Hoàngquang’s Blog

24/07/2010

Việt Nam ở vị trí nào trong chính sách ngoại giao Hoa Kỳ? (Phần 1 & Phần 2)

Filed under: VN-Hoa Kỳ — hoangquang @ 9:29 sáng
Tags:

Ngọc Trân, Thông tín viên RFA
24/07/2010
&ASEAN và Mỹ cần nhau để đối phó với Trung Quốc -RFI
***
Phần 1

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam ông Phạm Gia Khiêm tại Hà Nội ngày 22/7/2010. AFP

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton đến thăm Việt Nam vào ngày 22 tháng 7.

Đây là lần đầu tiên bà Clinton đến Việt Nam với tư cách là Ngoại trưởng Mỹ, để tham dự Hội nghị Bộ trưởng ASEAN, thảo luận các vấn đề song phương giữa hai nước cũng như tham dự lễ kỷ niệm mười lăm năm quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ.

Nhân dịp này, chúng tôi xin điểm qua một số sự kiện có liên quan đến quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ, để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về vị trí của Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ cũng như ở khu vực Đông Nam Á.
Quan hệ Việt – Mỹ sau chiến tranh

Quan hệ Việt – Mỹ sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975 đã bị đóng băng trong thời gian gần hai mươi năm. Trong thời gian đó, Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Đó là vào thời điểm năm 1977, dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, có nhiều bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam.

Có lẽ do lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nên Mỹ đã thay đổi thái độ cũng như quan điểm đối với Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc. Ông Andrew Young, Đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ đã nói rõ lập trường của Mỹ đối với Việt Nam hồi đầu năm 1977 như sau: “Chúng tôi xem Việt Nam như một Nam Tư ở Châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam hùng mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ”.

Chúng tôi xem Việt Nam như một Nam Tư ở châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam hùng mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ.

Ông Andrew Young

Tháng 3 năm 1977, Hoa Kỳ đã nới lỏng lệnh cấm vận đối với Việt Nam như, cho phép tàu bè và máy bay của các nước khác chở hàng sang Việt Nam được phép ghé các cảng và sân bay của Hoa Kỳ để tiếp nhiên liệu. Cũng trong thời gian này, Hoa Kỳ đã cho phép công dân Mỹ đến thăm Việt Nam.

Song song với việc nới lỏng lệnh cấm vận, phía Mỹ cũng đã cử ông Leonard Woodcock, là đặc phái viên của Tổng thống Jimmy Carter cùng các thành viên, trong đó có Thượng nghị sĩ Mansfield, đến thăm Việt Nam. Và Hoa Kỳ cũng đã không còn chống đối Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và cam kết sẽ chấm dứt lệnh cấm vận thương mại một khi quan hệ ngoại giao được thiết lập.

Phía Việt Nam cũng có dấu hiệu cho thấy hai nước sớm bình thường hóa, chẳng hạn như chương trình phát thanh của Đài Phát thanh Hà Nội lúc đó cũng cho thấy, Chính phủ Việt Nam đang chuẩn bị cho người dân trong việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã hứa sẽ cung cấp thêm các chi tiết về người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA).
Việt Nam bỏ lỡ cơ hội

Sau chuyến thăm Việt Nam của ông Woodcock, hai nước đã có cuộc đàm phán đầu tiên hồi tháng 5 năm 1977 tại Paris. Thế nhưng, có lẽ do quá say sưa với chiến thắng đế quốc Mỹ nên Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Tin tức cho biết, một trong những trở ngại lớn trong vòng đàm phán đầu tiên đó là, Việt Nam đưa ra điều kiện bồi thường chiến tranh làm điều kiện bang giao với Hoa Kỳ.

Một anh xe ôm ngồi đọc báo trước một cửa hàng sách ở Sài Gòn với áp phích quảng cáo cho tập hồi ký của cựu đệ nhất phu nhân Hillary Clinton hôm 26/1/2007. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Trong khi đó, ở trong nước, Quốc hội Hoa Kỳ đã bỏ phiếu áp đảo để ngăn Chính phủ không cho đàm phán liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ hay bất kỳ việc thanh toán nào cho Việt Nam. Những lần bỏ phiếu kế tiếp của Quốc hội cũng đã phản đối mạnh mẽ bất kỳ hình thức viện trợ nào cho Việt Nam và thậm chí chống đối cả việc dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại.

Phía Việt Nam vẫn không thay đổi quan điểm, mặc dù có thay đổi trong cách gọi tên, như không yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường chiến tranh, mà muốn Hoa Kỳ phải đóng góp để hàn gắn vết thương và tái thiết đất nước sau chiến tranh, với số tiền là 3,2 tỷ đô la, theo ông Trần Quang Cơ, viên chức ngoại giao Việt Nam cho biết.

Trong khi phía Việt Nam cho rằng, Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh là một nghĩa vụ không thể phủ nhận, phía Chính phủ Carter cho biết sự hỗ trợ theo yêu cầu của Việt Nam là không thể thực hiện được.

Vòng đàm phán tiếp theo ở Paris hồi tháng 6 năm 1977 đã diễn ra trong bầu không khí ảm đạm và đi vào bế tắc vì vấn đề viện trợ. Phía Hoa Kỳ nói rằng, do gặp khó khăn về vấn đề pháp lý, như Quốc hội Mỹ kiên quyết không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, nên phía Mỹ không thể thực hiện điều đó.

Phái đoàn Hoa Kỳ đã hứa sẽ thực hiện việc viện trợ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, thế nhưng phía Việt Nam vẫn không chấp nhận. Và đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc các vòng đàm phán kế tiếp giữa hai nước không đi đến kết quả.

Vòng đàm phán thứ ba được tổ chức hồi tháng 12 cùng năm, thế nhưng hai bên vẫn không đạt được các thỏa hiệp.
Các nguyên nhân khác

Ngoài vấn đề bồi thường chiến tranh, các nguyên nhân khác cũng đã làm cho việc bình thường hóa quan hệ hai nước trở nên khó khăn hơn, như vấn đề tù nhân chiến tranh và người Mỹ mất tích khi làm nhiệm vụ (POW và MIA) là các vấn đề nhạy cảm về chính trị.

Trong khi phía Việt Nam cho rằng, Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh là một nghĩa vụ không thể phủ nhận, phía Chính phủ Carter cho biết sự hỗ trợ theo yêu cầu của Việt Nam là không thể thực hiện được.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, đó là quan điểm khác nhau của các viên chức Hoa Kỳ trong vấn đề Việt Nam và Trung Quốc đã thay đổi sau ba vòng đàm phán. Trong khi ông Cyrus Vance, Ngoại trưởng Hoa Kỳ thời bấy giờ, cùng lúc muốn Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với hai nước Việt -Trung, thì ông Zbigniew Brzezinski, Cố vấn An ninh Quốc gia, chỉ tập trung vào Liên Xô cũ, tức là bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc để gây áp lực với Liên Xô.

Do ba vòng đàm phán đều thất bại, cũng như quan điểm của ông Brzezinski chuyển sang kế hoạch bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nên vòng đàm phán Việt – Mỹ lần thứ tư hồi tháng 9 năm 1978 giữa ông Richard Holbrooke, Phụ tá Ngoại trưởng, phụ trách Châu Á Thái Bình Dương với ông Nguyễn Cơ Thạch, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã không đi đến kết quả.

Mặc dù trong lần đàm phán này, phía Việt Nam đã không còn đòi hỏi Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh và chấp nhận bình thường hóa quan hệ vô điều kiện, thế nhưng có lẽ các nhượng bộ từ phía Việt Nam lúc đó đã quá muộn, do Hoa Kỳ đang chuẩn bị thiết lập quan hệ với Trung Quốc. Và rồi, đầu năm 1979 Hoa Kỳ đã thiết lập bang giao với Trung Quốc, để rồi chưa đầy hai tháng sau Trung Quốc đưa quân sang đánh Việt Nam.

Trong khi đó, quan hệ Việt Mỹ tiếp tục bị đóng băng cho đến năm 1991; dưới thời Tổng thống George Bush (Bush cha), Hoa Kỳ dỡ bỏ phần nào lệnh cấm vận, cho đến ngày 12 tháng 7 năm 1995, quan hệ ngoại giao giữa hai nước mới được thiết lập hoàn toàn.

Sau 15 năm bình thường hóa quan hệ, Việt Nam đang đứng ở vị trí nào trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ? Đâu là nguyên nhân gây cản trở hai nước tiến xa hơn nữa?
Phần 2

Kể từ khi quan hệ ngoại giao được thiết lập, các mối quan hệ song phương giữa hai nước Việt – Mỹ đã phát triển nhanh. Trong lĩnh vực chính trị, các cuộc viếng thăm giữa lãnh đạo cấp cao hai nước được xem như nhiều hơn mức bình thường, khi hai Tổng thống Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam trong vòng sáu năm: Tổng thống Bill Clinton đến Việt Nam vào năm 2000 và Tổng thống George W. Bush vào năm 2006.

Tôi tin rằng bình thường hóa và gia tăng tiếp xúc giữa Mỹ và Việt Nam sẽ tiến tới mục đích tự do tại Việt Nam, như đã làm ở Đông Âu và Liên Xô cũ.

Cựu TT Bill Clinton

Phía Việt Nam, các lãnh đạo cấp cao nhất cũng đã đến thăm Hoa Kỳ ba lần trong vòng ba năm, từ năm 2005 – 2008: Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đây là điều chưa từng xảy ra trong quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đối tác lâu đời khác như Nga hay Ấn Độ.

Chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của Tổng thống Bill Clinton đã tập trung sự chú ý của các nhà ngoại giao hai nước Việt – Mỹ, về việc làm thế nào để cải thiện quan hệ chung giữa hai nước. Và trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải hồi năm 2005, tại Washington, hai nước đã ban hành một tuyên bố chung, mục đích thể hiện ý định của hai bên nhằm nâng quan hệ hai nước lên tầm cao mới.

Ngoài các chuyến viếng thăm của các lãnh đạo cao nhất của hai nước, các Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng và lãnh đạo các cơ quan khác của hai bên cũng đã gặp nhau thường xuyên hơn. Điều này cho thấy Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng bước khắc phục quá khứ và xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau. Quan hệ chính trị được cải thiện không những đặt nền tảng vững chắc cho quan hệ hai nước, mà còn thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ trong các lĩnh vực khác.
Việt Nam ở vị trí nào của Hoa Kỳ?

Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa hai nước phát triển rất nhanh trong mười lăm năm qua kể từ khi bình thường hóa, cũng như vị trí địa chiến lược của Việt Nam được cho là khá quan trọng đối với Hoa Kỳ, thế nhưng chính sách của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá tương đối thấp so với quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước khác trong khu vực.

Ngoài các nước trong khu vực mà Hoa Kỳ đặt ở vị trí quan trọng trong mối quan hệ như, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nam Hàn; ở Đông Nam Á, các nước như: Indonesia, Philippines, Singapore, Thailand cũng đang chiếm vị trí cao hơn Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Việt Nam có lẽ chỉ được chú ý khi Hoa Kỳ lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc, cũng như trong quan hệ tác động giữa Việt Nam với các cường quốc châu Á khác và với khối ASEAN.

Khi chính sách an ninh và ngoại giao của Hoa Kỳ tập trung vào chiến tranh chống khủng bố và chống phổ biến vũ khí hạt nhân, Việt Nam vẫn ở vị trí thấp trong chính sách đối ngoại của Mỹ so với các nước khác trong khu vực. Điều này có thể ảnh hưởng bất lợi cho Việt Nam trong quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước, chẳng hạn như Việt Nam có nguy cơ bị bỏ rơi do các ưu tiên toàn cầu cũng như các ưu tiên trong khu vực của Hoa Kỳ.

Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sự tham gia của Việt Nam trên mặt trận kinh tế rộng lớn về cải cách kinh tế, và cải cách dân chủ, sẽ giúp tôn vinh những người đã hy sinh, chiến đấu vì lợi ích tự do ở Việt Nam.

Cựu TT Bill Clinton

Các chuyên gia cho rằng, nếu xét về vị trí địa chiến lược cũng như sự tham gia của Việt Nam trong thời gian qua trên trường quốc tế, chẳng hạn như Việt Nam giữ vai trò tiên phong là Ủy viên Không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, nhiệm kỳ 2008-2009, thì Việt Nam xứng đáng được đứng ở vị trí cao hơn về các ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Đâu là nguyên nhân?

Mặc dù quan hệ Việt – Mỹ hiện nay được cho là tốt nhất, thế nhưng các chuyên gia cho rằng Việt Nam khó có thể trở thành đồng minh hay bạn bè của Hoa Kỳ trong tương lai gần. Trong khi trở thành đồng minh của Mỹ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ nếu Việt Nam bị Trung Quốc hay một nước khác tấn công.

Các chuyên gia cho rằng, một trong những nguyên nhân chính ngăn cản Việt Nam phát triển quan hệ hơn nữa với Hoa Kỳ đó là: hệ thống chính trị độc đảng ở Việt Nam dẫn đến các quan điểm khác nhau về ý thức hệ giữa hai nước. Trong khi Hoa Kỳ ủng hộ các giá trị như: nhân quyền, dân chủ và tự do, mà họ đã hy sinh để bảo vệ, Việt Nam cho rằng, các khái niệm này của Hoa Kỳ này chỉ thích hợp ở phương Tây, chứ không thể áp dụng vào Việt Nam.

Phía Hoa Kỳ muốn Việt Nam cải cách kinh tế song song với đổi mới chính trị, chẳng hạn như Hoa Kỳ muốn nhìn thấy một nước Việt Nam tự do hơn, nơi đó người dân không chỉ có đủ cơm ăn, áo mặc, mà còn được tự do bày tỏ những suy nghĩ của mình mà không bị một thế lực nào đe dọa. Và đó là một trong những điều kiện quan trọng để quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới.

Trong bài phát biểu hồi tháng 7 năm 1995, khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Tổng thống Bill Clinton đã nói rõ điều đó, rằng: “Tôi tin rằng bình thường hóa và gia tăng tiếp xúc giữa Mỹ và Việt Nam sẽ tiến tới mục đích tự do tại Việt Nam, như đã làm ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sự tham gia của Việt Nam trên mặt trận kinh tế rộng lớn về cải cách kinh tế, và cải cách dân chủ, sẽ giúp tôn vinh những người đã hy sinh, chiến đấu vì lợi ích tự do ở Việt Nam”.

Sự khác biệt về các giá trị tự do, dân chủ giữa hai nước ảnh hưởng không tốt đến quan hệ song phương Việt – Mỹ. Chẳng hạn như, Quốc hội Hoa Kỳ thường xuyên thông qua Đạo luật Nhân quyền cho Việt Nam, cũng như những lời chỉ trích trong các báo cáo nhân quyền hàng năm của Bộ Ngoại giao và Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, cho thấy không có lợi cho Việt Nam.

Những sự khác biệt nói trên sẽ là nguyên nhân chính gây cản trở quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới trong tương lai, và đó cũng sẽ là nguyên nhân chính ngăn cản Việt Nam trở thành đồng minh hay bạn bè của Mỹ.

Mặc dù Việt Nam chào đón sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, cũng như lãnh đạo Việt Nam tìm cách nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ, ngoài mục đích giúp Việt Nam phát triển kinh tế, lý do quan trọng nhất mà Việt Nam muốn nâng cao quan hệ với Hoa Kỳ đó là, Hoa Kỳ có khả năng giúp Việt Nam chống lại các tham vọng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Thế nhưng với điều kiện mà phía Hoa Kỳ đòi hỏi để Việt Nam trở thành đồng minh, giúp Việt Nam chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, liệu Việt Nam có đáp ứng được những đòi hỏi này hay không? Hay là Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội như đã từng xảy ra cách nay hơn ba thập niên?

TV

Nguồn:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/whereabout-is-vietnam-in-the-us-foreign-policy-NTran-07222010115107.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Where-is-vietnam-in-the-us-Diplomatic-policy-Part2-NgTran-07222010213637.html
Được đăng bởi bvnpost vào lúc 00:47
Nhãn: Ngoại Giao

http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/viet-nam-o-vi-tri-nao-trong-chinh-sach.html#more

____________

ASEAN và Mỹ cần nhau để đối phó với Trung Quốc

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Thứ năm 22 Tháng Bẩy 2010

ASEAN và Mỹ cần nhau để đối phó với Trung Quốc

Đức Tâm
Phản ứng tích cực của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43 trong hồ sơ Biển Đông cho thấy các nước Đông Nam Á và Mỹ cần nhau để đối phó với tham vọng của Trung Quốc.

Vào tháng ba năm nay, trong chuyến công du Trung Quốc của hai quan chức Mỹ là Jeffrey Bard và James Steinberg, chính phủ Bắc Kinh tuyên bố không cho phép bất cứ nước nào can thiệp vào vùng Nam Hải, tức Biển Đông, bởi vì vùng biển này đã trở thành một phần trong cái gọi là quyền lợi cốt lõi về chủ quyền của Trung Quốc.
Theo giới quan sát, đây là lần đầu tiên, Trung Quốc coi Nam Hải, tức Biển Đông, là vùng quyền lợi cốt lõi, có tầm quan trọng ngang với hồ sơ Đài Loan và Tây Tạng.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43, tại Hà Nội, ngày 20/07 vừa qua, đã đưa ra một thông điệp rõ ràng cho Trung Quốc : Cần phải thực hiện Tuyên bố về Ứng xử của Các bên ở Biển Đông (DOC) và hướng tới việc hoàn tất một Bộ Quy tắc Ứng xử Khu vực tại biển Đông (COC), mang tính pháp lý, ràng buộc các bên liên quan.
Trước những hoạt động của hải quân Trung Quốc nhân danh bảo vệ vùng “quyền lợi cốt lõi” bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông, các nước ASEAN đã “nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các bên tôn trọng tự do hàng hải và tự do hàng không bên trên Biển Đông như đã được qui định trong các nguyên tắc đã được thừa nhận của luật pháp quốc tế.”
Khi ghi nhận phản ứng tích cực của ASEAN trong hồ sơ Biển Đông, giới phân tích nhấn mạnh đến vai trò của Mỹ. Đối với Washington, đã đến lúc phải hiện diện mạnh mẽ hơn trong khu vực, nhắc nhở Bắc Kinh không nên có cách hành xử “cá lớn nuốt cá bé”. Và Tuyên bố của Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43 về vấn đề Biển Đông cũng góp phần tạo thuận lợi cho Hoa Kỳ quay trở lại khu vực này.
Sau đây là phân tích của giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về Trung Quốc, đại học Maine, Hoa Kỳ.
*
Xin chào giáo sư Ngô Vĩnh Long, Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43 tại Hà Nội ra thông cáo chung trong đó dành hẳn một phần nói về hồ sơ Biển Đông. Ở đoạn thứ 28 của văn bản này, các ngoại trưởng ASEAN nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Tuyên bố ứng xử tại Biển Đông được thông qua năm 2002 và bày tỏ mong muốn cùng với Trung Quốc hướng tới việc thảo luận một bộ luật ứng xử mang tính ràng buộc. Giáo sư bình luận gì về sự kiện này ?
GS Ngô Vĩnh Long : Tuyên bố này của ASEAN, tôi thấy rất khả quan. Trung Quốc ký với ASEAN năm 2002 Tuyên bố ứng xử này nhưng từ đó đến nay, Trung Quốc giả lơ, không chịu làm gì cả và họ nói là chỉ muốn đàm phán song phương, chứ không làm gì trong khuôn khổ đa phương. Tức là Trung Quốc đã ký nhưng không thi hành. ASEAN lần này đẩy mạnh việc trở lại Tuyên bố đã ký và muốn đề ra những luật lệ rõ ràng. Tôi thấy đây là một bước tiến, đẩy mạnh của các nước ASEAN.
Trong điều 29 của Tuyên bố chung, các ngoại trưởng ASEAN kêu gọi tôn trọng quyền tự do hàng hải và hàng không bên trên vùng Biển Đông. Phải chăng lời kêu gọi này phản ánh được sự đồng thuận của ASEAN đối với với sự bành trướng và đòi hỏi phi lý của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông ?
GS Ngô Vĩnh Long : Đúng như thế, bởi vì các nước ASEAN thấy rằng Trung Quốc càng ngày càng lấn át. Cách nay hai năm, khi tàu USNS Impeccable hoạt động cách đảo Hải Nam 75 dặm, Trung Quốc cho thuyền ra quấy nhiễu. Trung Quốc nói rằng trong vòng 75 dặm, tức lãnh hải của Trung Quốc thì phải xin phép. Điều 29 trong Tuyên bố chung của ASEAN đã nhấn mạnh rằng vấn đề thông thương rất quan trọng, phải tuân thủ luật lệ của Liên Hiệp Quốc. Tất nhiên, tại các vùng đặc quyền kinh tế, các nước được quyền tự do lưu thông trên biển, trên không và chỉ cần báo trước thôi. Nhưng Trung Quốc nói là phải xin phép, nếu không, khi đi qua, Trung Quốc dọa là có thể bị tai nạn. Do vậy, điều 29 là một sự đáp lời Trung Quốc và rằng Trung Quốc đã quá lố.
Phải chăng ASEAN có thể mạnh dạn đưa ra lập trường chung này là do có sự ủng hộ của Hoa Kỳ ?
GS Ngô Vĩnh Long : Vâng đúng như thế, mà lập trường này xuất phát từ việc hồi tháng ba vừa rồi, Trung Quốc có nói với Mỹ là vùng gần như toàn bộ Biển Đông là vùng quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc. Ai đến đó phải xin phép Trung Quốc. Người ta thấy là quá lố. Trước đó, Trung Quốc đã đưa ra đường chữ U chín đoạn, còn gọi là « lưỡi bò ». Rõ ràng, Trung Quốc có ý chiếm hết cả Biển Đông. Các nước Đông Nam Á thấy đây là mối đe dọa thực sự. Gần đây, Trung Quốc có gửi mấy chiến hạm xuống tận vùng Trường Sa.
Tôi nghĩ, đây cũng là phản ứng của ASEAN, cho Trung Quốc biết rằng ASEAN thấy Trung Quốc đang đe dọa an ninh trong khu vực.
Theo giáo sư thì Trung Quốc có thái độ ra sao trước lời kêu gọi của ASEAN ?
GS Ngô Vĩnh Long : Một đằng thì họ sẽ nói chỉ đàm phán song phương và họ sẽ đàm phán song phương để đi đến hòa bình, nhưng đằng khác, họ sẽ bất chấp những kêu gọi giải quyết vấn đề một cách đa phương. Gần đây ASEAN đồng ý với Mỹ là phải giải quyết vấn đề này, nếu không sẽ mất an ninh trong toàn khu vực.
Có lẽ cần nói rõ là sự đồng thuận của ASEAN muốn có một bộ luật ứng xử tại Biển Đông, ràng buộc Trung Quốc, chỉ liên quan đến những tranh chấp về chủ quyền trong khu vực quần đảo Trường Sa ?
GS Ngô Vĩnh Long : Vâng, bởi vì khu vực Hoàng Sa thì Trung Quốc đã chiếm rồi và tranh chấp là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vấn đề Trường Sa đe dọa các nước ASEAN khác. Nhưng theo tôi, ở đây, vấn đề rộng lớn hơn Hoàng Sa và Trường Sa, liên quan đến an ninh toàn khu vực Biển Đông, toàn khu vực Đông Nam Á. Vì thế, khi ASEAN đưa ra các đề nghị này thì họ nghĩ đến vấn đề an ninh chung của cả khu vực châu Á, chứ không phải chỉ trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nếu Trung Quốc tiếp tục nói rằng chỉ tiến hành đàm phán song phương, không chấp nhận đa phương để giải quyết các bất đồng thì ASEAN có cách nào để thuyết phục, gây sức ép buộc Trung Quốc chấp nhận đàm phán đa phương ?
GS Ngô Vĩnh Long : Các nước ASEAN tự mình không thể làm được vấn đề này. Đối với Trung Quốc, các nước ASEAN yếu, nhất là về hải quân. Nói chung, an ninh của cả khu vực Biển Đông cũng như an ninh của cả khu vực tây Thái Bình Dương, thì nước chính mà Trung Quốc muốn bắt nhượng bộ là Mỹ. Thành ra, trong mấy năm qua, hầu hết các hành động của Trung Quốc ở vùng mà Việt Nam gọi là Biển Đông, tức là Nam Hải đối với Trung Quốc, phần lớn là để thách thức Mỹ. Nếu Mỹ chịu nhượng bộ phần nào đó, thì việc này sẽ hù dọa, răn đe các nước Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á đến mãi gần đây cũng không dám ho he về vấn đề này. Nhưng sau khi Mỹ tỏ thái độ với Trung Quốc thì các nước này mới đưa ra các yêu sách mà chúng ta vừa đề cập. Thành ra, vai trò của Mỹ ở Biển Đông, Đông Nam Á nói riêng, Đông Á nói chung là vấn đề rất quan trọng. Sự hiện diện của Mỹ không những giúp buộc Trung Quốc nhượng bộ một chút nào đó, xuống thang một chút nào đó vì Mỹ có vai trò điều phối rất lớn, không những đối với các nước Đông Nam Á, mà còn giữa các nước Đông Á với các nước Bắc Á như là Đài Loan, Nhật và Hàn Quốc. Cho nên, nếu không có vai trò tích cực của Mỹ, thì các nước Đông Nam Á, Nhật Bản hay Đài Loan hay Hàn Quốc cũng khó có thể có những động tác riêng rẽ được.
Nhờ có sự ủng hộ của Mỹ mà ASEAN mới có thể đồng thuận đối phó với Trung Quốc. Một số nhà phân tích nói đến vai trò đối trọng của Mỹ cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Giáo sư nghĩ gì về cuộc đọ sức hiện nay giữa Bắc Kinh và Washington thông qua cuộc tập trận Hoa Kỳ-Hàn Quốc. Trước sự phản đối của Trung Quốc, cuộc tập trận bắt đầu từ ngày 25/07 này sẽ chỉ diễn ra tại vùng biển Nhật Bản thay vì ở Hoàng Hải như dự kiến ban đầu ?
GS Ngô Vĩnh Long : Trước hết, phải nói là Mỹ không đóng vai trò đối trọng với Trung Quốc. Mỹ muốn điều phối với Trung Quốc để giữ an ninh trong khu vực. Nhưng gần đây, trong hai năm qua, vì nhiều lý do, Trung Quốc ngày càng có những cuộc diễn tập mà họ gọi là diễn tập thách đố hay là đối đầu với Mỹ. Như vậy, nếu Mỹ càng ngày càng im lặng, thì Trung Quốc càng ngày càng làm tới. Cuối cùng, thì chỉ trong vài tháng qua, Mỹ mới có phản ứng lại. Tôi nghĩ phản ứng này không phải nhằm mục đích đối trọng mà chỉ muốn nói cho Trung Quốc biết là không nên có những hành động thách đố, đối đầu như vậy, gây mất an ninh trong khu vực. Trung Quốc đã diễn tập ở ngoài khơi, cũng đã bắn đạn thật, đe dọa các nước xung quanh. Bây giờ, muốn bảo vệ, muốn chứng minh cho các đồng minh trong khu vực hay là những nước khác trong khu vực thì Mỹ cũng phải đem một số tàu đến đó, để cho Trung Quốc biết là nếu làm như vậy thì Hoa Kỳ sẽ phản ứng lại. Tôi nghĩ Mỹ không muốn đóng vai trò đối trọng với Trung Quốc mà chỉ làm vai trò phối hợp đối với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực. Đây không phải là vấn đề chẻ tóc. Tôi nghĩ đó là chính sách thật sự của Mỹ. Nếu ai nghĩ đây là vấn đề đối trọng thì tôi cho rằng rất nguy hiểm.
Như giáo sư vừa phân tích, Hoa Kỳ chỉ đóng vai trò điều phối. Nhưng Mỹ sẽ điều phối ra sao trước sức mạnh hải quân của Trung Quốc, lấn át các nước Đông Nam Á ?
GS Ngô Vĩnh Long : Thì như ta thấy. Khi Trung Quốc có những cuộc diễn tập như vậy, Mỹ đã có những phản ứng, nhưng đó là những phản ứng bằng lời nói. Do vậy, Trung Quốc càng ngày càng đi tới. Vì thế gần đây, Mỹ gửi một số hạm đội qua và cũng diễn tập ở những khu vực vừa nói đến để cho Trung Quốc biết rằng họ không có thể cứ tiếp tục làm như vậy được nữa. Bởi vì Trung Quốc không những đe dọa các nước Đông Nam Á như là cuộc diễn tập vừa qua ở vùng Trường Sa mà Trung Quốc còn có cuộc diễn tập ở Hoàng Hải và ngay trong vịnh Nhật Bản, làm cho Nhật Bản có lúc sợ và phần nào nghiêng về phía Trung Quốc. Nhưng ngay sau khi Mỹ phản ứng thì có một số thay đổi ở bên Nhật, kể cả chuyện ra đi của một thủ tướng Nhật Bản.
Nhưng giáo sư nghĩ gì về phản ứng của Trung Quốc, họ có nhượng bộ hay không ? Một số chuyên gia cho rằng hiện nay, Bắc Kinh rất tin tưởng vào sức mạnh hải quân của họ, đành rằng nhìn trong tổng thể, sức mạnh quân sự của Trung Quốc vẫn thấp kém hơn so với Mỹ, nhưng Trung Quốc là quốc gia trong khu vực còn Hoa Kỳ thì ở xa, từ nơi khác đến ?
GS Ngô Vĩnh Long : Vâng, Trung Quốc thì đắn đọ như thế để coi phản ứng của Mỹ như thế nào. Nhưng tôi nghĩ tính toán của Trung Quốc sai, bởi vì hành động của Trung Quốc buộc Mỹ và các nước khác phải phối hợp ngăn cản sự đe dọa của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc cứ làm tới thì có thể gây những bùng nổ rất đáng tiếc. Tôi nghĩ, thường thường, nếu các nước khác im lặng thì Trung Quốc lấn tới. Nhưng nếu các nước tỏ thái độ thì có nhiều khi họ đấu dịu. Có nhiều lần trong lịch sử đã cho thấy như vậy. Hy vọng lần này Trung Quốc cũng vậy. Sau một lúc hùng hổ, la lối thì sẽ đấu dịu lại bởi họ thấy là chưa đủ thực lực để làm như vậy.
Thưa giáo sư, như vậy, có thể nói rằng tuyên bố của hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43 phần nói về Biển Đông cũng giúp Hoa Kỳ quay trở lại khu vực này ?
GS Ngô Vĩnh Long : Như tôi đã vài lần nói, thật ra, các nước ASEAN cũng đã hiểu. Mỹ cần sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước ASEAN. Mỹ không thể tự nhiên trở về Đông Nam Á mà không có sự ủng hộ của ASEAN hay là các nước lớn của ASEAN. Do vậy, các tuyên bố lần này của ASEAN giúp cho Mỹ có điều kiện để có thể trở lại Đông Nam Á, để giúp đỡ về an ninh cho vùng.
Đài phát thanh quốc tế Pháp xin cảm ơn giáo sư Ngô Vĩnh Long.
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20100722-asean-va-my-can-nhau-de-doi-pho-voi-trung-quoc

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: