Hoàngquang’s Blog

09/08/2010

Dùng biện pháp quân sự, Trung Quốc sẽ tự cô lập mình

Filed under: Hoa Kỳ- Trung Quốc-Biển Đông,HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM — hoangquang @ 3:56 sáng
Tags:

Tác giả: Minh Anh – Phương Loan
: 06/08/2010 06:00 GMT+7

Khuấy động dậy sóng Biển Đông-
The Japan Times

+Trung Quốc đẩy mạnh kế hoạch khai thác Hoàng Sa bất chấp phản đối của Việt Nam
Trọng Nghĩa

*
Trung Quốc sẽ phải đấu dịu sau đó, nếu không thì khó có thể ai chơi với Trung Quốc được. Bối cảnh hiện nay tạo cho Việt Nam một thời cơ hiếm có để giành được sự ủng hộ của thế giới bên ngoài và hậu thuẫn của nhân dân trong nước – Giáo sư Ngô Vĩnh Long nhận định.

LTS: Tuần Việt Nam trò chuyện với Giáo sư Ngô Vĩnh Long về một chủ đề nóng bỏng hiện nay: an ninh Biển Đông sau một loạt những động thái căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc cùng những lựa chọn ứng xử cho Việt Nam.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long là học giả người Việt nổi tiếng tại Mỹ, hiện đang giảng dạy lịch sử tại ĐH Maine. Ông vừa trở về từ Hội thảo Hè tại Philadelphia, bàn về tranh chấp Biển Đông và an ninh con người.

Phía sau những động thái khiêu khích của Trung Quốc
Được biết, tại hội thảo Hè tại Philadelphia năm nay, các nhà nghiên cứu đặt vấn đề về vai trò của Trung Quốc, Mỹ và các nước trong khu vực. Quan điểm của các học giả liên quan đến vai trò của các nước lớn trong vấn đề an ninh khu vực như thế nào?
Hội thảo Hè vừa rồi được tổ chức là vì nhiều học giả người Việt đang ở nước ngoài nhận thấy là Trung Quốc càng ngày càng đe dọa an ninh của các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng như Bắc Á, chứ không chỉ đối với riêng vấn đề tranh chấp Biển Đông.
Trung Quốc cố tình khiêu khích Mỹ để uy hiếp các nước khác trong khu vực. Năm 2008, Trung Quốc đòi chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ, và để Trung Quốc kiểm soát toàn bộ Tây Thái Bình Dương đến phía tây quần đảo Hawaii. Sau khi Mỹ từ chối thì tàu hải quân Trung Quốc đã gây sự với tàu Mỹ 2 lần vào năm 2009.
Sau đó, vì Mỹ và các nước lớn khác không có thái độ cương quyết đối với những hành động khiêu khích và những yêu sách vô lý vừa đề cập ở trên, Trung Quốc đã liên tục uy hiếp Việt Nam và một số nước khác trong khu vực Biển Đông như cấm đánh cá, bắt thuyền đánh cá và ngư dân…
Đặc biệt, tháng 4/2010, Trung Quốc đã đưa các chiến thuyền hiện đại nhất thuộc cả 3 hạm đội hải quân của họ (hạm đội Nam Hải, Đông Hải và Bắc Hải) xuống vùng Trường Sa tập trận gần 3 tuần.
Và mới đây, hải quân Trung Quốc lại tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật trên Biển Đông.
Trung Quốc cũng đã tuyên bố với riêng với hai viên chức cao cấp Mỹ vào cuối tháng 3/2010 rằng Biển Đông là khu vực “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tức là cũng ngang tầm với Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương; và vì thế Trung Quốc sẽ không bao giờ nhân nhượng hay thỏa hiệp ở đây, tuy Trung Quốc vẫn thường nói là sẽ thương lượng song phương với từng nước ở Đông Nam Á.
Trước sự đe dọa và đòi hỏi phi lý của Trung Quốc, trong những tháng qua, Hoa Kỳ đã có bước chuyển chính sách đối phó với Trung Quốc. Có thể nói, đây là một thắng lợi lớn về ngoại giao của ASEAN.
Rõ ràng, trước thái độ khiêu khích như thế hầu như trên toàn bộ Tây Thái Bình Dương, nếu Mỹ và các nước lớn khác không cùng nhau tỏ thái độ cương quyết với Trung Quốc thì nước này trên thực tế đã uy hiếp được các nước nhỏ trong vùng cũng như sẽ càng ngày càng gây thêm mất an ninh cho khu vực.
Phía sau những động thái khiêu khích mà ông đề cập ở trên là gì?
Phải thấy rằng, đối tượng chính của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương nói chung, Biển Đông nói riêng, là Hoa Kỳ. Trung Quốc đã cố tình thách thức, nếu không nói là gây hấn, để mong Mỹ, trong lúc phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, phải có thái độ nhũn nhặn với Trung Quốc, nếu không nói là có thể nhượng bộ những đòi hỏi của Trung Quốc không những trong khu vực Tây Thái Bình Dương hay Biển Đông mà còn trong các lĩnh vực kinh tế – tài chính nữa.
Nếu làm được việc này, không những Trung Quốc hù dọa được các nước khác trong khu vực mà cũng còn lấy điểm với dân chúng họ bằng cách dấy lên lòng tự hào dân tộc.
Riêng tại khu vực Biển Đông, đối tượng chính của Trung Quốc là Việt Nam vì Việt Nam là nước “núi liền núi, sông liền sông” với Trung Quốc, có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong vùng và có tranh chấp nhiều nhất với Trung Quốc.
Nếu Bắc Kinh có thể làm áp lực Chính phủ Hà Nội tỏ thái độ nhân nhượng trên biển cũng như trên đất liền thì Trung Quốc có thể ít nhất là trung lập hóa được các nước khác vì họ không có lợi ích nhiều như Việt Nam trong việc tranh chấp với Trung Quốc.
Không ai dại gì đưa đầu ra nếu nước bị mất mát nhiều nhất không dám đấu tranh cho quyền lợi của chính mình. Do đó, Trung Quốc đã rất khôn khéo trong việc hù dọa và chỉ chủ yếu đánh bắt ngư dân Việt Nam.
Bước chuyển chính sách của Hoa Kỳ
– Nhưng có vẻ ý đồ trên đã không thành công khi tại Diễn đàn ARF do Việt Nam chủ trì tại Hà Nội vừa qua, người ta chứng kiến Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã ra tuyên bố mạnh mẽ và dứt khoát về tranh chấp Biển Đông. Ông đánh giá như thế nào về các động thái mới này?
Trước sự thách đố cố tình của Trung Quốc đối với Mỹ để hù dọa các nước khác trong khu vực, Mỹ đã nhiều lần tuyên bố công khai là họ muốn Trung Quốc trở thành một cường quốc có trách nhiệm.
Nhưng việc Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là khu vực “lợi ích cốt lõi” và việc sử dụng những chiến thuyền từ cả ba hạm đội để diễn tập tại khu vực gần quần đảo Trường Sa là những giọt nước tràn ly.
Mỹ không thể nhân nhượng mãi vì như thế sẽ làm cho Mỹ mất uy tín không những ở Châu Á Thái Bình Dương mà còn nhiều nơi khác nữa. Trung Quốc được thể sẽ tiếp tục nói là Mỹ chỉ là “con hổ giấy.”
Do đó, ngày 5/6/2010, tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La họp ở Singapore, trước sự hiện diện của nhiều nhân vật từ gần 30 quốc gia, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã chỉ trích Trung Quốc trực diện (tuy không nói tên) là Mỹ “phản đối mọi hành động hù dọa đối với các công ty Mỹ hoặc bất cứ nước nào đang hoạt động kinh tế chính đáng” ở khu vực Biển Đông. Ông Gates nhắc lại vài lần là cần phải có các đối thoại và cố gắng đa phương để giải quyết các tranh chấp trong khu vực Biển Đông một cách hòa bình và trong khuôn khổ luật quốc tế.
Tại cuộc họp cấp ngoại trưởng cuối tháng 7 tại Hà Nội, bà Hillary Clinton đã khẳng định Mỹ có “quyền lợi quốc gia” trong việc tự do lưu thông hàng hải và hàng không và hứa sẽ giúp điều phối các thương lượng giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.
Trước đó bà đã phát biểu tại cuộc họp các ngoại trưởng nói trên là vấn đề tranh chấp trong khu vực biển chiến lược này là một “ưu tiên ngoại giao hàng đầu” (“leading diplomatic priority). Nhưng giờ đây, nó đã trở thành một vấn đề “an ninh mấu chốt cho khu vực” (“pivotal to regional security).
Trước sự đe dọa và đòi hỏi phi lý của Trung Quốc, trong những tháng qua, Hoa Kỳ đã có bước chuyển chính sách đối phó với Trung Quốc. Có thể nói, đây là một thắng lợi lớn về ngoại giao của ASEAN.
“Trung Quốc chỉ có thể quậy Biển Đông nổi sóng thời gian ngắn”
Tuy nhiên, người ta có cảm giác, chính sự can dự lớn hơn của các nước lớn với vấn đề Biển Đông dường như lại đang đẩy tình hình thêm căng thẳng, khi Trung Quốc tiến hành tập trận ở Biển Đông, và báo chí nước này đồng loạt lên tiếng chỉ trích Mỹ và các nước nhỏ trong khu vực đã lôi kéo sự can dự của Mỹ. Bình luận của ông?
Việc Trung Quốc gây thêm căng thẳng qua những tuyên bố hiếu chiến và qua các tập trận gần đây trong một vùng mà Trung Quốc chưa bao giờ có ảnh hưởng gì trong lịch sử lại càng chứng minh cho thế giới biết là nước này ngang ngược và bất chấp sự thật cũng như an ninh chung.
Do đó, tôi nghĩ Trung Quốc càng hùng hổ thì sẽ càng cho các nước khác trong khu vực và trên thế giới thấy rõ thêm ý đồ bành trướng của Trung Quốc cũng như việc đe dọa an ninh đối với khu vực và thế giới.
Theo ông, khả năng Trung Quốc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Biển Đông như nhận định của một số chuyên gia quân sự Bắc Kinh có thể xảy ra hay không?
Nếu Trung Quốc là một nước lớn có trách nhiệm thì tôi thiết tưởng Trung Quốc sẽ không muốn sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Biển Đông vì việc dùng vũ lực không những không giải quyết được gì cả mà sẽ gây phản ứng của nhiều nước khác trong khu vực cũng như trên các nơi khác trên thế giới. Trong trường hợp này, Trung Quốc có thể sẽ bị cô lập một lần nữa.
Việc Mỹ giúp Trung Quốc mở cửa đến với thế giới đã giúp cho Trung Quốc lớn mạnh như ngày nay. Nhưng đằng khác, với nhiều vũ khí tối tân và hùng hậu như hiện nay nhưng với tinh thần thiếu trách nhiệm thì Trung Quốc cũng có thể như một đứa trẻ đang lớn lên: càng có nhiều đồ chơi thì càng chơi ẩu tả. Trong trường hợp nầy thì người lớn phải có trách nhiệm với đứa trẻ ấy.
Những động thái mới này ảnh hưởng như thế nào đến tình hình ở Biển Đông?
Cùng lắm thì Trung Quốc cũng chỉ có thể quậy Biển Đông nổi sóng lên một thời gian ngắn thôi. Nhưng Trung Quốc sẽ phải đấu dịu sau đó, nếu không thì khó có thể ai chơi với Trung Quốc được.
Thêm vào đó là an ninh trên khu vực Biển Đông là có lợi cho Trung Quốc về xa về dài.
ASEAN không cần đoàn kết 100% mới được thế giới ủng hộ
Năm ngoái, Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn cản không đưa vấn để Biển Đông ra bàn thảo tại Hội nghị cấp cao ASEAN. Năm nay thì ngược với mọi nỗ lực của họ, ASEAN đã thể hiện một quan điểm chung. Liệu đã có thể hi vọng vào một ASEAN, vốn đã bị chia 5 xẻ 7 đoàn kết hơn trong việc đối phó với các thách thức an ninh khu vực?
Trước hết, trong bối cảnh hiện nay các nước trong khu vực đang trên đà thắng thế và Trung Quốc, nếu tiếp tục với những động thái mang tính nạt nộ hiện nay, thì sẽ càng ngày càng yếm thế.
ASEAN hiện nay đang thể hiện một quan điểm chung về an ninh trên Biển Đông và trong khu vực và quan điểm chung này đã được hầu hết các nước lớn khác (ngoài Trung Quốc) ủng hộ. ASEAN không cần đoàn kết 100% mới được sự ủng hộ của các nước lớn và của thế giới. Chỉ cần một số nước lớn trong ASEAN vận động sự ủng hộ của thế giới là đủ.
Thời cơ hiếm có cho Việt Nam
Với những biến chuyển chính sách của các nước lớn và ASEAN thời gian qua, theo ông, đâu là lựa chọn ứng xử khôn ngoan cho Việt Nam?
Là nước có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực Biển Đông, tôi thiết nghĩ Việt Nam, dù là Chủ tịch ASEAN hay không, thì cũng có tiếng nói rất có trọng lượng nếu Việt Nam ứng xử đàng hoàng và cao thượng.
Không thể phủ nhận là Việt Nam đã có những cố gắng rất lớn, như công khai hóa vấn đề. Thứ nữa, Việt Nam đang xúc tiến mua thêm nhiều vũ khí, tàu ngầm, tàu chiến…

Giới lãnh đạo Việt Nam cũng lên tiếng mạnh mẽ tuyên bố sẽ bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của Tổ quốc… họ đã tỏ thái độ can đảm đặt vấn đề như vậy.
(GS Nguyễn Mạnh Hùng, ĐH George Mason (Hoa Kỳ)

Nếu Việt Nam không nối kết việc tranh chấp chủ quyền 2 quần đảo Trường Sa – Hoàng Sa với an ninh chung, trên biển cũng như trên đất liền, thì các nước khác có thể áp dụng chính sách “bánh còng”, để mặc cho Việt Nam đương đầu với Trung Quốc tranh chấp hai quần đảo nằm trong vòng lỗ của bánh còng trong khi họ cùng nhau bảo vệ an ninh hàng hải và hàng không trên các tuyến giao thông bên ngoài hai quần đảo đó. Trong trường hợp này thì Việt Nam sẽ bị cô độc và thiệt thòi rất lớn.
Nhưng một loạt các hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông, cũng như những diễn tiến mới vừa qua tại Hà Nội cho thấy chính phủ Việt Nam đang đi đúng hướng đấy chứ?
Đúng vậy. Đây là hướng đi cần được tiếp tục ủng hộ và khuyến khích. Việt Nam nên tiếp tục nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa cho thật sâu, thật kĩ để chứng minh cho thế giới thấy là mình có cơ sở như thế nào, ở chỗ nào, hầu vận động được sự ủng hộ của thế giới. Nhưng vấn đề quan trọng là gắn liền việc tranh chấp với việc đấu tranh cho an ninh của toàn khu vực, không phải chỉ là an ninh con người.
Và để giành được hậu thuẫn của thế giới bên ngoài, Việt Nam cũng nên củng cố hậu thuẫn của nhân dân trong nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn nhiều lần.
Bối cảnh hiện nay tạo cho Việt Nam một thời cơ hiếm có để làm tốt hai việc này và, qua đó, để đưa đất nước và dân tộc tiến đến một tương lai sáng lạng.
http://tuanvietnam.net/2010-08-05-dung-bien-phap-quan-su-trung-quoc-se-tu-co-lap-minh

_______
09/08/2010
Khuấy động dậy sóng Biển Đông

The Japan Times

Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), cơ chế an ninh khu vực duy nhất của châu Á, thường bị chế giễu là diễn đàn “chỉ giỏi nói”, vì đó là nơi những nhà ngoại giao tụ họp thảo luận những quan ngại về an ninh chứ chưa bao giờ thực sự làm được điều gì cho an ninh cả. Tại hội nghị thường niên các ngoại trưởng ASEAN năm nay, nhóm họp hồi cuối tháng rồi tại Hà Nội, có nhiều tiếng nói đã gióng lên đủ mạnh để tạo ra một cuộc khuấy động đáng kể. Bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton lên tiếng khẳng định quyền lợi của Hoa Kỳ tại khu vực Biển Đồng, và kêu gọi cho giải pháp giải quyết những tranh chấp lãnh hải ở đây. Lời phát biểu của bà Clinton đã được diễn dịch như một thách thức đối đầu với Trung Quốc. Thái độ sẵn sàng nhìn thấy một sự lăng mạ của Bắc Kinh đang bộc lộ ra não trạng của nó.

Biển Đông là một trong những vùng biển chiến lược trên thế giới.

Một phần ba tải trọng hàng hải của thế giới lưu chuyển qua vùng biển này, khiến nó trở thành hải lộ bận rộn thứ nhì trên thế giới. Nhật Bản và những quốc gia lân bang Đông Nam Á đều phụ thuộc vào sự lưu chuyển hàng hóa ngang qua vùng biển này. Có khoảng 500 triệu nhân mạng phụ thuộc vào vùng biển này để tìm nguồn lương thực và phương kế mưu sinh. Bên cạnh là một vùng biển có ngư trường phong phú, nó còn được cho là có nguồn trữ lượng dầu hỏa và khí thiên nhiên khổng lồ ở dưới đáy.

Chính những nguồn tài nguyên phong phú này đã phần nào gây nên những tranh chấp giành giật chủ quyền đối với những hải đảo nằm rải rác trên Biển Đông. Sáu quốc gia – Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipines và Việt Nam – đều đã có tuyên bố phần sở hữu. Trung Quốc và Việt Nam đã nhiều lần đụng độ nhau để giành chủ quyền quần đảo Trường Sa; trận chiến năm 1988 đã cướp đi hơn 70 sinh mạng của Việt Nam. Những bên đối địch đã cho xây dựng nhiều cơ sở trên những khu vực họ kiểm soát – những “chòi lá của ngư dân” trông rất giống những cơ sở quân sự. Nhu cầu bảo vệ những nơi chiếm giữ đã thúc đẩy hình thành những chính sách quốc phòng bảo vệ thành quả thu được giữa các quốc gia tranh chấp và rất dễ dàng nhận thấy rõ nó giống như một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Những bên đối địch lên tiếng tuyên bố những tranh chấp của mình đã gần hai thập kỷ nay. Vào năm 2002, Trung Quốc và những thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã ký kết một bản Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử cho vấn đề Biển Đông, ràng buộc các bên ký kết không nên có những hành động làm tình hình thêm căng thẳng và nên tìm cách giải quyết trong hòa bình. Thật đáng lưu ý là, thỏa thuận năm 2002 không phải là bản quy tắc hành xử, tuy vậy, bản tài liệu này kêu gọi các bên ký kết nên cố gắng chuyển nó thành bản nguyên tắc ứng xử. Giữa “bản tuyên bố” và bản nguyên tắc ứng xử tồn tại một lỗ hổng; do vậy chính phủ mỗi bên đã nỗ lực bằng nhiều cách khác nhau đưa ra tuyên bố chủ quyền riêng của mình đối với những khu vực biển đảo khác nhau.

Trong khi đã có nhiều những tuyên bố chủ quyền và thậm chí một số lại chồng lấp lên nhau, Trung Quốc vẫn muốn đàm phán song phương hơn là đa phương. Điều đó thật dễ hiểu: với cách dàn xếp song phương, Trung Quốc dễ dàng chế ngự đối tác đàm phán của mình. Trong khi các quốc gia ASEAN thấy rõ nhu cầu cần kết hợp với nhau thành như một để làm đối trọng đối với Trung Quốc, cám dỗ muốn tách ra riêng để đánh quả đơn lẽ có lợi hơn đã thắng thế áp đảo – và trên thực tế đã chứng tỏ thất bại.

Hoa Kỳ đã duy trì thái độ không “nhúng tay vào” suốt một thời gian khá dài, và chỉ tái xác định quyền tự do thông thương của mình trong vùng mà không ngã về bên nào giữa các bên tranh chấp (mặc dù thực tế Hoa Kỳ có Philipines là đồng minh có nghĩa là nếu lãnh thổ của Philipines bị xâm phạm hay chiếm đóng thì Hoa Kỳ sẽ can thiệp). Lập trường có vẻ như không can thiệp đó thực sự chấm dứt khi bà Ngoại trưởng Hillary Clinton nhắc lại rằng “Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia tự do thông thương, đi vào những vùng hải phận chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế tại vùng biển Biển Đông”. Gọi đích danh việc tìm giải pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ trong vùng là “ưu tiên ngoại giao hàng đầu,” Bà Clinton lên tiếng đề nghị trợ giúp tìm giải pháp cho vấn đề tranh chấp mà đã tồn tại một thời gian khá dài.

Có nhiều cách lý giải cho sự thay đổi trong quan điểm của Hoa Kỳ. Trung Quốc đã từ lâu tuyên bố chủ quyền toàn bộ vùng biển này: Nhiều bản đồ Trung Quốc chỉ định vùng biển này như cái “ao làng” của Trung Quốc. Trung Quốc đã tỏ ra hung hãn trong nỗ lực muốn kiểm soát toàn bộ khu vực, khuấy rối những tàu khảo sát của Hoa Kỳ hoạt động trên vùng biển thuộc hải phận quốc tế. Từ đầu năm nay, Trung Quốc nhiều lần khẳng định Biển Đông là một trong số những vùng “lợi ích cố lõi” của họ; và điều này đã thúc đẩy Hoa Kỳ tái khẳng định quyền lợi riêng của mình. Những công ty Hoa Kỳ được báo cáo là bị Bắc Kinh đe dọa vì hợp tác khai thác khoáng sản với đối thủ của nó trong khu vực.

Quan điểm mới này là một thắng lợi đối với Việt Nam, một trong những quốc gia đứng mũi chống lại Trung Quốc. Mười quốc gia tham gia diễn đàn ARF khác cũng lên tiếng ủng hộ những phát biểu của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton.

Sự kiện này đã khiến Trung Quốc nổi giận. Ngoại trưởng Trung Quốc ông Dương Khiết Trì gọi những phát biểu của bà Clinton là nhằm “tấn công” chống Trung Quốc. Sự kiện 12 quốc gia cùng có chung một lập trường chống lại Trung Quốc như vậy đã góp sức tạo nên cái quan điểm của Bắc Kinh cho rằng cuộc tấn công ngoại giao đó đã được dự tính trước.

Thái độ biện bach chống chế đó bộc lộ ra nhiều điều. Nếu Trung Quốc thực lòng muốn giải quyết vụ tranh chấp này trên tinh thần hòa bình và công minh, thì nó nên hoan nghênh vai trò trung gian của quốc tế và sự trợ giúp từ một quốc gia như Hoa Kỳ, quốc gia không hưởng được lợi ích trực tiếp nào từ kết quả giải quyết tranh chấp. Nếu Washington bị xem là có ý đồ xấu, thì những quốc gia tranh chấp nên rất thể hiện đồng thuận với một trọng tài trung lập nào đó mà có thể giúp mình đạt được một giải pháp khả dĩ chấp nhận được cho tất cả các bên. Một thỏa thuận như thế sẽ củng cố luật pháp quốc tế liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, thiết dựng niềm tin giữa các bên tranh chấp và làm giảm căng thẳng. Có lẽ phải mất một thời gian dài để Trung Quốc có thể phô diễn niềm tin hữu hảo của mình đối với các quốc gia lân bang. Quả thật rất khó lý giải được lý do tại sao Trung Quốc lại chống đối một giải pháp như thế.

Hồ Kim Sơn dịch

Dịch từ: Japantimes
http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/khuay-ong-day-song-bien-ong.html#more

_______
09/08/2010
Trung Quốc đẩy mạnh kế hoạch khai thác Hoàng Sa bất chấp phản đối của Việt Nam

Trọng Nghĩa

Trung Quốc đã mở rộng cảng trên đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc Hoàng Sa (Google Earth)

Hoàng Sa tiếp tục là một điểm nóng trong quan hệ Việt Trung. Vào hôm qua, 06/08/2010, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc một lần nữa xác định “chủ quyền không thể chối cãi” của Trung Quốc đối với khu vực “quần đảo Tây Sa và vùng biển xung quanh”. Tây Sa là tên được Bắc Kinh sử dụng để chỉ quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp với Việt Nam.

Bắc Kinh đưa ra tuyên bố này nhằm bác bỏ lời tố cáo của Việt Nam về những hoạt động dồn dập của Trung Quốc từ hơn hai tháng nay tại vùng Hoàng Sa nhằm khai thác vùng biển đảo mà họ đã chiếm của Việt Nam từ năm 1974. Ngày 05/08 vừa qua, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng tố cáo việc Trung Quốc cho tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, đồng thời cho san lấp và mở rộng hòn đảo này. Tri Tôn là hòn đảo có tên quốc tế là Triton Island, tiếng Hoa gọi là Trung Kiến đảo.

Bộ Ngoại giao Việt Nam ghi nhận nguyên văn như sau: “Từ cuối tháng 5 năm 2010 đến nay, phía Trung Quốc đã sử dụng tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90 – 116 hải lý. Phía Trung Quốc còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn với mục đích xây dựng công trình trên đảo này”.

Đối với phía Việt Nam, “Những việc làm trên… đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý theo các quy định của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982”, trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông…”.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tố cáo thái độ thiếu hợp tác của Bắc Kinh trên vấn đề này khi cho biết là bất chấp các phản đối chính thức từ phía Hà Nội, “đến nay phía Trung Quốc vẫn tiếp tục triển khai các hoạt động nói trên”. Việt Nam đồng thời xác định trở lại chủ quyền của mình tại Biển Đông và yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt các hành động “vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông…”.

Áp đặt chủ quyền: Trung Quốc tiến thêm một bước

Theo giới quan sát, như vậy là Trung Quốc đã tiến thêm một bước nữa trong việc áp đặt chủ quyền của họ trên một khu vực mà họ đã dùng vũ lực chiếm đóng. Việc cho thăm dò dầu khí tại vùng còn đang tranh chấp đã nối tiếp theo một loạt những quyết định khác về mặt hành chánh, quân sự và kinh tế mà mục tiêu là nhằm thiết lập một “sự đã rồi”.

Về mặt hành chính, Quần đảo Hoàng Sa được Trung Quốc biến thành một phần của tỉnh Hải Nam, nằm trong cùng một đơn vị cấp gọi là “biện sự xứ”, bao gồm cả ba quần đảo “Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (tức Trường Sa) và Trung Sa”. Ngay từ năm 1997, họ cho tiến hành kế hoạch phát triển ngành du lịch, đưa du khách đến quần đảo này. Mới đây Ủy ban Cải cách và Phát triển Nhà nước Trung Quốc đã thông qua một bản «Cương yếu Quy hoạch xây dựng và phát triển đảo du lịch quốc tế Hải Nam 2010-2020», khiến cho phía Việt Nam phải lên tiếng phản đối vào ngày 25/06/2010.

Để củng cố sự hiện diện tại Hoàng Sa, Trung Quốc liên tiếp cho xây dựng những công trình kiên cố trên một số hòn đảo, cụ thể là mở rộng những cảng nhỏ ở đảo Phú Lâm (Woody Island) và đảo Quang Ánh (Money Island). Trên đảo Phú lâm, hòn đảo lớn nhất của Hoàng Sa, Trung Quốc đã cho xây dựng một sân bay với phi đạo dài hơn 1000 m.

Đối với Trung Quốc, Hoàng Sa có một vị trí rất quan trọng. Đây là một ngư trường đánh cá rất dồi dào, lại có vùng nước sâu thuận tiện cho tàu ngầm quân sự ra thẳng Biển Đông. Về kinh tế, ngoài tiềm năng du lịch, vùng biển Hoàng Sa còn được cho là có trữ lượng dầu khí phong phú.

Bên cạnh đó, vị trí sát cạnh Việt Nam là một yếu tố chiến lược quý giá đối với Trung Quốc. Nếu chính thức giành được chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc có thể giành luôn quyền kiểm soát vùng biển lân cận và mặc nhiên khóa được các tuyến thông thương hàng hải của Việt Nam.

Chính vì các lý do kể trên mà Việt Nam kiên quyết bác bỏ các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc, trong lúc Bắc Kinh thì sẵn sàng dùng các biện pháp mạnh để buộc Hà Nội chấp nhận yêu sách của họ.

TN

Nguồn: RFI
http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/trung-quoc-ay-manh-ke-hoach-khai-thac.html#more

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: