hiểu lầm là Pháp phải tuyên bố cụ thể rằng họ trả hai quần đảo trên cho Việt Nam thì Việt Nam mới có thể có chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa”.
Cũng có thể ông Vũ Quang Việt cho rằng, khi Pháp tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa thì đó là hành động thực dân của một nước thực dân, không phải là sự xác lập chủ quyền cho Việt Nam. Theo ông Dương Danh Huy, quan điểm này, nếu có, sai trầm trọng vì “trong luật quốc tế, nhất là trong các phiên tòa về tranh chấp lãnh thổ, thì những hành động, thỏa thuận, động thái của các nước thực dân trong thời kỳ thuộc địa là luận điểm cơ bản trong việc phân xử. Tòa sẽ xem xét trong thời thuộc địa, các nước thực dân đã làm gì, không làm gì, để xem vùng lãnh thổ trong quá khứ thuộc về ai, và lấy đó làm điểm xuất phát”. Ở đây, có thể nói rằng TS Vũ Quang Việt có xu hướng sa vào cảm tính “không công nhận hành động của nước thực dân trong thời kỳ thuộc địa”. Đáng tiếc là, theo ông Dương Danh Huy, quan điểm đó cũng chính là lập luận mà phía Trung Quốc hay sử dụng trong vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.
Không có lợi về chính trị
Trước sự phản bác của một số học giả trong và ngoài Hội thảo, TS Vũ Quang Việt cho rằng ông chỉ đưa ra quan điểm cá nhân về học thuật. Về điểm này, ông Lê Minh Phiếu, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, góp ý: “Tôi luôn quan niệm rằng, việc tìm những chứng cứ và lập luận cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa – Biển Đông giống như việc một luật sư bảo vệ cho thân chủ của mình (mà trong trường hợp này, thân chủ là Nhà nước, là quốc gia Việt Nam). Nhiệm vụ của luật sư đối với thân chủ là bảo vệ thân chủ. Do vậy mà chúng ta không nên công bố rộng rãi những luận cứ và luận chứng bất lợi cho thân chủ của chúng ta cho bên ngoài. Việc trao đổi, nếu có, phải trong phạm vi bảo mật. Vì thế, việc công bố trên BBC một nhận định như vậy theo tôi là không nên, không đúng về mặt chính trị, ngay cả trong trường hợp nhận định đó là quan điểm cá nhân về học thuật”.
Trong bài trả lời BBC, TS Vũ Quang Việt có nói: “Nếu các bên bây giờ đẩy mạnh tinh thần dân tộc, vận động người dân trong nước chiến đấu bảo vệ, sống chết với nó thì sẽ tạo ra một cuộc chiến tranh hết sức vô ích. Nhưng nếu ta thừa nhận đây là một vùng hải đảo không thuộc về ai, thì sẽ vận dụng công pháp quốc tế để giải quyết vấn đề”. Có thể ông muốn hạn chế tinh thần dân tộc chủ nghĩa cực đoan trong những tranh chấp về chủ quyền. Tuy vậy, vấn đề là Việt Nam thực sự có chứng cớ về chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa – Hoàng Sa, và do vậy không nên cho rằng chúng ta đang đòi hỏi cao hơn mức mà Việt Nam lẽ ra được hưởng theo luật pháp và theo lẽ công bằng.
—–
Ba Sàm bổ sung:
1- Mời đọc thêm để hiểu tâm trạng của lớp trẻ VN:
– Kính gửi: BBT Bauxite Việt Nam
Chúng em là nhóm talamot (http://www.youtube.com/talamotweare1) mới làm một clip video nho nhỏ để hỗ trợ phong trào vẽ 6 chữ HS.TS.VN với ước mong được góp phần mình cùng các bạn trẻ khắp nơi cùng bày tỏ tấm lòng quyết tâm cho sự vẹn toàn của đất nước.
Trong thời gian qua, trang web của các bác đăng tải nhiều thông tin liên quan đến HS.TS.VN và qua đó chắc chắn nhiều bạn trẻ khắp nơi đã cùng hưởng ứng. Ước mong video clip nhỏ bé này được các bác xem và giới thiệu trên trang nhà Bauxite Việt Nam qua đó sẽ truyền đến tay hàng ngàn bạn đọc khác và mọi người sẽ cùng nhau thấy, cổ võ và góp sức thêm nữa cho tinh thần tuổi trẻ Việt Nam hôm nay.
Xin cảm tạ các bác và chúc các bác luôn khỏe mạnh để giữ vững trang mạng bauxite.
Nhóm Talamot
– Tâm thư kính gửi thầy giáo Hà Văn Thịnh (boxxitvn)
2- Có thể TS Vũ Quang Việt có điều kiện hơn nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam để biết và hiểu những thông tin trái chiều , do (nghe nói) sau khi về hưu từ cơ quan Thống kê của Liên hiệp quốc, ông được phía “bạn 16 chữ vàng” mời qua bên đó làm việc, thì sao?
+ Riêng Ba Sàm bữa qua đã có những bình luận sơ bộ về trường hợp này: Mời xem thêm bài của ông VQ Việt trên Tuần VN nữa (hiện đã bị gỡ xuống): Quần đảo Hoàng Sa: Chia sẻ chủ quyền Việt – Trung? Và bài phản hồi của Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc: 534. MỘT ĐỀ XUẤT “LẠ”
Còn Ba Sàm xin góp ý với ông Vũ Quang Việt: với một vấn đề quá hệ trọng, ông lại chỉ là một nhà nghiên cứu kiểu tay mơ thôi trong lĩnh vực này, nhưng tiếng nói lại có trọng lượng do quá khứ với nhiều đóng góp cho VN (chủ yếu về kinh tế), nên càng cần hết sức thận trọng.
Vậy mà ông lại tỏ ra quá dễ dãi, từ bài viết trên Tuần VN (mà nghe đâu ông kêu ca là bài bị cắt gọt quá nhiều nên không nêu được đúng luận điểm của mình), cho tới bài trên BBC ông lại tiếp tục than phiền là “không nói được hết ý kiến”. Vậy phải chăng ông thừa biết mình không/chưa có diễn đàn để trình bày một cách hệ thống, khoa học luận điểm của mình, dễ sinh hiểu lầm tai hại, song vẫn cứ … nổ? Sao ông không đăng đàn trên tạp chí Thời đại Mới , mà bấy lâu ông cùng nhiều trí thức Việt kiều vẫn có nhiều bài viết, để tha hồ phóng bút về cái phát kiến động trời này của mình? Hay là ông chê tạp chí đó ít người đọc, không nổ được mạnh như trên Tuần VN và BBC?
Bấy nhiêu thôi cũng đủ cho những ai quan tâm đặt dấu hỏi rất lớn về ông riêng trong lĩnh vực này.

Nói thêm. Mới sáng nay, một trí thức Việt kiều đã email cho BS, đặt dấu hỏi: lại thêm một “Đỗ Ngọc Bích” mới ra lò? (Hic hic! Bữa nay sợt trên mạng cái tên oanh liệt của bà nầy, có tới hơn 1 triệu kết quả)
+Vài hình ảnh về Hội thảo “Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn đề an ninh con người” diễn ra tại Đại học Temple, Philadelphia (Hoa Kỳ), do phóng viên Thông tấn xã Vỉa Hè gửi về. Điều đáng suy nghĩ là nhiều học giả có kế hoạch tham dự Hội thảo này song đến gần ngày khai mạc đã vì nhiều lý do khác nhau mà không đến dự nữa, trong đó có Ths Hoàng Việt – mời xem: HIỆU TRƯỞNG ĐH LUẬT TP HCM NGĂN CẢN HỌC GIẢ (blog Nguyễn Xuân Diện). Và để hiểu thêm về bà hiệu trưởng có nhiều mối quan hệ thân thích với những nhân vật quan trọng, từ một học giả họ Mai, cho tới ông cựu bộ trưởng giáo dục, mời xem thêm màn tếu góp phần bổ sung cho bức tranh thê thảm của giáo dục nước nhà: Những bất thường quanh bổ nhiệm quyền hiệu trưởng ĐH Luật TP.HCM (VNN)
GS Ngô Vĩnh Long (từ Hoa Kỳ, có nhiều bài trả lời phỏng vấn liên quan tới Biển Đông, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc-Mỹ )

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc (trong nước tự túc qua dự, người từng có nhiều bài viết về Biển Đông, trong đó gần đây nhất là bài phản biện quan điểm của TS Vũ Quang Việt) và TS Sophie Quinn-Judge (tác giả cuốn sách nổi tiếng rất có giá trị Ho Chi Minh-The Missing Yers. Mời coi bản tiếng Việt trên Việt Nam Thư quán.

GS Trần Hữu Dũng (từ Hoa Kỳ, chủ trang thông tin nổi tiếng Viet-Studies.info)

GS Nguyễn Ngọc Giao (từ Pháp, phụ trách trang Diendan.org của trí thức người Việt tại Pháp)

3- Bài của TS Vũ Quang Việt trên Tuần VN:
Quần đảo Hoàng Sa: Chia sẻ chủ quyền Việt – Trung?
Theo Tuần Việt Nam – 06/04/2010
Dựa trên bằng chứng lịch sử và luật pháp quốc tế, TS Vũ Quang Việt cho rằng, quần đảo Hoàng Sa nên được chia sẻ chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cụm đảo An Vĩnh (Amphitrite) có đảo Phú Lâm sẽ do Trung Quốc giữ và cụm đảo Lưỡi Liềm(Crescent) có đảo Hoàng Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam, cùng với vùng lãnh hải 12 hải lý bao quanh các cụm đảo.
Hoàng Sa trong các văn bản hiện đại của Việt Nam phản ánh toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bao gồm cụm đảo Crescent (nhóm Lưỡi Liềm) có đảo Hoàng Sa và cụm đảo Amphitrite (nhóm An Vĩnh) có đảo Phú Lâm.
Các ghi chép lịch sử của Việt Nam khẳng định sự thật rằng nhà Nguyễn đã biết và triển khai chủ quyền của Việt Nam đối với Bãi cát vàng (quần đảo Hoàng Sa) trước khi có người Pháp đến Việt Nam và trước khi Pháp tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tuy nhiên, điều chưa rõ ràng là mức độ rộng tới đâu của các hoạt động thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Nghiên cứu kĩ lưỡng các cứ liệu lịch sử cho thấy Việt Nam và sau đó là Pháp, với tư cách nước áp chính sách thuộc địa lên Việt Nam chỉ kiểm soát cụm đảo Crescent (nhóm Lưỡi Liềm) của quần đảo này, ít nhất là từ 1818 cho tới 1974 khi Trung Quốc chiếm cụm đảo này bằng vũ lực từ tay quân đội chính phủ Việt Nam Cộng Hoà.
Cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent) bao gồm 7 đảo nhỏ và một số dải san hô. 5 đảo nhỏ chính là Pattle (Hoàng Sa), Money (Quang Ảnh), Robert (Hữu Nhật), Quang Hoà (Duncan), Duy Mộng (Drummond) và Tri Tôn.
Đảo nhỏ Pattle hay tên tiếng Việt là đảo Hoàng Sa không phải là đảo lớn nhất nhưng về quân sự lại là đảo quan trọng nhất trong cụm đảo Crescent. Nó chỉ có diện tích là 0,3 km2 nhỏ hơn nhiều so với đảo Phú Lâm ở cụm An Vĩnh (Amphitrite), đảo có diện tích 2,5km2.
Đảo Hoàng Sa gần đất liền Việt Nam, đã được sử dụng như trung tâm hành chính của Pháp và hải quân miền Nam Việt Nam. Trạm khí tượng cũng được Pháp xây dựng vào năm 1938. Đảo này có Miếu Bà có thể ở cùng vị trí ở ngôi đền vua Minh Mạng đã ra lệnh xây dựng năm 1835 như đã được nhắc đến bởi các học giả Việt Nam.

Cụm đảo Lưỡi Liềm gần với tuyến đường hàng hải đi lại giữa Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và Ấn Độ Dương. Đây là khu vực nguy hiểm, tàu có thể vỡ và chìm nếu va phải các dải đá ngầm và cát, nhất là trong mùa bão có thể kéo dài đến 6 tháng. Trước khi người Pháp đến, đảo Pattle hay Hoàng Sa là một điểm quan trọng nơi có thể thu thập các tài sản có giá trị còn lại từ các tàu bị vỡ.Hằng năm, chúa Nguyễn và sau này là vua Nguyễn đều gửi các thuỷ thủ đến đế lấy những vật có giá trị còn lại từ các tàu đắm, điều đã được viết rất rõ trong Phủ biên tạp lục và Đại Nam Thực Lục.
Đảo Tri Tôn cũng nằm trong cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent) được xác định là nơi người ta có thể tìm thấy nhiều Hải sâm và baba và sự mô tả này hoàn toàn phù hợp với mô tả trong Đại Nam Thực lục.
Cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent) là nơi mà các hoàng đế của Việt Nam xem là lãnh thổ của mình và do đó đã cố gắng chỉ đạo chặt chẽ hoạt động và ghi chép địa lý rõ ràng hết sức có thể. Mỗi năm, các hoàng đế đều cử các biệt đội tới đây. Vua Minh Mạng đã ra lệnh vẽ bản đồ cụm đảo, trồng cây và thậm chí xây dựng của ngôi đền.
Ngoài ra, tên của các nhà lãnh đạo đội đến Hoàng Sa đã được sử dụng để đặt tên các đảo nhỏ. Phạm Hữu Nhật được vua Minh Mạng cử đến năm 1836, được đặt tên cho đảo Robert Island. Tương tự như vậy, Phạm Quang Ảnh, đội trưởng biệt đội do vua Gia Long cử ra Hoàng Sa năm 1816 được đặt tên cho đảo Money Island.
Trong khi đó, cả người dân và chính quyền Trung Quốc đều không nỗ lực thể hiện sự hiện diện của mình ở cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent)trước khi họ chiếm đóng bằng vũ lực năm 1974.
Người Hoa ở đảo Hải Nam có thể nhận thức về sự tồn tại và thừa nhận rõ ràng đó là nơi Việt Nam có chủ quyền ở cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent). Điều này thể hiện rõ qua việc chính quyền đảo Hải Nam đã trao trả những thuỷ thủ Việt Nam thuộc biệt đội Hoàng Sa khi họ bị cuốn vào đảo sau bão.
Luật quốc tế cho phép Việt Nam lập luận rằng khi Việt Nam có chủ quyền đối với một phần, Việt Nam có thể tuyên bố chủ quyền với toàn bộ quần đảo. Nhưng việc này chỉ hợp pháp khi phần còn lại là đất vô chủ – terra nullius, vào thời điểm đưa ra tuyên bố.
Điều này có vẻ không đúng khi đảo Phú Lâm (Woody Island) lúc đó đang do người Nhật Bản (tức là người dân Đài Loan lúc Đài Loan là thuộc địa của Nhật) chiếm giữ và sau đó là người Trung Quốc trước khi người Pháp đưa ra tuyên bố chủ quyền.
Nếu như cụm đảo Crescent được ngư dân Hải Nam hiểu là phần của Việt Nam, tránh khai thác thì các chính quyền Việt Nam dưới triều Nguyễn không quan tâm đến cụm đảo An Vĩnh (cụm Amphitrite) có đảo Phú Lâm vì nó không có tài nguyên gì giá trị, khi mà phân chim/ phốt pho chưa được công nhận là nguyên liệu giá trị.
Các ghi chép lịch sử còn lại của các chúa Nguyễn và vương triều nhà Nguyễn hoàn toàn không đề cập đến đảo Phú Lâm của quần đảo Hoàng Sa. Không nghi ngờ gì khi các vua Nguyễn đều nhận thức toàn bộ quần đảo Hoàng Sa nhưng mối quan tâm của họ có lẽ chỉ ở cụm đảo Lưởi Liềm Crescent có đảo Hoàng Sa, nơi mà có các tài sản giá trị từ các tàu bị đắm.
Thái độ này của nhà Nguyễn cũng giống như các hoàng đế Trung Hoa: mở rộng ra các đảo là việc làm tốn kém, trừ khi họ có thể thu về các giá trị kinh tế.
Trong khi đó, theo Marwyn S. Sam uels trong cuốn sách “Contest for South China Sea”, Phú Lâm (Woody Island), một phần của cụm đảo Amphitrite (An Vĩnh) và là hòn đảo lớn nhất tại Hoàng Sa, ít nhất đã được Trung Quốc khai thác từ năm 1911 và có thể từ trước đó. Điều này đã được chứng minh bởi đơn khởi kiện của một nhóm các thương nhân đối với tỉnh Quảng Đông về việc cấp phép khai thác phân chim/ khu dự trữ phốt pho năm 1921. Một uỷ ban đã được thành lập năm 1928 và thậm chí họ còn cử người đến “Hoàng Sa” để điều tra, trong khi hoạt động khai thác đã được triển khai. Thế nhưng, việc khai thác chỉ hạn chế ở đảo Phú Lâm.
Luôn muốn tránh đối đầu với Nhật Bản/ Trung Quốc – những người đến trước, Pháp chưa bao giờ thực hiện quyền sở hữu với đảo Phú Lâm. Trong các năm 1925, 1926, tàu chiến của Pháp từng đến đảo Phú Lâm rồi lại bỏ đi.
Ngay cả khi tuyên bố chính thức về quyền sở hữu các quần đảo vào năm 1930, Pháp cũng chưa từng thực hiện quyền sở hữu với cụm đảo An Vĩnh (Amphitrite) có đảo Phú Lâm này, mà chỉ ở cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent) có đảo Hoàng Sa. Và việc tuyên bố này cũng nhằm đối phó với sự mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản ở khu vực.
Tháng 1/1938, Nhật Bản đã thiết lập sự hiện diện quân sự của mình ở đảo Phú Lâm (Woody) và đảo Lincoln (cả hai đều thuộc nhóm đảo An Vĩnh – Amphitrite của quần đảo Hoàng Sa). Khi quân đội Pháp đến đây, họ đã gặp hai tàu của Nhật Bản. Quân đội của Pháp và Nhật đã cùng tồn tại trên đảo Phú Lâm.

Tuy nhiên, chỉ có quân đội Pháp Đông Dương ở đảo Pattle (Hoàng Sa) trong cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent) của quần đảo Hoàng Sa. Tương tự, quân đội của Pháp và Nhật cùng tồn tại ở đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa. Từ tháng 10/1940, Nhật Bản chiếm đóng hoàn toàn đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình cho đến khi đầu hàng trong chiến tranh thế giới thứ 2.Sau Thế chiến II, một chiếc tàu Pháp trở lại đảo Pattle – Hoàng Sa vào tháng 5/1946. Ở Việt Nam, quân đồng minh đã giao nhiệm vụ giải trừ quân bị Nhật Bản cho Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc và Anh ở miền Nam Việt Nam. Không ai quan tâm lực lượng nào sẽ lo vấn đề biển Nam Trung Hoa.
Tưởng Giới Thạch tận dụng cơ hội này để chiếm quyền kiểm soát vùng lãnh thổ bị bỏ rơi ở biển ĐNA. Tưởng Giới Thạch đã chiếm hữu đảo Phú Lâm vào tháng 1/1947, có lẽ bởi đó là nơi người Trung Quốc đã từng ở. Pháp gửi một con tàu trở lại quần đảo Hoàng Sa vào tháng 5/1946. Không rõ địa điểm mà tàu này đến, mặc dù khả năng ở đảo Pattle – Hoàng Sa có vẻ cao hơn.
Có thể nói, các dữ kiện được trình bày ở trên cho thấy, Việt Nam đã có tuyên bố rõ ràng và thực thi chủ quyền của mình ở cụm đảo Lưỡi Liềm trong khi Trung Quốc kiểm soát cụm đảo An Vĩnh trước và sau chiến tranh thế giới thứ 2. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974 không thể chấp nhận là căn cứ để xác định chủ quyền, theo luật pháp và thông lệ quốc tế.
Sẽ là công bằng và hợp lý cho cả Trung Quốc và Việt Nam theo luật và thông lệ quốc tế nếu Trung Quốc tiếp tục giữ lại cụm đảo An Vĩnh có đảo Phú Lâm và trả lại cho Việt Nam cụm đảo Lưỡi Liềm, có đảo Hoàng Sa.
Box: Trước khi tây phương lấn chiếm châu Á, Trung Quốc chưa bao giờ coi quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là lãnh thổ của mình. Thậm chí cuối những năm 1800, Trung Quốc vẫn không coi Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Điều này được đánh dấu bởi các sự kiện liên quan đến hai tàu La Bellona và Imeji Maru, bị chìm gần quần đảo Hoàng Sa, vào các năm 1895 và 1896.
Các ngư dân từ đảo Hải Nam, Trung Quốc đã thâu nhặt đồng từ các mánh vỡ của tầu.
Công ty bảo hiểm hai con tầu này gửi phản đối chính phủ Trung Quốc, đòi Trung Quốc phải chịu trách nhiệm. Phía Trung Quốc cũng đáp trả rằng Trung Quốc sẽ không chịu trách nhiệm vì đó không phải là lãnh thổ của Trung Quốc. Quan trọng hơn cả sách sử chính thống của triều đại Minh và Thanh cũng đều không ghi Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.
(Bài viết thể hiện góc nhìn riêng của tác giả)

4- Bài phỏng vấn trên BBC: với tuyên bố hùng hồn “Chẳng hạn, theo nghiên cứu của tôi, không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc và các nước khác cũng không có bằng chứng gì rõ ràng để nói Trường Sa là của họ.”

Hội thảo về tranh chấp Biển Đông Nam Á
Một hội thảo của giới học giả bàn về tranh chấp biển và an ninh ở khu vực Đông Nam Á khai mạc ngày 29/07 tại Philadelphia, Hoa Kỳ.
Hội thảo này kéo dài tới ngày 31/07, tập trung một số nhà nghiên cứu hàng đầu người Việt trong lĩnh vực an ninh ở khu vực, nhất là trong tranh chấp Biển Đông.
Lời giới thiệu của Ban Tổ chức hội thảo viết: ” Nền kinh tế Trung Quốc ngày càng mạnh lên, cho phép họ mua chuộc, áp lực các nước khác; kể cả dùng sức mạnh quân sự để thực hiện những yêu sách của họ; đặc biệt ở Biển Đông Nam Á, tình hình ngày càng nghiêm trọng, vì Trung Quốc không chỉ yêu sách đảo mà còn cả biển”.
Với nhận định chính sách của Trung Quốc ảnh hưởng không chỉ tới Việt Nam, mà cả các quốc gia khác trong khu vực và trên toàn thế giới, hội thảo ‘Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn đề an ninh con người’ đặt mục tiêu “đón nhận các phân tích, đánh giá về vai trò Trung Quốc, về chiến lược mà Việt Nam nên theo đuổi”.
Đài BBC đã hỏi chuyện Tiến sỹ Vũ Quang Việt, một trong các thành viên Ban Tổ chức hội thảo:
TS Vũ Quang Việt: Thời gian vừa qua, chúng tôi đã tổ chức hai hội thảo về chủ đề này tại Đại học Yale và Đại học Temple, nhưng đó chủ yếu là cho học giả nước ngoài.
Lần này, đây là hội thảo đầu tiên chỉ cho học giả người Việt. Tuy nhiên số học giả từ trong nước tham gia thì rất ít, mà đa số là người Việt ở nước ngoài.
Một phần là do con số người nghiên cứu về Biển Đông ở trong nước không có nhiều, phần nữa, tự trang trải chi phí để sang Hoa Kỳ tham gia hội thảo cũng là vấn đề lớn.
Tôi biết có trường hợp học giả Hoàng Việt ở TP Hồ Chí Minh định qua đây dự hội thảo, nhưng lại không được phép của hiệu trưởng. Lý do vì sao thì tôi không rõ, vì chính phủ Việt Nam không có cản trở gì chuyện này.
BBC: Ở trong nước vẫn có nhiều người cho rằng vấn đề Biển Đông và tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc là vấn đề “tế nhị”. Liệu suy nghĩ như vậy có cản trở gì cho việc nghiên cứu vấn đề này hay không thưa ông?
TS Vũ Quang Việt: Quá trình nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn độc lập, không có liên quan gì tới Việt Nam cả. Thêm nữa, tìm kiếm cổ sử của Trung Quốc, tư liệu của Pháp… thì cũng không nhất thiết phải có mặt ở Việt Nam.
Dĩ nhiên nếu có sự tham gia cùng nghiên cứu của các học giả Việt Nam, nhất là những người giỏi tiếng Hán, thì chắc là sẽ tốt hơn.
Tuy nhiên cho tới nay thì chưa có sự hợp tác nghiên cứu nào giữa bên ngoài và trong nước trong lĩnh vực này.
Tôi nghĩ, trong việc cộng tác nhiều khi hai bên phải có sự hăng hái giống nhau thì kết quả mới tốt. Chứ còn nếu cứ phải thông qua hệ thống, cơ quan… thì chúng tôi không quen làm như vậy.
BBC: Xin ông cho biết đôi nét về nghị trình của hội thảo?
TS Vũ Quang Việt: Hội thảo lần này không chỉ nói về Biển Đông, nhưng có nhiều bài viết và tham luận về vấn đề Biển Đông. Chúng tôi cũng đặt vấn đề về vai trò của Trung Quốc, Mỹ và các nước trong khu vực này.
Tôi cho là con số bài viết về Biển Đông còn nhiều hơn một số cuộc hội thảo khác, và chất lượng tương đối cao.
Ở đây, khi đọc các tham luận chúng ta sẽ thấy có cả sự khác biệt ý kiến trong giới học giả. Thông qua trình bày, thảo luận… hy vọng sẽ đưa ra được cái nhìn nhiều chiều vì đây là một hội thảo khoa học nên không nhằm tìm ra một ý kiến nhất quán nào.
Thí dụ nói về vai trò của Trung Quốc thì cá nhân tôi đặt vấn đề là Trung Quốc đang có những hành động không có lợi cho hòa bình trong khu vực, và có những tuyên bố không đúng sự thật. Thế nhưng hầu hết chưa có nghiên cứu độc lập của người Việt Nam về sử liệu này.
Vậy nên chúng tôi tập hợp và mang các tổng hợp đó ra tranh luận.
BBC: Xin nói rộng ra ngoài cuộc hội thảo: tình hình Biển Đông hiện nay đang gia tăng căng thẳng. Theo đánh giá của Tiến sỹ, liệu có giải pháp nào để tháo gỡ các căng thẳng đó không?
TS Vũ Quang Việt: Tôi nghĩ đầu tiên phải làm sao để dư luận thế giới hiểu rõ vấn đề vì chỉ khi đó họ mới có thể ủng hộ các giải pháp tốt đẹp được. Và bản thân chính người Việt Nam cũng phải hiểu rõ tình hình như thế nào trước.
Chẳng hạn, theo nghiên cứu của tôi, không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam.
Tuy nhiên, Trung Quốc và các nước khác cũng không có bằng chứng gì rõ ràng để nói Trường Sa là của họ.
Vì thế nếu các bên bây giờ đẩy mạnh tinh thần dân tộc, vận động người dân trong nước chiến đấu bảo vệ, sống chết với nó thì sẽ tạo ra một cuộc chiến tranh hết sức vô ích.
Nhưng nếu ta thừa nhận đây là một vùng hải đảo không thuộc về ai, thì sẽ vận dụng công pháp quốc tế để giải quyết vấn đề. Điều này sẽ có lợi cho khu vực.
Nhiều nước Đông Nam Á cùng chia sẻ Biển Đông, các nước này có thể góp tiếng để cùng đoàn kết giải quyết vấn đề cho thỏa đáng.
BBC: Thưa ông, Trung Quốc đã nhiều lần lặp lại rằng họ muốn giải quyết vấn đề Biển Đông một cách song phương. Liệu công pháp quốc tế có thể được áp dụng trong trường hợp này hay không?
TS Vũ Quang Việt: Không thể chấp nhận song phương được. Biển Đông là khu vực biển nằm cạnh nhiều nước, nước nào cũng có quyền lợi trong đó nên không thể giải quyết một cách song phương được.
Trung Quốc dùng phương cách đó để “chia để trị”, mua chuộc nước này, nước kia, nhằm khống chế kiểm soát Biển Đông. Thế nhưng chiến lược này của họ sẽ không thể thành công được.
BBC: Vừa rồi, Hoa Kỳ cũng tuyên bố muốn tham gia quá trình đàm phán Biển Đông. Thưa ông đánh giá vai trò của Hoa Kỳ trong vấn đề này như thế nào?
TS Vũ Quang Việt: Nếu không có Hoa Kỳ, Trung Quốc sẽ dễ bề đòi hỏi song phương hơn. Bắc Kinh có thể mua chuộc lãnh đạo các nước riêng rẽ, khiến các nước chống lại nhau, tất cả phục vụ lợi ích c̉ủa Trung Quốc.
Mục đích cuối cùng của Trung Quốc là kiểm soát hoàn toàn khu vực. Tự do đi lại, nhưng phải hỏi ý kiến và xin phép Trung Quốc.
Thế nhưng đây là vùng biển mà Trung Quốc chưa bao giờ kiểm soát được trong quá khứ, bởi vậy bây giờ cũng chẳng có lý do gì để Trung Quốc bắt đầu nói là của mình.
Thái độ của Mỹ gần đây theo tôi là rất tích cực. Mỹ không chấp nhận vùng biển này là của Trung Quốc và duy trì quan điểm ủng hộ tự do đi lại ở đây.

5-Bài phỏng vấn mới đây nhất trên RFA:
Chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa?
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-08-03
Về vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mời quý vị theo dõi lập luận của Tiến Sĩ Vũ Quang Việt xung quanh vấn đề này.
Mới đây những người có quan tâm đến chứng cứ lịch sử về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã tỏ ra rất ngạc nhiên trước quan điểm của Tiến Sĩ Vũ Quang Việt trả lời bài phỏng vấn trên BBC cho rằng tất cả các nước đang tranh chấp tại quần đảo Spratlys Island mà Việt Nam gọi là Trường Sa đều không có đầy đủ chứng cứ chủ quyền, kể cả Việt Nam và Trung Quốc.Mặc Lâm phỏng vấn TS Vũ Quang Việt để tìm hiểu thêm chi tiết về lập luận của ông chung quanh quan điểm này.
Không đồng thuận
Mặc Lâm: Thưa TS, trong một bài trả lời phỏng vấn, ông cho rằng “không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ vẫn chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam. Theo Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ do vua Minh Mạng ra lệnh vẽ vào năm 1838 và in ra sau đó một năm, thì hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được gộp chung lại gọi là Vạn Lý Trường Sa. Liệu tài liệu này sẽ được mang ra để chống lại ý kiến của ông hay không?
TS Vũ Quang Việt: Trong bài phỏng vấn BBC tôi đã không nói được hết ý nên xin cám ơn anh cho tôi có cơ hội làm vấn đề rõ ràng hơn.
Mục đích bài viết của tôi ở Hội thảo là xem xét chiến lược cần có của Việt Nam để bảo vệ an ninh quốc gia, đối phó với chiến lược mới của Trung Quốc coi gần như toàn bộ biển Đông Nam Á là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc do đó Trung Quốc cần bảo vệ như bảo vệ Đài Loan và Tây Tạng. Nếu chấp nhận điều này thì mọi nước đi qua biển Đông Nam Á đều phải xin phép Trung Quốc, như trước đây Trung Quốc đã đòi hỏi Mỹ phải xin phép khi đi qua vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở gần Đảo Hải Nam. Trung Quốc nói “bảo đảm tự do đi lại” trên Biển Đông Nam Á.
Không hiểu Trung Quốc hiểu như thế nào nhưng phải xin phép thì không thể gọi là “tự do đi lại”. Trung Quốc nói sẵn sàng cùng các nước hợp tác khai thác biển, nhưng nếu biển thuộc chủ quyền Trung Quốc thì việc hợp tác này chỉ mang tính ban ơn của thiên triều cho chư hầu như ngày xưa. Mục đích của Trung Quốc là gạt ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi khu vực. Gạt bằng việc mua chuộc rẻ tiền như vậy thì không ai nghe nổi. Trung Quốc từ lâu đã nhân danh là cùng xã hội chủ nghĩa anh em với Việt Nam để mua chuộc Việt Nam.
Nhưng cho đến nay, Việt Nam không dại như vậy. Tất nhiên Việt Nam gần ngay nách Trung Quốc, lại không là đồng minh của phương tây, nên Trung Quốc đã tăng cường áp lực và hù dọa Việt Nam bằng cách cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt cá, bắt tàu đòi chuộc, đe dọa các công ty thăm dầu mỏ trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Họ cũng biểu dương sức mạnh hải quân để đe Mỹ, hù dọa Việt Nam và các nước khác.
Vấn đề tranh chấp biển đảo như vậy phải đặt trong toàn cảnh chiến lược của Trung Quốc ở cả Thái Bình Dương trong đó có biển Đông Nam Á. Việt Nam trong một thời gian dài, cả chính quyền lẫn người dân đều chỉ tập trung vào tranh chấp đảo không những với Trung Quốc mà với cả các nước Đông Nam Á khác. Chính vì thế mà không thể có sự đồng thuận trong khu vực nhằm đối phó với Trung Quốc.Tôi hoàn toàn không chống Trung Quốc, tôi nghĩ rằng Việt Nam cần làm bạn với mọi người. Tôi cho rằng phản ứng của các nước chung quanh trong đó có Việt Nam chỉ nhằm bảo đảm an ninh cho quốc gia mình và mong muốn Trung Quốc cùng với các nước chung quanh và kể cả Mỹ thảo luận đa phương để mang lại hòa bình cho khu vực.
Do đó mà mọi nước kể cả Trung Quốc cần nhìn nhận lại vấn đề tranh chấp này về mặt chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế. Cần minh bạch chúng, mở rộng bàn thảo đa phương để giải quyết vấn đề, kể cả yêu cầu Tòa án Quốc tế tài phán tranh chấp.
Nghiên cứu của chúng tôi (dựa vào sự đóng góp mới đây của các nhà Hán học như Hồ Bạch Thảo) cho thấy là Trung Quốc trong chính sử như Minh Sử và Thanh sử không có đoạn nào nói đến Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc. Bản đồ chính thức của Trung Quốc cũng thế. Bằng chứng của Trung Quốc đưa ra là các sách của tác giả Trung Quốc có những đoạn viết về cái gì đó mơ hồ như là Hoàng Sa, thậm chí là Trường Sa. Nhưng đây là ghi chép của những người du lịch, thám hiểm.
Về mặt công pháp quốc tế, chứng cứ lịch sử phải là từ chính sử hoặc những tài liệu tin cậy ghi hành động của nhà nước trung ương, nói lên được ý chí và hành động làm chủ và sự hiện diện liên tục của quốc gia đối với mảnh đất nào đó thì nước đó mới có chủ quyền chính đáng ở đó. Trung Quốc đã không làm được như vậy.
Việt Nam và các nước khác cũng cần làm thế. Nhà nước Việt Nam có chứng cứ lịch sử trong chính sử về làm chủ Hoàng Sa từ thời Gia Long và sau đó trên vùng Lưỡi Liềm cho đến năm 1974 khi bị Trung Quốc dùng võ lực chiếm mất. Về Trường Sa thì phía Việt Nam cần nghiên cứu để làm cho rõ hồ sơ. Riêng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ có một điểm mạnh là vẽ rõ Hoàng Sa và Trường Sa dù bị hạn chế bởi khả năng khoa học vẽ bản đồ chính xác của thời đó. Tuy nhiên một nhà nghiên cứu Việt Nam là ông Võ Long Tê trong Tạp chí Sử Địa số 27-28, xuất bản ở Sài Gòn năm 1974 cho rằng nguồn gốc bản đồ này không rõ, nên cần tìm hiểu thêm.
Chấp nhận đàm phán đa phương là chấp nhận xem xét trên cơ sở chứng cứ lịch sử, và những thực tế khác liên quan, nếu có vùng nào đó không rõ ràng thì các nước liên hệ có thể dùng Luật Biển và các tiền lệ của Tòa án Quốc tế để bàn việc chia sẻ lợi ích một cách hợp lý và công bằng nhất.
Cần chứng cứ lịch sử chính thống
Mặc Lâm: Đó là nói về bản đồ, riêng vấn đề người Việt Nam đã có mặt tại đây thì Phủ Biên Tạp Lục có ghi:
“Nhà Nguyễn cũng xây dựng biệt đội Bắc Hải, với các nhân sự đa dạng, được tuyển từ làng Tứ Chính, huyện Bình Thuận, hoặc từ làng Cảnh Dương. Những tình nguyện viên được chấp nhận sẽ được miễn các loại thuế và các phí cầu cảng.
Họ đã sử dụng tàu thuyền đánh cá tư nhân nhỏ để đi du lịch đến Bắc Hải, Côn Lôn để bắt đồi mồi, cá heo, bào ngư, hải sâm. Biệt đội Bắc Hải được đặt dưới sự giám sát của biệt đội Hoàng Sa vì họ chỉ thu thập hải sản, và rất hiếm khi có được các nguyên liệu quý khác như vàng và bạc. Ông nghĩ sao về bằng chứng này?

TS Vũ Quang Việt: Nếu ta dùng nguyên tắc là chứng cứ lịch sử phải mang tính chính thống của nhà nước trung ương và áp dụng nguyên tắc này để xem xét yêu sách của Trung Quốc thì ta cũng phải áp dụng nguyên tắc này cho Việt Nam và các nước khác.
Chính sử Trung Quốc không nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa là đất Trung Quốc và luôn luôn ghi cương vực Trung Quốc chấm dứt ở Đảo Hải Nam. Vậy thì yêu sách của Trung Quốc là không có cơ sở lịch sử. Còn phía Việt Nam, Phủ Biên Tạp Lục là ghi chép của Lê Quí Đôn, không phải chính sử, nhưng là tài liệu cổ được đánh giá là đáng tin cậy, không thể bỏ qua. Phủ Biên Tạp Lục nói về Bắc Hải. Bắc Hải có phải là Trường Sa không thì phải chứng minh.Về Trường Sa, Trung Quốc không có chứng cứ lịch sử. Việt Nam cần làm rõ chứng cứ về ý chí và hành động làm chủ nó thời Nguyễn.
Nhưng vấn đề Trường không thể chỉ dựa trên chứng cứ lịch sử để xem xét. Nó phức tạp hơn nhiều. Pháp tuyên bố chủ quyền năm 1933 trên cơ sở nó là đất vô chủ, nhưng không gửi quân ngay ra đó để thực hiện chủ quyền. Sau này Pháp và Việt Nam cũng chỉ kiểm soát được số đảo. Rồi Phi, Mã Lai chiếm đóng những đảo không có người. Đài Loan (Trung Quốc) cũng chiếm đóng 1 hòn đảo khi tước võ khí Nhật ở Itu Aba.
Trung Quốc là nước duy nhất dùng dùng võ lực chiếm đóng lại các đảo mà Việt Nam chiếm trước đó. Trong khu vực Trường Sa, có thể nói là yêu sách của Trung Quốc là yếu nhất, vì chỉ phản ánh qua bản đồ có đường chữ U năm 1947 và chính thức yêu sách từ năm 1951.
Mặc Lâm: Riêng trường hợp Philippine, mãi đến năm 1971 mới tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa tuy người dân của họ đã đánh bắt cá hay ghé đảo này từ năm 1956. Trong khi trước đó, Việt Nam đã có hẳn quân đội và thường dân trú đóng trên đảo. Hai sự kiện này được giải thích như thế nào?
TS Vũ Quang Việt: Phi tuyên bố chủ quyền một số hòn đảo trên cơ sở là vùng đất vô chủ, đặc biệt là ở những đảo gần Phi mà trước đây Pháp không có mặt, chưa thực hiện việc kiểm soát hữu hiệu dù đã tuyên bố chủ quyền.
Trước khi chính phủ Phi tuyên bố chính thức một số đảo thì Tomas Cloma người Phi yêu sách Itu Aba, đảo lớn nhất ở Trường Sa vào năm 1956. Gọi là là lớn nhất nhưng diện tích rất nhỏ, dưới 0.5km2. Như vậy Pháp và Phi đều yêu sách trên cơ sở trước đó là đất vô chủ.
Chỉ có Trung Quốc và Việt Nam sau này mới đưa ra yếu tố lịch sử. Sau yêu sách, không ai đồng ý với ai, các nước tự chiếm những nơi còn vô chủ. Chỉ riêng Trung Quốc là dùng võ lực chiếm lại của nước khác.
Mặc Lâm: Mặc dù ông đưa ra nhiều chứng cứ bảo vệ sự tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa là của Việt Nam, nhưng về vấn đề Trường Sa, những đề nghị của ông có thể sẽ bị chống đối từ dư luận Việt Nam, và để giải thích ông sẽ nói gì với họ?
TS Vũ Quang Việt: Xin nói cho rõ là những ý kiến phát biểu của tôi là ý kiến riêng, dựa vào các tài liệu có được. Tôi chưa được tiếp cận với chứng cứ lịch sử mà nhà nước Việt Nam hiện có nên những ý kiến phát biểu ở đây có thể thay đổi nếu như chứng cứ lịch sử đó đòi hỏi cách nhìn khác. Lịch sử thường được viết lại khi đối mặt với chứng cứ mới. Đó là phương pháp mà các nhà khoa học xử dụng.
Tôi có vài ý kiến riêng dựa vào chứng cứ hiện có và có thể có người không đồng ý. Điều đó không quan trọng bằng việc người Việt cần giúp chính phủ Việt Nam xây dựng hồ sơ chứng cứ lịch sử và lập luận dựa trên công pháp quốc tế để đàm phán với nước khác và tạo công luận.
Tôi nghe nói vẫn còn Châu Bản Triều Nguyễn là các thư từ tài liệu cơ sở có đóng dấu của Vua, đây là tài liệu gốc dùng để viết lịch sử chính thống. Hình như chúng vẫn chưa được dịch ra tiếng Việt và cũng chưa được sử gia khai thác.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Tiến Sĩ.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://anhbasam.com/

_____
Sử liệu mới về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Tác giả: André Menras (Hồ Cương Quyết)

“Khi đọc bài viết của báo công giáo La Croix ngày 15/3/1934 mà người bạn sử gia Alain Ruscio vừa mới gửi đến, thêm một lần nữa, tôi tin rằng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hiển nhiên thuộc về Việt Nam”- André Menras quả quyết.
LTS: André Menras, một người Pháp đã có hộ chiếu và chứng minh thư Việt Nam với cái tên Hồ Cương Quyết. Hơn 40 năm trước, chàng thanh niên Pháp ấy cùng người bạn đã đến Sài Gòn theo chương trình “Thanh niên Pháp đi làm nhiệm vụ hợp tác quốc tế”, đã leo lên đầu tượng lính thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn phất cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, rải truyền đơn kêu gọi hòa bình. André Menras và người bạn bị bắt, giam giữ 3 năm cho đến đầu 1973, ông cùng người bạn mới được thả và trục xuất về Pháp. Ngay sau đó, ông đã viết cuốn “Thoát khỏi ngục tù Sài Gòn, chúng tôi tố cáo”, được dịch ra nhiều ngôn ngữ.
Mới đây, qua người bạn Sử gia, ông tiếp cận được một tư liệu khẳng định quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hiển nhiên thuộc về Việt Nam, André Menras đã gửi tới Tuần Việt Nam một bài viết và bản dịch của sử liệu này như một minh chứng về chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Xin giới thiệu cùng độc giả.

Một lần nữa, có một sự trớ trêu của lịch sử là thực dân Pháp, trong vòng hơn một thế kỷ đã lấy mất đi của nhân dân Việt Nam cả tài nguyên, lãnh thổ và lãnh hải. Và, với ý nghĩ là họ sẽ tồn tại vĩnh viễn trên vùng đất xâm chiếm, các cấp hành chánh, giới báo chí, những nhân vật chính trị và quân sự thời Pháp thuộc đã soạn ra nhiều tài liệu, chứng cứ để hôm nay Việt Nam có thể căn cứ trên những sử liệu đó mà xác nhận, bảo vệ, và thậm chí giành lại chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.
Khi đọc bài viết của báo công giáo La Croix ngày 15/3/1934 mà người bạn sử gia Alain Ruscio vừa mới gửi đến, thêm một lần nữa, tôi tin rằng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hiển nhiên thuộc về Việt Nam. Và người ta cũng nhận thấy rõ rằng thực dân Pháp năm xưa đã có cái nhìn sâu sắc và thực tế về tầm quan trọng chiến lược của vùng hải đảo này. Tuy nhiên, họ lại tỏ ra xem nhẹ tính tối quan trọng về mặt kinh tế mà vùng hải đảo này có thể mang lại cho Việt nam trong những thế kỷ tiếp theo.
Tài liệu này còn cho một tia sáng thú vị về cả một quá trình liên tục trong lịch sử về tham vọng và sự quan tâm của Trung Quốc lục địa với đảo Hải Nam. Một lần nữa, tài liệu này chỉ rõ dã tâm của những người lãnh đạo Trung quốc, và khuyến cáo với họ rằng, trên vùng biển của vùng Đông Nam Á, không hề có tương lai cho những lâu đài trên cát và trong những vùng xoáy nguy hiểm mà họ đang cố xây dựng.

Một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã ngang nhiên xây sân bay. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Mặc cho những chủ trương với nhiều gam màu, từ quân sự đến giả dạng khảo cổ, giả dạng du lịch, giả dạng bảo vệ môi trường, kể cả giả dạng an ninh, họ vẫn không thể nào hợp pháp hóa được sự xâm chiếm này của họ. Sử liệu này, cũng như tất cả những tài liệu sẽ lần lượt xuất hiện từ những tư liệu lịch sử, chứng minh cả cho những người đồng lõa với họ, những kẻ hoặc muốn bình thường hóa, hoặc muốn che dấu, hoặc chấp nhận hành động ăn cướp này rằng Lịch Sử là điều không thể chối cãi được. Sớm hay muộn rồi Lịch Sử cũng sẽ lần lượt đưa ra từng chứng cứ một để vạch mặt chỉ tên những kẻ cố tình đi ngược lại lịch sử hoặc muốn viết sai lệch lịch sử!.
Để có thể xác định đúng tính lịch sử của tư liệu này, tôi xin nhắc lại một số sự việc sau:
Ngay từ năm 1925, khi Toàn quyền Đông Dương tuyên bố rằng Hoàng Sa và Trường Sa là đất của Pháp thì Nhà nước thực dân Pháp đã khẳng định, kéo dài và củng cố một cách chắc chắn chủ quyền mà họ đã tước đoạt từ Vương triều An Nam đối với lãnh thổ và lãnh hải của xứ này.
Năm 1931 – 1932, Nhà nước Pháp cũng đã lên tiếng phản đối một cách chính thức về việc khai thác guano bỏ thầu cho Trung Quốc trên các quần đảo này. Lúc ấy, Nhà nước Pháp đã nêu ra những quá trình lịch sử và những bằng chứng về chủ quyền của An Nam rồi sau đó của Pháp trên vùng lãnh hải này.
Từ năm 1937 – 1939, Nhà nước Pháp đã cử một đội quân bảo vệ dân sự thực dân để xây dựng trên đảo Pattle một tượng đài với dòng chữ “Cộng hòa Pháp – Vương triều An Nam – quần đảo Hoàng Sa- 1816- đảo Pattle 1938” và dựng lên một ngọn hải đăng, một đài khí tượng và một cơ sở viễn thông…
Và đây là sử liệu này, trong đó còn có một vài lỗi chính tả về một số địa danh. Tôi đã để nguyên để giữ nguyên tính chân thực của sử liệu này.

Trên Biển Đông
Đã nhiều lần chúng ta bàn cãi về việc nhập các quần đảo Paracels (Hoàng Sa) vào Đông Dương.

Nằm ngay trên con đường nối liền mũi Padaron của Hong Kong, các hòn đảo nhỏ này buộc tất cả các tàu thuyền đi qua lại những vùng này của biển Đông phải đi đến gần sát hoặc về phía Tây – giữa Hoàng Sa và đảo Hải Nam , hoặc về phía Đông, giữa Paracels (Hoàng Sa) và vỉa đá Macclesneid.
Mặt khác, các hòn đảo này lại nằm ở một khoảng cách gần như ngang nhau giữa Hải Nam và Tourane (Đà Nẵng), chúng gần như giữ vai trò chỉ huy cửa ngõ vào Vịnh Tonkin (Vịnh Bắc Bộ), và do vậy, kiểm soát cửa ngõ của một vùng quan trọng về phương diện kinh tế, vì Hải Nam trong tình hình bình thường chỉ là một cửa ngõ không thuận tiện cho việc neo đậu các tàu lớn và có thể là một ngõ cụt, nếu có một sự bất đồng nào đó.
Một đại úy hải quân Pháp tên là Olivier de Saix, thuộc cơ quan Địa lý, gần đây đã trình bày những lý do vì sao cần phải nhập quần đảo Paracels và xem như nó gắn với đất liền. Vấn đề chủ quyền của nước Pháp đối với Paracels từ lâu đã là một vấn đề tranh cãi. Cách đây vài năm, sau những cuộc tìm kiếm trong các sử liệu của vương triều An Nam, bán báo cáo này đã đi đến kết luận như sau: quần đảo Paracels hoang vắng và cằn cỗi không khác gì một mê cung của các hòn đảo san hô, đá ngầm và những dải cát mà những người đi biển rất e ngại, hình như là một vùng res nullius (đất hoang, cả về mặt pháp quyền) cho tới đầu thế kỷ vừa rồi.
Đức Giám mục vùng Isauropotis tên là Jean Louis Taberd, đứng đầu giáo phận Trung Kỳ, Cambodge và Champa, trong một công trình nghiên cứu về địa lý về Trung Kỳ, đã có nhắc tới sự chiếm đóng quần đảo Paracels trong năm 1816 của Hoàng đế Gia Long – người đã trịnh trọng kéo cao lá cờ của Nam Kỳ trên quần đảo này. Một đơn vị gồm 70 người chọn lọc từ dân làng Vin – An (Vĩnh An ) đã ra đóng giữ tại đây.
Ít lâu sau, nhiều phái đoàn chính thức được cử đến thám hiểm quần đảo. Một trong những đoàn ấy đã phát hiện ra một ngôi chùa cổ xưa có khắc chữ An Nam. Để giữ kỷ niệm về chuyến thám hiểm đó, người ta đã chuyển ra đảo vật liệu và những người thợ để xây dựng một ngôi chùa và một tượng đài. Trong quá trình đào móng để xây chùa, người ta phát hiện thêm 2.000 cân nhiều loại vật dụng bằng đồng lá, sắt, thau … những chứng cứ của một cuộc chiếm đóng từ trước đó ở trên đảo .
Hình như cho đến thời điểm này, nước An Nam không có một liên hệ nào với quần đảo Paracels. Đa số các ngư dân, hoặc chủ thuyền dọc bờ biển sống trong một sự thiếu hiểu biết hoàn toàn về các hòn đảo đó, và không có ai tiếp tục đặt chân tới đó.
Tuy nhiên, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huế đã khẳng định vào năm 1925: “Những hòn đảo nhỏ đó đã luôn luôn thuộc về nước An Nam và không hề có một ý kiến trái ngược nào về vấn đề này.” Trong các yêu sách đưa ra cho Trung Quốc vào năm 1909, nước Pháp lúc đó đã chiếm đóng An Nam, về phương diện đối ngoại, và căn cứ vào các hiệp ước bảo hộ, đã phải khẳng định chủ quyền của quốc gia bảo hộ đối với các hòn đảo này.
Mặt khác, hai quốc gia lớn, do các đặc trưng về chiến lược là chính, có thể mong muốn chiếm đóng quần đảo này nhất là nước Anh và Nhật Bản cũng chưa bao giờ có ý định này. Quần đảo Paracels ở vị trí tiền tiêu của Đông Dương, nên người ta có thể xây dựng ở đây một căn cứ tàu ngầm, hoặc một căn cứ thủy phi cơ.
Nhưng, cho dù chúng ta không sử dụng trực tiếp các đảo thì việc chiếm giữ chúng sẽ ngăn cản bất kỳ một nước nào khác dòm ngó đến Đông Dương, hoặc có ý đến xây dựng những thứ mà chúng ta không tự mình làm cho đến giờ này. Trong trường hợp có những xung đột, việc chiếm đóng các hòn đảo bởi một nước ngoại bang sẽ là một mối đe dọa lớn cho việc bảo vệ và toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang Đông Dương.
Thật vậy, quần đảo Paracels tạo thành một sự nối dài của đảo Hải Nam. Một đối thủ có thể tìm thấy ở đó một căn cứ thủy quân mạnh mẽ, bởi lưu lượng nước và nhờ những khu vực có thể thả neo tuyệt vời, cũng như tình trạng tự nhiên của nó, để không ai có thể đuổi ngược ra. Một đội tàu ngầm lấy quần đảo này làm chổ dựa, không những có thể chốt chặn hoàn toàn cảng Tourane, cảng quan trọng nhất của An Nam, mà còn có thể cô lập cả Bắc Kỳ bằng cách cấm vận đường biển.
Một lý do khác để sát nhập Paracels là việc xây thêm ít nhất là một ngọn hải đăng về phía tây của các đảo, nhằm tránh cho các tàu thuyền phải đi vòng như từ trước tới bây giờ để tránh những luồng nước thường xuyên thay đổi mỗi khi tàu đi ngang đảo vào ban đêm, hoặc khi thời tiết xấu.
Việc xây dựng trên một trong các hòn đảo nhỏ ấy một đài khí tượng có kèm theo một cơ sở viễn thông cũng đã được nghiên cứu. Đông Dương đã có một hệ thống khí tượng rất tốt có thể chuyển thông tin quan sát nhiều lần trong ngày tại Thu Lien, từ nơi đó, các thông tin được phân tích và người ta rút ra những dự báo. Nhưng tất cả các đài khí tượng đó tại Đông Dương, hiện vẫn chỉ ở trong đất liền, hoặc tại vùng ven biển.
Về phía đông của Đông Dương, không có một cơ sở nào khác có liên lạc với trung tâm quan sát của chúng ta ngoài cơ sở Hồng Kông, Pratas hoặc Manille (Philippines) – những cơ sở ở cách rất xa chúng ta. Ngay tại đảo Hải Nam là nơi nhiều người Trung Quốc khả nghi sinh sống cũng không hề có một cơ sở nào. Giữa Manille và bờ biển An Nam, có nghĩa là trong một khoảng cách chừng 800 dặm, cũng không có gì ngoài những thông tin thất thường mà các tàu tự chuyển cho nhau. Đài quan sát trên Paracels, ở cách bờ biển An Nam chừng 300 km,sẽ giúp bổ sung những thiếu sót này.
Những quyền lợi về kinh tế mà quần đảo Hoàng Sa có thể mang lại, nhìn bề ngoài dường như không mấy quan trọng. Một nghiên cứu khoa học về vùng đất này đã được tiến hành một cách đầy đủ. Người ta đã thực hiện nhiều cuộc thăm dò, đã xác định tình trạng thiên nhiên và cấu trúc đáy biển, cũng như đã nghiên cứu một cách chính xác về các tầng địa chất của các hòn đảo nhỏ.
Vài năm trước, người ta đã phát hiện nhiều mỏ phốt phát rất đẹp trên nhiều hòn đảo, đặc biệt là trên đảo Boisée và đảo Roberts, nhưng những người Nhật, trong một chuyến thám hiểm, đã dựng trên hòn đảo này một đường tàu sắt và một cầu tàu bằng sắt dài 300m, cũng như đã tiến hành khai thác một cách có hệ thống vùng này. Nếu như họ đã không khai thác hoàn toàn các mỏ phốt phát, thì họ cũng đã làm nó cạn kiệt đến mức là vùng này không còn có thể khai thác được gì hơn.
Hoàng Sa rất giàu về cá, nhưng san hô tràn trên mặt biển đã ngăn cản tất cả các loại thuyền bè. Những chiếc thuyền nhỏ đánh bắt cá ở vùng này thuộc về các ngư dân hàng năm đến đây theo mùa mưa trên đường từ Hải Nam đến Singapore, và trong những thời gian gió bão không thể đi lại được thì họ lại đi đánh bắt cá ven các hòn đảo xa xôi này.
Hòn đảo lớn Hải Nam, nằm giữa biển Đông và vịnh Tonkin rất ít dân cư. Phía trong của đảo có một vùng đồi núi, nơi có một số ít dân cư gần như độc lập sinh sống, đó là dân tộc LI. Mặc dù Trung Quốc đã thống trị vùng đất này từ nhiều thế kỷ và đã thiết lập tại đây một cơ sở hành chính và thủ phủ của nó, và cả hai đều nằm dưới sự kiểm soát của tỉnh Quảng đông, nhưng ảnh hưởng của nó thực sự chỉ mạnh ở khu vực duyên hải.
Trong vùng Tây-Nam của tỉnh Quảng Đông, tức là vùng giáp ranh với Bắc Kỳ và vùng thuộc địa Pháp Quảng Châu Wan, có một tổ chức được thành lập để khắc phục những thiệt hại bởi nạn đói, và tổ chức này được gọi là Văn phòng Tái Thiết miền Nam. Chính tổ chức này được giao cho thực hiện chương trình gom dân của vùng trung tâm các núi des Cinq Doigts (năm ngón tay). Vùng kiểm soát của tổ chức Tái Thiết này rất rộng lớn và nằm dài theo bờ biển.
Việc thông tin liên lạc rất khó khăn kể cả bằng đường bộ lẫn đường biển. Mọi liên hệ giữa Trung Quốc và đảo phụ thuộc hoàn toàn vào các tàu thủy nước ngoài chạy giữa Hải Phòng và Hongkong. Nhưng những chuyến đi ấy không được thực hiện theo lịch trình nhất định, và trong trường hợp có gió lớn hoặc có bão, những chuyến tàu ấy thường bị chậm có khi đến hơn 10 ngày.
Với ý định khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên của đảo Hải Nam, đồng thời xác lập lại quyền đi lại dọc bờ biển, chủ tịch Tổ chức Tái Thiết miền Nam đã đưa ra một chương trình bao gồm việc kêu gọi những người Trung Quốc sống ở nước ngoài quyên tiền đủ để đóng hai chiếc tàu trọng tải ít nhất là 20 ngàn tấn, nhằm giúp cho việc liên lạc giữa đảo Hải Nam và Trung Hoa lục địa được dễ dàng hơn.

http://tuanvietnam.net/2010-07-27-them-su-lieu-ve-chu-quyen-bien-dao-cua-viet-nam

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: