Hoàngquang’s Blog

04/08/2010

‘Dân mới là chủ thể cơ bản ban hành Hiến pháp’

Filed under: Hiến pháp-Pháp Luật — hoangquang @ 4:41 sáng
Tags:

‘Dân mới là chủ thể cơ bản ban hành Hiến pháp’
Cập nhật lúc 07:58, Thứ Tư, 04/08/2010 (GMT+7)
+ Hiến pháp 1946: Nghĩ về quyền phúc quyết hiến pháp của dân

+Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền – Nguyễn Sĩ Dũng

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: Nếu chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều thì chỉ là làm thử chứ không làm thật

– “Không thể lập luận rằng trình độ dân trí chưa cao để tránh việc trưng cầu ý dân về những vấn đề trọng đại của đất nước” – PGS Đinh Ngọc Vượng, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam phát biểu ở Hội thảo “Xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992” đang diễn ra tại Đà Nẵng.

Hội thảo do Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam (VUSTA) và Viện nghiên cứu lập pháp tổ chức, quy tụ các nhà khoa học và những người có kinh nghiệm thực tiễn hàng đầu về việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp.

Lò dò từng bước thì bao giờ tới đích?

Là người trình bày tham luận đầu tiên, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc đặt ra những câu hỏi lớn: “Vì sao chỉ trong 46 năm từ 1946 đến 1992 mà ta có đến 4 hiến pháp – không kể những lần sửa đổi? Nước Mỹ 200 năm qua chỉ có một Hiến pháp. Hiến pháp 1980 dự định là Hiến pháp của cả thời kỳ quá độ, nhưng chưa kịp thi hành đã bị thay thế bằng Hiến pháp 1992, rồi 2001 lại sửa, giờ lại sửa tiếp. Không lẽ việc sửa đổi Hiến pháp đã trở thành truyền thống?”.

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: Nếu chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều thì chỉ là làm thử chứ không làm thật

Theo ông Lộc, dù lần sửa đổi nào cũng giải thích do tình hình đất nước phát triển đến giai đoạn mới nên phải có Hiến pháp mới, nhưng “có thật do yếu tố thời đại hay yếu tố chủ quan của mỗi thế hệ lãnh đạo?”.

Ông Lộc đặt ra hàng loạt băn khoăn khi Hiến pháp 1992 lần đầu tiên xác nhận theo tư tưởng nhà nước pháp quyền XHCN, của dân – do dân – vì dân, nhưng 5 chương về bộ máy nhà nước lại vẫn giữ nguyên như Hiến pháp 1980, “giống như người khởi hành mới giơ chân lên mà chưa hạ xuống”.

“Nếu chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều thì chỉ là làm thử chứ không làm thật. Nếu chỉ cái gì tạo sự đồng thuận cao mới làm thì cứ lò dò từng bước, đến bao giờ mới tới đích?”.

GS Trần Ngọc Đường (Viện Nghiên cứu lập pháp) đặt vấn đề khi tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992, phải xem tính thống nhất và chỉ đạo của Hiến pháp 92 với hệ thống pháp luật thế nào, để đảm bảo tính chỉ đạo của một văn kiện gốc. “Tại sao ta sửa Hiến pháp xoành xoạch? Hiến pháp càng quy định cụ thể thì càng mau “chết”, nhiều quy định pháp lý bó chân bó tay. Ngay cả Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm bỏ HĐND quận, huyện, phường, nếu xét nghiêm túc cũng là vi hiến”.

Đặt vấn đề với các nước, Hiến pháp chỉ là đạo luật gốc, là khung pháp lý chung, là khế ước giữa một bên là nhân dân, chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, còn bên kia là nhà nước được nhân dân giao những quyền cụ thể, GS Đường đề nghị khi tổng kết, phải xem cách thức thể hiện của Hiến pháp đã hợp lý chưa, quyết định xem Hiến pháp nên quy định cụ thể đến đâu để sống được lâu.

Dù đi thẳng vào chủ đề của hội thảo là tìm tiêu chí, phương pháp để tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992, hay “nói xa nói gần” đến chuyện Hiến pháp các nước, các ý kiến đều trăn trở về bản chất của Hiến pháp. Đa số khẳng định Hiến pháp là đạo luật gốc, chỉ quy định những gì mang tính nguyên tắc, chứ không nên dàn trải qua đủ mọi lĩnh vực như Hiến pháp 1992. TS Tường Duy Kiên (Trung tâm Nhân quyền – Học viện Chính trị quốc gia) khẳng định “Hiến pháp là đạo luật về quyền con người”.

Ngay cả những người ủng hộ việc Hiến pháp bao quát mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… cũng cho rằng không thể dàn trải, phải chọn được những điểm chủ yếu sẽ quyết định những vấn đề khác. “Hiến pháp phải ổn định, cái gì nhất thời, nhiệm kỳ thì bỏ ra, những gì chưa chín muồi thì thôi đừng thể hiện” như lời GS Lê Minh Tâm.

Ông Tâm cũng nhấn mạnh Hiến pháp phải mang tính nhân văn, “thể hiện những giá trị lớn mà tất cả mọi người, mọi tổ chức, mọi thiết chế đều hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ, bác ái, tiến bộ, tự do. Không thể lấy quyền lực chế ngự những giá trị đó, để hạn chế những tự do của con người”.

Quyền phúc quyết của dân

Một chủ đề khác được nhiều ý kiến thảo luận là việc người dân sẽ tham gia vào quá trình làm và sửa đổi Hiến pháp theo cách nào.

GS Đào Trí Úc (ĐH Quốc gia Hà Nội) khẳng định “Hiến pháp khi ra đời bao giờ cũng gắn với sự kiện lập quốc, nên Hiến pháp là văn kiện lập quốc”.

Theo ông, Hiến pháp là văn kiện có tính giai cấp, nhưng phải dung hòa được các lợi ích, tạo nền tảng cho sự đồng thuận xã hội. “Dù Hiến pháp mỗi thời kỳ mang dấu ấn đặc trưng thời đại, nhưng phải tạo được tính chính đáng, phải thể hiện những giá trị xã hội mà toàn dân chấp nhận, thu hút được sự tham gia của nhân dân, người dân phải được phúc quyết Hiến pháp”.

PGS Đinh Ngọc Vượng (Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam) khẳng định nhân dân mới là chủ thể cơ bản ban hành hiến pháp. “Nếu người dân chỉ thể hiện quyền lực của mình thông qua QH và HĐND các cấp thì sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước chỉ mang tính hình thức, không được thực hiện triệt để”, ông Vượng băn khoăn.

Theo ông, nhất định không thể lập luận rằng trình độ dân trí chưa cao để tránh việc trưng cầu ý dân về những vấn đề trọng đại của đất nước. “Chính dân là cử tri đã sáng suốt bầu ra các ĐBQH và HĐND các cấp đó thôi. Tại sao khi bầu QH và HĐND thì họ là những người sáng suốt, còn khi bàn những vấn đề trọng đại của đất nước thì họ lại chưa đủ trình độ?”.

Khẳng định quyền phúc quyết Hiến pháp của toàn dân, nhưng các ĐB cũng băn khoăn chưa có Luật trưng cầu dân ý, nên không biết sẽ phải trưng cầu theo quy chế nào.

Hội thảo tiếp tục làm việc trong sáng nay.

Khánh Linh
http://vietnamnet.vn/chinhtri/201008/Dan-moi-la-chu-the-co-ban-ban-hanh-Hien-phap-926639/

______

Hiến pháp 1946: Nghĩ về quyền phúc quyết hiến pháp của dân
Cập nhật lúc 20:21, Thứ Sáu, 19/01/2007 (GMT+7)
,
(VietNamNet)- Tại hội thảo “Phát huy giá trị Hiến pháp 1946 trong sự nghiệp đổi mới” do Văn phòng QH tổ chức, Phó Chủ nhiệm Văn phòng QH Trần Ngọc Đường nói: “Trong bối cảnh ta đang xây dựng Luật trưng cầu dân ý trình QH tới đây để thông qua thì việc nghiên cứu về “quyền phúc quyết” hiến pháp của người dân trong Hiến pháp 1946 là rất ý nghĩa”.

Nghị viện ưng chuẩn phải đưa ra toàn dân phúc quyết

Hiến pháp 1946 đã ra đời hơn 60 năm vào những ngày đầu dành độc lập, bản hiến pháp đã đặt nền tảng chính trị, pháp lý cho tổ chức và hoạt động của một Nhà nước Việt Nam mới. GS Trần Ngọc Đường đã nêu ra một số điểm nổi bật của Hiến pháp 1946, đó là: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nền lập hiến Việt Nam; Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân; Tư tưởng pháp quyền; Những quy định về quyền con người và đảm bảo quyền công dân; Cơ chế bảo hiến; Sửa đổi hiến pháp.

Riêng về vấn đề sửa đổi hiến pháp: Hiến pháp 1946 quy định theo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Theo đó, điều 70 quy định bên cạnh các thủ tục như phải được 2/3 số Nghị viên đề nghị… thì “Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

Quy định này của Hiến pháp 1946 do những hoàn cảnh nhất định chưa được kế thừa trong các bản hiến pháp sau này. GS Trần Ngọc Đường cho rằng: “Trong bối cảnh chúng ta đang tiến hành xây dựng Luật trưng cầu dân ý để trình QH xem xét, thông qua trong thời gian tới thì việc nghiên cứu về “quyền phúc quyết” hiến pháp của người dân trong Hiến pháp 1946 cũng rất có ý nghĩa”.

Hiến pháp 1946 phân định rõ “quyền phê bình Chính phủ”

Tại kỳ họp đầu tiên của QH khoá I (tổ chức ở Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội), QH đã bầu ra Ban dự thảo hiến pháp đầu tiên. Tám tháng sau, vào ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ 2 của QH khoá I, QH đã thông qua bản Hiến pháp 1946 – hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự nhất trí của 240/242 đại biểu dự họp

TS Nguyễn Sĩ Dũng thì lại đề cập đến một điểm mạnh khác của Hiến pháp 1946: quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia rõ cùng với nhiều cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau. Ví như quyền “biểu quyết những dự án, sắc luật của Chính phủ”, “kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện…

Vấn đề trả lời chất vấn của Bộ trưởng cũng được nhắc đến: “Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc Ban thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn” .

Cuối cùng, TS Nguyễn Sĩ Dũng nhận định “Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới”.

GS Phạm Ngọc Quang (Hội đồng lý luận Trung ương) sau khi tham luận những nội dung chủ yếu của Hiến pháp 1946, đã trở lại với những vấn đề thực tại: Đó là chuẩn bị cho bầu cử QH khoá XII sắp tới sao cho thực chất, ít tốn kém và hiệu quả hơn; Nâng cao hiệu quả tiếp xúc của đại biểu QH đối với cử tri; Công khai hoá hơn nữa mọi hoạt động của QH; Nêu cao vai trò kiểm tra, giám sát, phản biện của mặt trận, các tổ chức chính trị xã hội và của mọi công dân.

Đỗ Minh
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2007/01/655734/

Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng
Bài đã được xuất bản.: 08/05/2010 07:30 GMT+7

3

Nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

LTS: Sáu lăm năm trước, lúc vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ở vào một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Vận mệnh của Tổ quốc, nền độc lập của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước nguy cơ mất còn. Vì vậy, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã xác định, một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là phải xây dựng cho được một bản Hiến pháp. Người chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”.

Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam đăng lại bài viết của TS Nguyễn Sĩ Dũng trên tờ PLTPHCM hồi năm 2005 về tư tưởng pháp quyền trong Hiến pháp 1946- ra đời cách đây trên nửa thế kỷ để mọi người cùng suy ngẫm.

60 năm đã trôi qua kể từ mùa thu năm ấy. Sống mãi với thời gian là các giá trị của Cách mạng tháng Tám: độc lập, tự do, dân chủ. Sống mãi với thời gian là tư tưởng pháp quyền kết tinh trong bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản hiến pháp đó còn được gọi là Hiến pháp 1946.

Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Trong đó có những điều chỉ vẻn vẹn một dòng. (Ví dụ Điều 12 được viết như sau: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”). Một trong những lý do giải thích sự ngắn gọn này là: Hiến pháp 1946 đã được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền.

Nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Về mặt lý luận, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1- Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2- Hoặc hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ ba năm. Như vậy, nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70 Hiến pháp 1946).

Hai là các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì cao hơn là nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Vì rằng nếu nhà nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là thuộc nhà nước, nhưng nếu hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở đây.

Ba là quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ “quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36 Hiến pháp1946); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40 Hiến pháp1946); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54 Hiến pháp 1946)…

Bốn là quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rất rõ. Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23 Hiến pháp 1946). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59 Hiến pháp 1946).

Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của toà án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: một là các toà được thiết kế không theo cấp hành chính (Điều 63 Hiến pháp 1946); hai là khi xét xử, thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69 Hiến pháp 1946).

http://www.tuanvietnam.net/2010-05-07-hien-phap-1946-voi-tu-tuong-phap-quyen

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. Tôi đồng thuận với điều chỉnh hiến pháp, nhưng nhất quyết không được bỏ Điều 4 Hiến Pháp 1992.
    Nếu bỏ rất nguy hiểm, Việt Gian sẽ quay lại và ngóc đầu dậy !

    Bình luận bởi Lê Việt — 04/08/2010 @ 5:23 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: