Hoàngquang’s Blog

18/07/2010

Tập đoàn ở Việt Nam: Cách giải cứu không giống ai

Filed under: Chính trị- xã hội,Kinh tế — hoangquang @ 3:43 sáng
Tags:

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

&Tái cấu trúc tiến trình xây dựng quyết sách -Nguyễn Lương Hải Khôi

Từ thực tế đổ vỡ, đến can thiệp của nhà nước, cách ứng cứu, giải quyết hậu quả của Vinashin đều cơ bản mang nặng tư duy, dấu ấn của nền kinh tế quản lý tập trung, trong khi Vinashin được tổ chức theo mô hình kinh tế thị trường.


LTS: Việc một số tập đoàn nhà nước làm ăn không hiệu quả và gần đây nhất là vụ đổ vỡ của Vinashin khiến dư luận không thể không cho rằng: đang rất cần một cuộc xác định nghiêm túc lại vai trò của khu vực , mà đến nay vẫn và sẽ tiếp tục được coi là giữ vao trò chủ đạo của nền kinh tế. Không nhằm mổ xẻ Vinashin, những kinh nghiệm của Vinashin chỉ được đưa ra như những biểu hiện lâm sàng thuyết phục nhất khi bàn về căn bệnh tiềm ẩn, mà nhiều người đã đề cập của các tập đoàn kinh tế, hay nói rộng hơn là khối doanh nghiệp nhà nước và đằng sau nó là cách quản lý, điều hành của Nhà nước với khối DN này.

Dư luận, truyền thông, chính giới, các nhà khoa học, đông đảo người Việt trong và ngoài nước quan tâm, đang chấn động bởi sự đổ vỡ của tập đoàn Vinashin. Thế giới cũng từng chứng kiến nhiều tập đoàn hàng đầu quốc gia phá sản, hoặc trước nguy cơ phá sản, nhất là ngành ngân hàng kéo theo cả thị trường tài chính quốc gia, gây hiệu ứng khủng hoảng lên toàn cầu, và cũng không lạ gì những biện pháp giải cứu, hoặc đứng ngoài, của chính phủ họ. Tuy nhiên, Vinashin Việt Nam chỉ giống thế giới ở chỗ đổ vỡ, còn nguyên nhân lẫn cách thức giải cứu thì khác họ, kể cả một số quan niệm của giới khoa học lẫn chính khách.

Bức tranh tổng thể Vinashin hiện tại: Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, số 103/QĐ – TTg, và số 104 QĐ – TTg, 100% vốn Nhà nước, kinh doanh đa ngành, bao gồm 8 Tổng công ty cùng 7 công ty lớn, với 200 công ty con, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát Tập đoàn, Tổng giám đốc điều hành, các Tổng giám đốc chức năng, do ông Phạm Thanh Bình, bí thư Đảng ủy, giữ chức Chủ tịch và Tổng giám đốc.

Con số thống kê đầu tháng 7 cho thấy, Vinashin có tổng tài sản ước 90.000 tỉ đồng, trong đó khoảng 9.000 tỉ đồng là vốn chủ sở hữu. Tổng số nợ của Vinashin trên 80.000 tỉ đồng (tương đương 4 tỉ USD/tổng nợ quốc gia 60 tỷ USD), gấp bốn lần tổng số vốn nhà nước cho gói kích cầu trong đợt suy thoái năm qua, gấp 2-3 lần tổng số vốn nhà nước đầu tư cho chương trình xoá đói giảm nghèo cả nước. Tính ra tỷ lệ nợ gấp trên 10 vốn chủ sở hữu. Hơn 5.000 lao động không có việc làm. Lương và bảo hiểm xã hội chưa trả lên đến 234 tỷ đồng.

Hệ quả nợ bên bờ vực phá sản trên bắt nguồn từ vay Chính phủ phát hành trái phiếu 750 triệu USD, vay thương mại ngân hàng nước ngoài, tín dụng trong nước, ngân hàng Đầu tư và phát triển (BIDV), Vietcombank… Trước nguy cơ vỡ nợ trên, Chính phủ ra Quyết định số 926/QĐ-TTg, tái cơ cấu Vinashin, xé nhỏ, chuyển 12 công ty của Vinashin về Tập đoàn Dầu khí (PVN) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines). Từ 01/07, Vinashin lại được nhà nước cấp bổ sung vốn điều lệ, và hứa tiếp tục phát hành trái phiếu, cho vay thực hiện các dự án cấp thiết, cơ cấu lại nợ trong nước đã đến hạn; cấp vốn vay hỗ trợ phục vụ một số dự án còn dở dang.

Nguyên nhân đổ vỡ và trách nhiệm đối với Vinashin được dư luận nhắc đến tựu trung gồm: Vinashin báo cáo không trung thực với Chính phủ tình hình tài chính của doanh nghiệp; thành lập quá nhiều công ty con; không đủ năng lực sản xuất kinh doanh; đầu tư dàn trải ngoài ngành công nghiệp tàu thủy; vi phạm nghiêm trọng quy định của Nhà nước về lập, phê duyệt, đấu thầu các dự án; các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán; ông Phạm Thanh Bình thiếu trách nhiệm; bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn của Nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trái quy định của Đảng và Nhà nước, có dấu hiệu cố ý làm trái, vụ lợi cá nhân – Theo UBKT TU.

Còn Chính phủ nhận định, nguyên nhân kinh doanh thua lỗ là do Vinashin đầu tư dàn trải, việc quản lý dự án, công nợ, dòng tiền… còn nhiều hạn chế, yếu kém. Lãnh đạo Vinashin được yêu cầu nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm của tập thể và cá nhân, xử lý nghiêm những sai phạm và rút kinh nghiệm, báo cáo Thủ tướng. Thanh tra Chính phủ, sáng 9/7, công bố chính thức thanh tra Vinashin.

Các đánh giá và đề xuất khác thì cho rằng, Chính phủ xác định chiến lược phát triển công nghiệp đóng tàu của Việt Nam chưa hợp lý, thúc đẩy ngành công nghiệp đóng tàu quá nóng, vượt quá khả năng quản lý của con người. Không sử dụng công cụ kiểm toán để giám sát Vinashin. Không lắng nghe ý kiến phản biện của các nhà khoa học. Cần phải xem lại toàn bộ tài sản của Vinashin hiện nay, giá trị thực của nó, những dự án nào dở dang, những dự án nào vì vướng mắc quy chế, thủ tục, vốn, nhưng có thể triển khai tốt thì Nhà nước cần tạo cơ chế.

Toàn bộ bức tranh tổng thể Vinashin trên, từ thực tế đổ vỡ, đến can thiệp của nhà nước, cách ứng cứu, giải quyết hậu quả, không ít đánh giá của chuyên gia, đều cơ bản mang nặng tư duy, dấu ấn của nền kinh tế quản lý tập trung, trong khi Vinashin được tổ chức theo mô hình kinh tế thị trường.

Nền kinh tế quản lý tập trung coi doanh nghiệp quốc doanh là đối tượng quản lý điều hành trực tiếp của nhà nước, theo nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế, có chức năng hoàn thành kế hoạch do nhà nước ấn định, đóng vai trò chủ đạo, để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế chính trị xã hội do Đảng và Nhà nước đặt ra. Nếu lấy đó làm thước đo đánh giá, thì việc Nhà nước đổ tiền vào, ra chỉ thị, quyết định cho vay, nợ, xử lý lãnh đạo doanh nghiệp lẫn cá nhân chịu trách nhiệm cả về mặt Đảng lẫn chính quyền khi đổ vỡ, là đương nhiên, được thể hiện 100% ở Vinashin, từ thực hiện các chỉ thị của Thủ tướng, đến quyết định của Chính Phủ, ỦBKT TƯ, nghị quyết Đảng ủy…

Ngược lại, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, dù của ai (nhà nước hay tư nhân), đều độc lập với nhà nước như công dân, sinh ra để kinh doanh nhằm động cơ lợi nhuận cho chính nó, chứ không phải cho nhà nước; hình thành, phát triển, giải thể, phá sản là chuyện tự nhiên như con người, sinh, bệnh, lão, tử. Từng doanh nghiệp phải tự vươn lên nếu không sẽ bị thay thế bởi những doanh nghiệp mạnh hơn. Không doanh nghiệp nào được quyền bắt, hay bị nhà nước can thiệp, chịu trách nhiệm thay.

Thực ra có muốn cũng không thể, bởi như Đức, hằng năm trong tổng số gần 4 triệu doanh nghiệp, có từ nửa đến 2/3 triệu đóng cửa, không một tài lực nhà nước nào cứu nổi, nhưng thế vào vị trí đó cũng chừng ấy doanh nghiệp, thậm chí nhiều hơn, được tự động thành lập.

Doanh nghiệp được phân thành 2 loại hình pháp lý, loại thứ nhất tạm gọi là doanh nghiệp cá nhân, thường nhỏ, áp dụng cho hộ gia đình, hiểu theo nghĩa cá nhân chủ sở hữu cùng doanh nghiệp là một, cả về trách nhiệm lẫn tài sản. Doanh nghiệp phá sản tức chủ phá sản. Loại thứ 2, tạm gọi là doanh nghiệp pháp nhân, hay doanh nghiệp tư bản (cổ phần, hay trách nhiệm hữu hạn), độc lập hoàn toàn với chủ sở hữu, tự chịu trách nhiệm trong giới hạn tài sản của nó. Doanh nghiệp phá sản không liên quan đến tài sản ngoài doanh nghiệp của chủ sở hữu; nếu không thế, nhà nước và tỷ phú cũng phá sản theo khi doanh nghiệp họ mất khả năng thanh toán.

Doanh nghiệp nhà nước sở hữu hay góp 1 phần vốn, đều thuộc doanh nghiệp tư bản; của nhà nước nhưng tách khỏi nhà nước, không như doanh nghiệp cá nhân thuộc quyền cá nhân quyết định hay doanh nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế tập trung do nhà nước điều hành trực tiếp. Vai trò chủ sở hữu của nhà nước đối với doanh nghiệp chỉ nằm ở Hội đồng quản trị. Tương tự như bất cứ doanh nghiệp nào, Tổng giám đốc được thuê, chịu trách nhiệm pháp lý, chứ không phải nhà nước.

Với bản chất đối lập nhau như trên, không thể lấy bất kỳ tiêu chí nào của doanh nghiệp thuộc nền kinh tế thị trường áp đặt cho một doanh nghiệp nhà nước điều hành theo cơ chế quản lý kinh tế tập trung như Vinashin, hoặc ngược lại, để phân tích đánh giá đúng sai.

Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ, Vinashin lại được tổ chức, kinh doanh, theo mô hình kinh tế thị trường, nghĩa là nhằm lợi nhuận, nhưng thực tế lại được nhà nước điều hành theo nguyên tắc quản lý kinh tế tập trung, nghĩa là số phận nó, lỗ, lãi, phá sản nhà nước gánh.

Do lợi nhuận mình hưởng, lại không chịu trách nhiệm pháp lý về hậu hoạ, lỗ, lãi, nên tất yếu doanh nghiệp sẽ được chèo lái theo nhóm lợi ích quanh người đứng đầu, bất chấp tất cả, giải thích cho bản kết luận của UBKT TU, của Chính Phủ, của dư luận về vai trò tổng giám đốc của cá nhân ông Phạm Thanh Bình, đưa Vinashin đến bờ phá sản, vi phạm quy định, đưa người nhà vào lãnh đạo, làm trái vụ lợi.

Nếu với hành lang pháp lý như ở Đức, trong trường hợp Vinashin, Chủ tịch hội đồng quản trị phải bị cách chức ngay. Tổng Giám Đốc phải huỷ ngang hợp đồng làm việc, và bị điều tra tài sản cá nhân bằng cách cân đối thu chi cá nhân và mức tăng trưởng tài sản gia đình, trong khoảng thời gian tại chức – vốn là 1 quy trình chống tham nhũng hữu hiệu trên thế giới đã không được áp dụng ở ta.

Việc mất khả năng thanh toán, phá sản, dù là doanh nghiệp nhà nước, đều phải chuyển qua toà án phán xét, bởi liên quan đến tranh chấp lợi ích giữ người cho vay, cổ đông (nhà nứơc góp vốn) và có thể trục lợi từ lãnh đạo.

Về phần nhà nước, do coi Vinashin là một doanh nghiệp như trong nền kinh tế quản lý tập trung, chính phủ chứ không phải bản thân Vinashin, phải chịu trách nhiệm với số phận của nó, vì vậy bất chấp hiệu quả, áp dụng các biện pháp kinh tế quản lý tập trung; không để kiểm toán kiểm tra; cấp vốn, bảo lãnh tiền vay, khoanh nợ, giãn nợ, vi phạm cả nghị định 09/2009/NĐ-CP của chính minh, quy định hệ số nợ không quá 3 lần vốn, ra chỉ thị nghị quyết v.v.. để cứu Vinashin vốn thực chất bị chi phối bởi nhóm lợi ích của nó, mặc lao động mất việc, nợ bảo hiểm lớn.

Nếu nhà nước coi Vinshin đúng là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, muốn cấp tài chính cứu nó khỏi bờ vực phá sản thì trước hết phải bằng văn bản lập pháp do quốc hội thông qua, chứ không phải Thủ tướng; bởi ngân sách, tài chính nước nào cũng có hạn, chưa nói Việt Nam còn nghèo, chi cho Vinashin thì phải cắt giảm các khoản chi ngân sách khác cho nhu cầu quốc kế dân sinh. Quốc hội chứ không phải chính phủ phải chịu trách nhiệm cao nhất đối với ngân sách.

Thanh tra mang tính chất xác định sai phạm, trách nhiệm, liên quan đến hoạt động của cơ quan nhà nước, còn đối với doanh nghiệp kinh doanh, nhà nước cần nhất là thuế giá trị gia tăng và thuế lợi nhuận doanh nghiệp – một nguồn thu cơ bản của ngân sách, không thể chờ thanh tra mà phải được quyết toán và kiểm tra thuế hàng năm, đến từng hoá đơn chứng từ. Nhưng tới nay nhà nước không nắm được bản cân đối tài sản của Vinashin, nghĩa là cơ quan chức năng nhà nước liên quan không làm tròn bổn phận, nếu phải xử lý, thì trước hết phải nhắm vào cơ quan này.

Theo học thuyết Mác, nền kinh tế thị trường chạy theo lợi nhuận làm giàu dựa trên sức người lao động, vì vậy, lao động là đối tượng nhà nước phải quan tâm trước hết, giải thích tại sao tiền lương và trích nộp qũy bảo hiểm là vấn đề pháp luật ở các nước hiện đại, được giải quyết bằng con đường toà án, không thể để tới 250 tỷ lương và bảo hiểm Vinashin không trả mà vẫn không hề hấn gì.

Cũng như con người, bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể phạm pháp, điều tra phải là công việc của Công an, Viện Kiểm sát, chứ không phải thanh tra hay chính phủ. Nếu khẳng định Vinashin làm trái, thì Viện Kiểm sát phải vào cuộc, UBKTTƯ là cơ quan Đảng có hiệu lực đối với tổ chức và cán bộ đảng, Vinashin với tư cách là một doanh nghiệp không phải đối tượng điều tra của UBKTTƯ, mà là của cơ quan pháp luật.

Vinashin đã mang trong mình nó mâu thuẫn không thể điều hoà giữa 2 loại hình kinh tế ngược nhau, hệ quả hiện nay là tất yếu, và sẽ không chỉ với Vinashin; và cũng sẽ không thể xoay ngược được tình thế ngay cả sau khi xé nhỏ, câu hỏi chỉ là thời gian, nếu nhà nước vẫn không thực hiện đầy đủ các nguyên lý kinh tế thị trường đối với doanh nghiệp của chính mình.

http://tuanvietnam.net/2010-07-15-tap-doan-o-vn-chi-su-do-vo-la-giong-the-gioi-tap-doan-voi-mau-thuan-luat-thi-truong-va-quan-ly-tap-trung

______________
Tái cấu trúc tiến trình xây dựng quyết sách
Tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi (Theo Tia Sáng)
09/07/2010

Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để tái cấu tái cấu trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó.

Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 4 (nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán)… Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo thì phải có một quy trình ra quyết sách tương ứng với nó- đó là quy trình từ dưới lên, quy trình dân chủ với sự tham gia của mọi thành phần xã hội, có khả năng hoạch định được những quyết sách có chất lượng cao.

Chúng ta xuất phát từ đâu?

Trong hội thảo đi tìm mô hình tăng trưởng cho Việt Nam do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày 23/6/2010, Gs. Kenichi Ohno phân chia 5 đẳng cấp quốc gia như sau:

– Đẳng cấp hạng 5, thấp nhất: nông nghiệp tự cung tự cấp, phụ thuộc vào viện trợ. Đây là đẳng cấp của Việt Nam năm 1986, năm Đổi mới.

– Đẳng cấp hạng 4: sản xuất giản đơn: Nuôi tôm, bóc vỏ, xuất khẩu. Nhập nguyên liệu dệt, sản xuất vải, may áo, đem bán. Khai thác tài nguyên, sơ chế, bán cho Trung Quốc… Đẳng cấp của Việt Nam hiện nay.

– Đẳng cấp hạng 3: có các ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành này được nuôi dưỡng bởi các công ty đầu tư nước ngoài. Đây là trình độ hiện nay của Thái Lan, Malaysia, một phần lực lượng kinh tế của Trung Quốc.

– Đẳng cấp hạng 2: Làm chủ công nghệ, quản lý, sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Đây là đẳng cấp của Hàn Quốc, Đài Loan, và một số thành phố phía Đông của Trung Quốc.

– Đẳng cấp hạng nhất: Sáng tạo (trong đó có cải tiến) trong sản xuất như là kẻ dẫn đầu. Đây là đẳng cấp của Mỹ, Nhật, EU.

Nhiệm vụ của Việt Nam là trong vòng khoảng 2 thế hệ, phải từ tiến hóa thành quốc gia “hạng nhất”, sáng tạo với tư cách là kẻ dẫn đầu. Để thực hiện được mục tiêu này chúng ta cần đến tính khoa học và dân chủ trong cấu trúc của tiến trình ra quyết sách, và cách sắp xếp thế trận hợp lý để thực thi các quyết sách đó.

Khiếm khuyết của tiến trình hoạch định quyết sách nhìn từ những siêu dự án

Thời gian qua, Việt Nam chứng kiến sự nợ rộ của những siêu dự án: “quy hoạch Hà Nội”, “thành phố ven sông Hồng”, “đường sắt cao tốc”… Những dự án này đều do các nhóm tư vấn nước ngoài thực hiện.

Những tổ chức tư vấn này đề xuất những hạng mục đòi hỏi một khả năng tài chính và kỹ thuật mà Việt Nam hiện chưa làm nổi. Nếu phê duyệt dự án, cách duy nhất để thực hiện là vay ODA và trao thị phần cho nước mình vay.

Các Nhóm tư vấn nước ngoài này không hề độc lập mà chỉ là một mắt xích trong “binh pháp ODA” của các nước phát triển hơn ta. Các nhà khoa học Việt Nam chỉ được biết đến các dự án đó khi cơ quan chủ trì đem ra “lấy ý kiến” và “xin phê duyệt”. Vì thế hầu như họ phải phản biện trong tình trạng chạy theo đuôi tình thế.

Kết quả tất yếu của cách vận hành chính sách như trên là, những khoản “béo bở” nhất của đại dự án thì thuộc về nước ngoài. Người Việt Nam, do ràng buộc của tài chính, kỹ thuật và điều khoản hợp đồng ODA, chỉ có thể làm thuê bên lề. Trong một “thế trận” như vậy, cả một khoản đầu tư khổng lồ được tung ra, nhưng không trở thành động lực vật chất, không trở thành cơ hội cho sự phát triển của các công ty, viện nghiên cứu của Việt Nam.

Bên cạnh đó, ngay cả ở nhiều quyết sách do Việt Nam hoàn toàn chủ động thực hiện, chất lượng cũng thấp. Cách đây chưa lâu, Đề án 112, cải cách hành chính theo hướng xây dựng “chính phủ điện tử” là một ví dụ.

Qua các siêu dự án trên cho thấy chất lượng nhiều quyết sách của Việt Nam còn thấp. Nguyên nhân của điều này là tính bất hợp lý trong cấu trúc của tiến trình hoạch định quyết sách.

– Trong các Bộ Trung ương cũng không có các cơ quan hoạch định quyết sách chuyên nghiệp, tập hợp những tài năng thực sự và được đãi ngộ xứng đáng. Các cán bộ ở các Bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc một lúc và không được đãi ngộ để thoát khỏi nỗi lo cơm áo. Họ gần như bỏ rơi quản lý chiến lược, sa vào quản lý các dự án cụ thể. Khi họ viết nghiên cứu chiến lược thì hầu như chỉ biết đến Bộ mình mà không thảo luận với chuyên gia ở các Bộ, Ngành liên quan, không tham khảo ý kiến các Viện nghiên cứu, các trường đại học.

Mặt khác, khi tư duy quyết sách, không thể không tham khảo ý kiến các Nhóm xã hội liên quan, đặc biệt là các Hội nghề nghiệp của xã hội dân sự. Nhưng ở nước ta, các Nhóm xã hội này đang gặp vấn đề. Hoặc là bị nước ngoài thao túng như Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô (VAMA), hoặc không được cấu trúc một cách hợp lý như Hiệp hội lương thực (VFA), hoặc còn chưa trưởng thành để có tiếng nói với chính sách như Hội Nông dân… Và hơn hết, các Hội này, chẳng hạn Hội nông dân và Hội lương thực, không có cơ chế nào để đối thoại với nhau mỗi khi xung đột lợi ích. Mạnh được, yếu thua. Ta sống, mày chết.

Bên cạnh đó, khi mỗi “chiến lược” được viết xong, không có bất kỳ một think tank(s) nào được đặt hàng thẩm định, phản biện. Đơn giản chỉ vì chúng ta không có một think tank nào để làm việc đó.

Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định

1. Chính phủ cần xây dựng tầng lớp tư duy chiến lược chuyên nghiệp thông qua hình thức các think tank(s). Ở Trung Quốc, thời đại của những quân sư phe phẩy quạt mo như Gia Cát Lượng của Lưu Bị, đã qua từ lâu. Học tập mô hình ra quyết sách của các nước tiền tiến, Trung Quốc đã xây dựng khoảng hơn 700 think tanks, tức các cơ sở nghiên cứu chiến lược và chính sách, cả ở cấp chính phủ lẫn địa phương, nhà nước lẫn dân sự, và cả những cơ sở nửa nhà nước nửa dân sự.

2. Việt Nam cần tái cấu trúc các Hiệp hội nghề nghiệp, theo 2 nguyên tắc “Dân chủ” và “Tất cả cùng thắng”. Dân chủ để giải quyết mọi vấn đề thông qua đối thoại và tư duy chiến lược, để không ai bị loại bỏ tiếng nói vì bất cứ lý do gì. “Tất cả cùng thắng” để mọi thành phần dân tộc đều có cơ hội tìm kiếm miếng cơm manh áo trên quê hương mình, không phải theo nguyên tắc “ta sống, mày chết” của chủ nghĩa tư bản thời hoang dã. Một ví dụ. Việt Nam có hiệp hội các nhà sản xuất ô tô xe máy, nhưng lại không có Hiệp hội các nhà nhập khẩu ô tô xe máy. Hậu quả của thế trận này là, trong lĩnh vực ô tô, Việt Nam chỉ tồn tại một nhóm lợi ích duy nhất, do nước ngoài thao túng, có khả năng tác động tới bộ phận hoạch định chính sách của Nhà nước, làm cho chính sách thuế nhập khẩu ô tô bất hợp lý một cách dai dẳng, bóp chết mọi hi vọng nội địa hóa ngành công nghiệp này, dù các nhà nghiên cứu của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lên tiếng từ hơn 10 năm nay.

3. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần được loại bỏ cấu trúc tương tự như các cơ quan hành chính hiện nay, tái cấu trúc theo một “thế trận” mà các chức năng nghiên cứu và đào tạo có thể được vận hành thông suốt. Đẳng cấp của trường đại học được tính bằng đẳng cấp của người thầy đại học, và đẳng cấp của viện nghiên cứu được đo bằng đẳng cấp của nhà nghiên cứu mà nó có. Do đó, xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế” là xây dựng những người thầy đẳng cấp “quốc tế”, thay đổi số phận của đại học Việt Nam là thay đổi số phận của người thầy đại học của Việt Nam, tái cấu trúc đại học là tái cấu trúc quá trình phát triển trí tuệ và các năng lực của người thầy. Đối với các viện nghiên cứu cũng vậy. Lấy “người thầy” và “nhà nghiên cứu” làm điểm xuất phát để hoạch định chiến lược, con đường phát triển nền đại học và khoa học Việt Nam.

Lực lượng này cần trường thành vì đây là một trong những môi trường tạo tiền đề về tổ chức và tri thức để nuôi dưỡng và sinh thành những nhà tư duy chiến lược trong các lĩnh vực khác nhau, không chỉ cho hôm nay mà còn cho các thế hệ kế cận.
Quyết định mở rộng Hà Nội đặt câu hỏi về quy trình ra quyết sách của VN.

Khi nào xây dựng lại và tái sắp xếp tất các các thành tố xã hội nêu trên, thì Việt Nam sẽ có điều kiện tương đối đầy đủ để xây dựng quyết sách theo quy trình dân chủ như thường thấy ở các quốc gia hạng nhất, quy trình “từ dưới lên”, quy trình có khả năng kiến thiết những chính sách chất lượng cao.

Quy trình này sẽ làm cho quá trình hoạch định chính sách thực sự là một cuộc thử thách trí tuệ, khi mà mọi thành phần xã hội đều được tham gia tiếng nói hoàn toàn khác với sự dễ dàng ra một quyết sách theo lề thói quan liêu. Khi bắt đầu nghiên cứu chính sách, việc tham khảo tư vấn nước ngoài, cũng như việc tham vấn ý kiến của tất cả các Nhóm xã hội, là hết sức cần thiết, nhưng tuyệt đối không thể để rơi vào tình thế lệ thuộc.

Việt Nam cần có một lực lượng hoạch định chính sách chuyên nghiệp, với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội khác nhau. Các nhóm lợi ích và các cơ quan tư vấn nước ngoài như World Bank, Ngân hàng ADB, JICA của Nhật… không được phép tư vấn trực tiếp cho các Bộ, các cơ quan ra quyết định, mà chỉ được phép làm việc với các Nhóm nghiên cứu chính sách chuyên trách của Chính phủ. Điều này sẽ giúp Việt Nam nắm bắt chính xác các vấn đề thực tiễn của đất nước theo quy trình “từ dưới lên”, và tiếp cận một cách chủ động các kinh nghiệm quốc tế, song không để cho các nhóm tư vấn nước ngoài và các nhóm lợi ích thao túng chính sách.

Quá trình tranh luận và đối thoại, cùng tất cả các dạng thức của nó như “đề xuất” và “bác bỏ”, “chứng minh” và “phản bác”, “biện hộ” và “phê phán”… cần phải được tiến hành triệt để trước khi quyết sách được hoàn tất để trình Quốc hội. Chỉ có như thế, các chính sách lớn khi trình lên Quốc hội mới có thể đến trạng thái “chuẩn không cần chỉnh” ở khâu phân tích chiến lược. Và từ đây, niềm hi vọng thúc đẩy Việt Nam tiến hóa từ quốc gia hạng 4 lên những đẳng cấp cao hơn mới bắt đầu không còn là một ảo vọng.

Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để tái cấu tái cấu trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó. Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 5 và hạng 4. Nếu chỉ bằng lòng với việc “nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán” thì cũng không cần lắm đến tính dân chủ của tiến trình ra quyết định. Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo thì phải có một quy trình ra quyết định tương ứng với nó. Dùng mô hình ra quyết định của nền kinh tế đẳng cấp hạng 4 thì không thể xây dựng được những chính sách có khả năng đi tới nền kinh tế hạng 1.

Công việc “sắp xếp lại giang sơn” này, nếu không phải là những nhà lãnh đạo đang đứng ở những “đỉnh cao chỉ huy” (hay là “những cao điểm chiến lược”) của đất nước, với đầy đủ quyền lực trong tay, thì không ai làm được.
http://tuanvietnam.net/2010-07-07-tai-cau-truc-tien-trinh-xay-dung-quyet-sach

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: