Hoàngquang’s Blog

04/08/2010

Phía sau những dự án “tỷ đô” đầu voi đuôi chuột

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 3:55 sáng
Tags:

Cập nhật lúc: 7/29/2010 7:48:46 PM (GMT+7)
Phạm Huyền
&Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam-David Koh – Nguyên Hân lược dịch
**
(VNR500) – Nếu như năm 2006-2008, những dự án FDI tỷ USD “ồ ạt” vào Việt Nam, gây phát sốt dư luận thì nay, không ít dự án trong số đó lại đang bên bờ vực “phá sản”. Kiểu đầu tư đầu voi đuôi chuột này sẽ còn tiếp diễn, nếu như chính quyền địa phương và các cấp quản lý không mạnh tay nghiêm minh.
Kẻ tháo lui, người vòi vĩnh
3 năm về trước, mỗi khi gặp báo chí, ông Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài thường vui vẻ báo tin mừng: “Lại có thêm dự án tỷ USD sắp sửa vào Việt Nam”. Khi đó, những “dự án 500 triệu – 1 tỷ USD” rất thu hút sự chú ý của dư luận vì… lần đầu tiên có qui mô đầu tư ấy ở Việt Nam. Ví dụ dự án thép Tycoons của Quảng Ngãi, dự án Foxconn ở Bắc Ninh…

Thế rồi, không chỉ là 1 tỷ USD mà là 3 tỷ, 5 tỷ và thậm chí là 11 tỷ USD, những con số qui mô vốn khổng lồ liên tục được các địa phương “xướng” lên trong 3 năm qua, nhiều đến mức… nhàm tai. Và chuyện các siêu dự án đến Việt Nam bỗng thành chuyện bình thường.
Từ đầu năm đến nay, chuyện dự án tỷ USD lại làm nóng dư luận nhưng là theo luồng chảy… ngược. Không phải là những cuộc đàm phán để “sắp sửa” vào Việt Nam mà là, những cuộc thương lượng nhùng nhằng giữa chủ đầu tư và chính quyền địa phương để xin gia hạn, kéo dài tiến độ, đòi ưu đãi trong khi, thực tế công trường dự án chưa có gì.
Hồi tháng 3-4, tỉnh Quảng Nam tuyên bố, dứt khoát sẽ rút giấy phép dự án Bãi Biển Rồng 4,15 tỷ USD do nhà đầu tư Mỹ không nộp đủ tiền ký Quĩ.
Tháng 6, ông Vụ phó Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương cho hay, chủ đầu tư Malaysia ở dự án thép Cà Ná 9,8 tỷ USD ở Ninh Thuận “bỗng” biến mất khỏi Việt Nam. Tỉnh Ninh Thuận liên lạc về Malaysia, nhưng nhà đầu tư cũng bặt vô âm tín và giờ đây, tỉnh này đang đôn đáo tìm nhà đầu tư mới để “lấp chỗ trống” cho dự án này sau khi rút phép.
Và đầu tháng 7, trong khi, tỉnh Hà Tĩnh đang chật vật để di dời, tái định cư cho hàng nghìn hộ dân của 5 xã để giao đất sạch cho siêu dự án thép 16 tỷ USD của Formosa- Đài Loan thì Formosa lại xin Thủ tướng miễn hạn mức tín dụng, miến thuế nhập khẩu, thuế nhà thầu… Đồng thời, nhà đầu tư cũng không quên “nhấn mạnh” rằng: Nếu không được hỗ trợ, miễn hạn mức tín dụng thì dự án sẽ không thể thực hiện được vì thiếu vốn!
Gần đây nhất, dự án thép Guang Lian Dung Quất sau 4 lần đổi giấy chứng nhận đầu tư, trao qua đổi lại cổ phần, giờ lại bày vẽ chuyện tăng vốn, tăng công suất, tăng diện tích đất và kéo theo, tăng… tiến độ lên 4 năm nữa.
Với tóm lược trên, không khó để nhận ra rằng, nhiều dự án FDI hoành tráng của Việt Nam đang thực sự có vấn đề. Có thể sau một cuộc khủng hoảng kinh tế thì giờ đây, các dự án khổng lồ của Việt Nam đã bắt đầu “ngấm đòn”. Đây cũng là lý do thông dụng nhất mà 100% nhà đầu tư giải thích cho khả năng tài chính yếu kém của mình.
Song cũng có thể, sự yếu kém ấy bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan của phía nhà đầu tư, nhưng không được ai kiểm chứng, hay chính xác hơn, các cơ quan quản lý Việt Nam khó lòng mà kiểm chứng nổi.
Cái giá của cuộc chạy đua thành tích FDI
FDI đến nay vẫn được coi như một chỉ số đẹp trong báo cáo thành tích phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Do đó, các địa phương cũng thật khó tránh khỏi tâm lý muốn thu hút số vốn FDI thật nhiều, để tỉnh thật nổi trội trong khu vực, vẽ nên một bức tranh về một môi trường đầu tư hấp dẫn tiềm năng.
Có những tỉnh như Ninh Thuận, chỉ cần 1 dự án vốn tới 9,8 tỷ USD, bỗng dưng từ thứ hạng cuối cùng, vô danh trong lĩnh vực thu hút FDI, đã lọt vào top 10 các tỉnh thu hút nhiều vốn FDI nhất.
Với những ý nghĩa chính trị ấy, chuyện cấp phép FDI một thời giống như cuộc chạy đua thành tích giữa các địa phương, bất chấp qui hoạch ngành, qui hoạch vùng. Bởi ở Việt Nam, lại có lệ, dự án ngoài qui hoạch sẽ có tới 90% cơ hội là xin bổ sung… vào qui hoạch.
Ông Lê Trí Thanh, Trưởng Ban xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Nam cũng phải thừa nhận rằng, cuộc chạy đua ấy còn dẫm đạp lên nhau, gây tổn hại cho chính địa phương và làm xấu đi hình ảnh quốc gia. Thu hút FDI vội vàng và đến lúc, nhà đầu tư rút lui thì nào có đẹp đẽ gì?
Trở lại câu chuyện năng lực nhà đầu tư, ông Thanh bày tỏ, cán bộ địa phương hiểu biết về quy định đầu tư trong WTO không phải là nhiều. Số ngày cấp phép bị khống chế, nếu tự thẩm định không nổi, mà gửi văn bản hỏi bộ ngành thì vô cùng mất thời gian.
“Khi bộ không trả lời sớm thì đến hạn là… buộc lòng cấp phép, mà cấp phép nhanh thì… không chuẩn. Đó là một mớ bòng bong”, ông nói.
Theo Luật Đầu tư, nhà đầu tư tự kê khai năng lực tài chính, tự chịu trách nhiệm về kê khai đó và cán bộ sở KHĐT không được phép đòi hỏi thêm thủ tục nào khác.
Tuy nhiên, những ràng buộc về chi phí thuê đất, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, chi phí ký quĩ là tự mỗi địa phương thỏa thuận. Qua việc nhà đầu tư có làm đúng thỏa thuận này hay không sẽ biết ngay, năng lực tài chính của nhà đầu tư đến đâu.
Lấn cấn chuyện rút phép dự án

Lý thuyết là thế, song, việc rút các dự án cho đến nay ở các tỉnh mới chỉ “nói miệng”. Sự lấn cấn này phản ánh nhiều điều.
Như ông Thanh chia sẻ, đó còn là truyền thống còn nặng tình của người Á Đông. Ví dụ, nhà đầu tư Bãi Biển Rồng đang xin ân hạn đến tháng 9/2010, sẽ nộp đủ 200 triệu USD tiền ký quĩ cho địa phương.
Ông tâm sự: “Thời gian chẳng còn bao lâu, mình có rút phép ngay bây giờ cũng không giải quyết được gì. Chi bằng, chờ xem, họ có thực hiện được cam kết ấy hay không. Nếu không, rút phép dự án này cũng không muộn”.
Trong một lần trao đổi về dự án thép Cà Ná, ông Giám đốc Sở Công Thương Ninh Thuận cũng thẳng thắn, rút phép là chắc chắn và không khó, nhưng dự án đã thành lập, mặt bằng đã được quy hoạch rồi, di dời, giải phóng mặt bằng thì phải tìm được người thế chân rồi mới ra quyết định thu hồi giấy phép cũ và cấp lại giấy phép mới cho nhà đầu tư. Như thế là hợp lý nhất.
Luật của ta qui định rằng, sau 12 tháng kể từ khi cấp phép, nếu điều kiện khởi công đã đầy đủ mà nhà đầu tư không khởi công, mới bị rút phép.
Còn thực tế ở Việt Nam, bề ngoài là dự án chậm tiến độ, chậm giải ngân, đầu voi đuột chuột đấy, nhưng có dự án thì lỗi là của mình, thời hạn khởi công đã quá 12 tháng mà địa phương không bàn giao mặt bằng xong, đường đi lối lại, điện nước chưa cung cấp vào cho khu dự án thì làm sao có cớ rút phép.
“Mình không tính vo trên giấy tờ được”, ông Thanh nhấn mạnh.

Và mới đây, giải trình về việc dự án thép Guang Lian chậm tiến độ và những đòi hỏi xin điều chỉnh tăng vốn, tăng công suất dự án của Guang Lian, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi đã bày tỏ lo ngại, nếu không đáp ứng thì.. sẽ ảnh hưởng tới môi trường đầu tư của tỉnh?!
Căn bệnh chạy đua thành tích nếu không có bàn tay của Trung ương với những qui định chặt chẽ, qui hoạch rõ ràng, nghiêm minh thì sẽ thật khó trị dứt điểm.
Có lẽ, đó là vai trò của Bộ KHĐT. Chỉ tiếc rằng, chưa bao giờ, Bộ này trực tiếp thổi còi dự án khổng lồ nào, ngoài dự án thép Posco định vào khu vực vịnh Vân Phong, trước sức ép dư luận, khâu xin chủ trương đã bị chối từ.Và kết quả nhiều cuộc tổng rà soát chất lượng các dự án FDI đã thực hiện của Bộ này thì luôn nằm trong vòng… bí mật.
Với những nhà đầu tư thích con số tỷ USD nhưng tài chính yếu kém, sẽ có ai đảm bảo rằng, khi di dời hàng ngàn hộ dân xong, mà nhà đầu tư thoái thác và rút lui thì hậu quả sẽ nặng nề thế nào?
http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=851
_______

Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

David Koh – Nguyên Hân lược dịch

DCVOnline: Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam là một gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam. Khoảng chừng 60 đến 70 phần trăm vốn liếng, tài sản của cả nước đổ vào cho doanh nghiệp nhà nước, nhưng gần một nữa các công ty nhà nước đang bị lỗ lã. Bất chấp Tập đoàn Than và Khoáng sản để cả triệu tấn than chui lậu qua biên giới, Tổng Công ty Điện lực vẫn đang bất lực cung cấp điện cho toàn quốc sau khi hút một số tiền đầu tư kếch xù của nhà nước, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin vỡ nợ lên tới gần 4 tỉ 3 đô-la… đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chờ nước đến lưng mới nhảy, cũng chỉ bởi Đề cương Chính trị của Đảng đã quyết “doanh nghiệp nhà nước là đầu tàu cho nền kinh tế cả nước.”

DCVOnline trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi bài phân tích của tác giả David Koh, và hai điều ông gợi ý để giải quyết vấn nạn doanh nghiệp nhà nước ở cuối bài là điều đáng để suy gẫm.

Vinashin, một tập đoàn công nghiệp tàu thủy do nhà nước Việt Nam làm chủ, đã được lệnh cải tổ, tái cấu trúc. Lệnh ban hành hôm 1 tháng Bảy cho phép Vinashin được giữ lại lãnh vực công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, nhưng bắt buộc Vinashin phải bỏ một số hoạt động không nằm trong lãnh vực chính của tập đoàn và bị thua lỗ.

Sự tái cấu trúc này nhằm chuyển một số hoạt động thương mãi – cũng như nợ nần – hơn cả 1 tỉ đô-la qua những công ty khác của nhà nước chẳng hạn như Tổng cục Dầu khí (Petrol Vietnam) và công ty Vanalines, một công ty chuyên vận chuyển đường biển.

Vấn đề tài chính của Vinashin, bao gồm một số tiền nợ kếch xù 4 tỉ 2 đô-la, so với tổng giá trị tài sản của công ty khoảng 4 tỉ 7 đô-la, đã làm sốc những nhà hoạch định chính sách.

Thoạt kỳ thủy là một công ty chuyên đóng và sửa chữa tàu, Vinashin đã lợi dụng thời cơ được rút vốn từ ngân qũy nhà nước một cách dễ dàng trong bốn năm qua để trở thành một tập đoàn làm ăn trong nhiều lãnh vực khác nhau. Ngay cả nhà nước cũng phát hành trái phiếu (với giá trị 750 triệu đô-la) và cho không tập đoàn Vinashin rất nhiều đất đai ở nhiều tỉnh để tài trợ cho kế hoạch phát triển của Vinashin. Nhưng lãnh vực làm ăn chính của Vinashin bị ảnh hưởng trầm trọng khi khủng hoảng kinh tế toàn cập ập đến. Hơn 160 hợp đồng bị hủy và tập đoàn mất khoảng 5 đến 6 tỉ đô-la.

Một cơ xưởng thô sơ ở một nhà máy đóng tàu thuộc Vinashin. Khi vốn đầu tư cần được đổ vào hạ tầng cơ sở sản xuất và huấn luyện công nhân, thì ngược lại Vinashin đi mua đất xây sân gôn!.Nguồn hình: DCVOnline.net

Mặc dù khó cho Vinashin đi đến chuyện phá sản, nhưng trường hợp này cho thấy nhiều bài học quan trọng. Thực ra, thời gian tính của việc tái cấu trúc tập đoàn Vinashin có thể chứng minh đây là một sự thay đổi trò chơi. Bởi, Vinashin chỉ là một trong một loạt tập đoàn kinh tế nhà nước đã và đang bị thất bại.

Thế nhưng bản dự thảo cương lĩnh chính sách vừa được xét duyệt của Đảng Cộng sản, Đề cương Chính trị, vẫn xác định doanh nghiệp nhà nước là bộ phận đầu tàu cho nền kinh tế Việt Nam. Rõ ràng, Đảng Cộng sản phải làm thế nào để điều hòa cho hợp lý, giữa cái thực tế doanh nghiệp nhà nước đang đi xuống hố và cái tuyên ngôn mang tính học thuyết “doanh nghiệp nhà nước là bộ phận đầu tàu cho nền kinh tế” của họ.

Trong 20 năm qua, nhà nước giảm “bàn tay ma” của mình trong các doanh nghiệp nhà nước qua một quy trình gọi là cổ phần hoá, làm giảm tính làm chủ của nhà nước bằng cách bán cổ phần cho nhân viên. Tổng cộng 3.400 doanh nghiệp đã được cổ phần hóa chiếm khoảng 19 phần trăm của tổng số doanh nghiệp nhà nước. Khoảng 1.500 doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn đang còn hoạt động và nhà nước kiểm soát 81 phần trăm trong số này.

Vào cuối thập niên 1990, nhà nước quyết định một số doanh nghiệp này hoặc cập nhập, cải tổ lại hoặc kết hợp với những doanh nghiệp khác, với ngân qũy thêm vào do nhà nước cung cấp, để trở thành những tập đoàn. Ý định cho chuyện này là tạo nên những công ty nội địa có khả năng cạnh tranh toàn cầu và tránh sự thống trị nền kinh tế từ các công ty đa quốc gia lớn (MNC).

Không may, những tập đoàn của nhà nước cộng sản Việt Nam dàn dựng đã không thành công. Một số thất bại ngay cả trong những công việc căn bản nhất, chẳng hạn cung cấp điện năng cho thích ứng với nhu cầu đòi hỏi.

Những người chỉ trích cái giả thuyết “doanh nghiệp nhà nước là bộ phận đầu tàu nền kinh tế” đang kêu gọi sự thay đổi Đề cương Chính trị của đảng trước khi điều này trở thành chính sách chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam. Một khi được thông qua, điều này sẽ không thay đổi trong vòng 10 hay 20 năm tới. Cái Đề cương Chính trị hiện tại ra đời năm 1991.

Một số những người chỉ trích tin rằng nhà nước không nên thò tay vào chuyện kinh doanh, những người khác thì tin rằng nhà nước làm chủ doanh nhiệm không hẳn là xấu, những chỉ bởi quản trị tồi.

Thế nhưng, những tay lý thuyết gia của đảng thì đang bị trói gô lại với cái nan đề rằng, nếu hệ tư tưởng của nhà nước cộng sản Việt Nam là xã hội chủ nghĩa, thì chuyện nhà nước làm chủ phải là điều có thật, và cần thiết; và nhà nước phải có một vai trò tiên phuông trong sản xuất.

Một phần của cái gọi là “doanh nghiệp nhà nước là bộ phần đầu tàu của nền kinh tế” cũng có nghĩa là doanh nghiệp nhà nước sẽ nhận sự hậu thuẩn lớn lao nhất từ phía nhà nước. Tiền vay sẽ tiếp tục được nhà nước và những cơ quan, ban ngành liên hệ với nhà nước đổ vào, và lãnh vực doanh nghiệp tư nhân, cả trong nước cũng như ngoại quốc, sẽ tiếp tục công nhận doanh nghiệp nhà nước không thể thất bại.

Thế nhưng, doanh nghiệp nhà nước làm ăn vẫn bết bát, đi từ thất bại này qua thất bại khác nếu so sánh với lãnh vực doanh nghiệp tư nhân của trong nước cũng như ngoại quốc.

Dễ dàng trong việc rút vốn công từ nhà nước đã đưa đến sự cẩu thả, tất trách và tình trạng kiểm soát công ty nghèo nàn, tồi tệ.

Trong trường hợp tập đoàn Vinashin, nhà nước nhận thấy lãnh đạo tập đoàn đã bưng bít những cuộc chuyển ngân quan trọng, bao gồm việc mua tàu cũ nát, cũng như đầu tư vào những lãnh vực không dính dáng gì đến chuyện làm ăn chính của tập đoàn. Các chuyên gia còn ghi nhận là hiệu qủa đầu tư vốn làm ăn ở Việt Nam chỉ bằng một nữa các nước khác trong vùng Đông Nam Á châu.

Nhà nước cũng đã thừa nhận là họ thiếu sự giám sát đúng đắn. Điều đó chắc chắn sẽ làm cho các nhà đầu tư có tiềm năng ngồi thẳng lưng lên và ghi nhận. Chuyện báo cáo ma, dối trá thường thấy trong lãnh vực doanh nghiệp nhà nước đến mức độ nào? Vinashin là công ty duy nhất phạm lỗi gian dối này chăng?

Viên chức nhà nước cũng đã biểu thị cho thấy sự tiếp tục xét duyệt những tập đoàn khác là điều khả thể, có lẽ được bắt đầu với Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN).

Hôm tháng Sáu, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam bị chỉ trích dữ dội sau khi Hà Nội bị mất điện kéo dài và xảy ra hằng ngày, mặc dù công ty này đã nhận một ngân qũy khổng lồ của nhà nước để giải quyết chuyện thiếu điện.

Để tránh những sai lầm này có thể xảy ra trong tương lai, hai điều cần phải làm.

Điều đầu tiên là tái định nghĩa lại cái gọi là xã hội chủ nghĩa theo một phương cách nhằm cho phép thị trường được xác định sự phân phối nguồn đầu tư, tài nguyên trong những mảng hoạt động sản xuất. Liệu điều này có thể xảy ra?

Giờ chỉ còn sáu tháng nữa là đến ngày đại hội đảng, bất kỳ sự thay đổi lớn và đột ngột nào cũng khó có khả năng xảy ra. Điều khả dĩ có khả năng xảy ra là một sự thay đổi nhỏ trong Đề cương Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam; qua đó, doanh nghiệp nhà nước không còn là “bộ phận đầu tàu cho nền kinh tế quốc dân” nữa, mà chỉ đơn giản, doanh nghiệp nhà nước là “một trong những đầu tàu cho nền kinh tế quốc dân”. Lúc đó, nhà nước Cộng sản Việt Nam có thể định hướng chiến lược của mình cũng như thay đổi chức năng giám sát nhằm ngăn chận sự sụp đổ của doanh nghiệp thuộc nhà nước làm chủ và quản lý này.

Điều thứ nhì là cải thiện tính trách nhiệm trong lãnh vực doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước cũng nên nhất định bắt buộc các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước phải tập chú công sức, tiền bạc, năng lực của họ vào lãnh vực làm ăn chính của tập đoàn, hơn là nhắm đường đi tắt cho một sự phát triển ma, láo lường, dối trá để nhằm có được những con số thống kê “đẹp, đầy phấn khởi” đặng vẽ vời, tô son điểm phấn cho những báo cáo của họ.

© DCVOnline
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7653,

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: