Hoàngquang’s Blog

09/07/2010

Hệ thống phòng thủ hữu hiệu cho Việt Nam

Filed under: Quân sự,VIỆT NAM-TRUNG QUỐC — hoangquang @ 9:50 sáng
Tags:

&Nỗi chán chường Bắc Kinh
Fareed Zakaria/ Newsweek

Việt Nam đặt mua năm máy bay tiêm kích Sukhoi đời mới của Nga

Theo Robert Karniol, cây viết chuyên về các vấn đề phòng thủ cho báo Straits Times, đe dọa đối với an ninh của Việt Nam trong những năm tới đến từ tranh chấp biển đảo tại Biển Đông.

Việt Nam, theo ông phải học cách sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau, và có thể phải mất 10 năm để sử dụng thành thạo hệ thống vũ khí đang đặt mua.

Lổ hổng trong kho vũ khí của Việt Nam hiện giờ, theo Karniol, là thiết bị phòng không. Ngoài máy bay tiêm kích đời mới, Việt Nam cần có máy bay thám thính cảnh báo sớm. Và hệ thống hỏa tiễn mặt đất, cùng mạng radar.

Trong cuộc trao đổi với BBC Việt Ngữ, nhà báo Robert Karniol nhận xét về chương trình mua sắm vũ khí của Việt Nam thời gian gần đây.

Robert Karniol: Vâng họ tăng cường lực lượng hải quân khá liên tục thời gian gần đây. Chuyện họ cần làm trong 10 năm tới là học cách sử dụng các loại vũ khí này. Mọi người nên hiểu rằng mua tàu ngầm là một việc, sau đó biết cách sử dụng chúng một cách thành thạo là hai việc khác nhau. Máy bay tiêm kích đời mới, hoặc máy bay tuần duyên cũng vậy. Thậm chí hệ thống hỏa tiễn của Israel nữa. Sẽ mất nhiều thời gian tập dượt để có thể sử dụng thành thạo các loại vũ khí này.

BBC: Thưa ông VN mua sắm vũ khí vậy đã đủ hay chưa. Liệu còn lỗ hổng nào phải trám hay không?

Robert Karniol: Hiện nay vẫn còn một số lỗ hổng trong kho vũ khí của Việt Nam. Điều dễ thấy nhất là hệ thống phòng không. Ví dụ như máy bay trang bị radar báo động sớm. Phương tiện này giúp phối hợp các chiến đấu cơ hiện đại với hệ thống vũ khí mặt đất như hỏa tiễn và radar. Các vũ khí này cần hoạt động nhịp nhàng, ăn ý với nhau. Và Việt Nam chưa đạt đến mức độ phòng thủ đầy đủ như vậy.

BBC: Ông có thể giải thích thêm về kỹ năng dùng vũ khí mới. Ông vừa nói có tiền mua chúng là một chuyện nhưng để sử dụng chúng một cách thành thạo lại là chuyện khác. Và ông nói có những vũ khí mới phải học tới 10 năm mới phát huy tác dụng.

Robert Karniol: Vâng, hệ thống vũ khí thường là phức tạp. Nói về tàu ngầm trước, và chúng ta nhìn vào những nước dùng tàu ngầm lần đầu tiên, từ lúc họ bắt đầu tính mua tàu ngầm, đến khi họ đặt hàng và nhận tàu, thường mất 10 năm. Trường hợp của VN tôi cho rằng nước này sẽ đợi thêm một số năm nữa thì mới đến ngày Nga giao hàng. Và từng chiếc một, chứ không nhận hết cùng một lúc. Cạnh đó tôi muốn nhắc ông rằng khoảng năm 1996, Việt Nam nhận hai tàu ngầm từ Bắc Hàn. Tính ra họ đã có hơn chục năm học kinh nghiệm cơ bản về tàu ngầm. Tàu ngầm Kilo họ mua từ Nga chắc chắn hiện đại và tinh vi hơn so với tàu của Bắc Hàn. Và chuyện học hành sẽ dễ hơn nếu bạn bắt đầu bằng hệ thống đơn giản trước.

Việt Nam đặt mua sáu tầu ngầm Kilo, loại chạy diesel và điện của Nga.

BBC: Kinh nghiệm dùng tàu ngầm của Trung Quốc ra sao, thưa ông?

Robert Karniol: Tôi không biết Việt Nam cần bao nhiêu năm để phát huy hết các tính năng của tàu ngầm mua từ Nga. Nhưng nếu ông nhìn vào Quân đội GPND Trung Quốc, TQ đã điều khiển tàu ngầm khoảng một thập kỷ qua. Cho đến gần đây nhất, tàu của họ chủ yếu hoạt động men theo bờ thôi. Chưa đi ra ngoài xa được. Cho nên tôi muốn nói sẽ mất nhiều thời gian để học kỹ năng sử dụng tàu ngầm và hệ thống hỗ trợ tàu ngầm.

BBC: Thưa, tôi muốn hỏi ông về cách mua sắm vũ khí, mua cách nào để có lợi nhất? Liệu rẻ có phải là hay nhất không? Và quan hệ chính trị giữa nước này, nước khác có liên quan đến chuyện mua bán hay không?

Robert Karniol: Nếu đặt chính trị sang một bên, ngày nay mua vũ khí rất dễ, nếu có tiền. Rất nhiều hãng sản xuất muốn bán vũ khí hay hệ thống phòng thủ. Hạn chế chủ yếu đối với Việt Nam, cho đến nay, là chuyện Hoa Kỳ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam. Vì lệnh cấm vận của Hoa Kỳ cho nên một số nước có quan hệ gần gũi với Hoa Kỳ cảm thấy ngập ngừng khi bán vũ khí, nhất là loại sát thương, cho Hà Nội.

BBC: Lệnh cấm vận của Mỹ về buôn bán vũ khí đối với Việt Nam, xin ông giải thích thêm?

Robert Karniol: Chắc ông còn nhớ năm 1995 hai nước Mỹ-Việt bình thường hóa quan hệ ngoại giao, mở tòa đại sứ tại hai thủ đô. Cùng lúc, Mỹ bỏ cấm vận về kinh tế đối với VN. Nếu ông nhìn vào hàng chữ in nhỏ của tuyên bố bỏ cấm vận, Mỹ giao thương bình thường với VN về kinh tế nhưng vẫn duy trì cấm vận mua bán thiết bị quân sự. Tức là ngay cả khi không còn cấm vận kinh tế nữa, Hoa Kỳ vẫn chưa sẵn lòng bán, hoặc cấp cho VN các thiết bị quân sự. Vì lệnh cấm vận này, cho nên một số đồng minh của Hoa Kỳ, trong đó có Israel, đã ngập ngừng trong nhiều năm, trước khi ngỏ lời chào bán vũ khí cho Hà Nội.

BBC: Nhưng hai nước vẫn có thể trao đổi các loại vũ khí không sát thương phải không?

Robert Karniol: Đặt chính trị sang một bên, ngày nay mua vũ khí rất dễ, nếu như ai đó có tiền. Rất nhiều hãng sản xuất muốn bán vũ khí.

Bước đầu tiên, những nước này, trong đó có Hoa Kỳ, có thể bắt đầu cung cấp thiết bị quân sự cho Hà Nội, loại không sát thương. Ví dụ như radar, xe cộ các loại. Hoa Kỳ cho phép xuất cảng sang VN một số xe thiết giáp dùng cho cảnh sát. Hoa Kỳ cũng chào hàng Hà Nội một số máy bay loại tuần tiễu, không trang bị khí tài, dùng vào các mục đích vận tải khác nhau. Tôi biết là Hà Nội không quan tâm đến máy bay mà Hoa Kỳ chào hàng. Tôi cho rằng chúng không tốt lắm, vì là model cũ. Hà Nội có thể mua được hàng tốt hơn ở nơi khác. Rồi một số đối tác ngỏ ý thực hiện chương trình nâng cấp xe thiết giáp M113, mà Việt Nam có nhiều từ hồi chiến tranh để lại. Trong đó có Singapore và Israel. Nhưng phía Mỹ từ chối không làm việc qua đối tác trung gian để giúp Hà Nội hiện đại hóa đoàn chiến xa cũ kỹ này.

BBC: Xin ông trình bày về yếu tố đắt rẻ trong chuyện mua vũ khí?

Robert Karniol: Trở lại cách mua vũ khí có lợi nhất, tôi cho rằng đắt rẻ không quan trọng bằng tổng chi phí mua, trong đó có công bảo dưỡng. Ví dụ không nên quá chú ý đến giá của một chiếc chiến đấu cơ đời mới. Ta nên tính bao nhiêu năm thì phải thay động cơ, bao lâu phải nâng cấp radar, máy bay ngốn hết bao nhiêu nhiên liệu. Các nhân tố này khi gộp lại sẽ biến một chiếc máy bay rẻ thành đắt. Công bảo dưỡng, hỗ trợ kỹ thuật đôi khi tính ra gần bằng tiền mua máy bay. Về lâu dài người ta cần để ý đến dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật trong thời hạn dùng máy bay. Khi người ta mua vũ khí mới, ví dụ như tàu chiến, xe tăng, chiến đấu cơ, thời gian sử dụng được nói tới là từ 20 cho đến 30 năm. Chi phí để duy trì hoạt động bao gồm nâng cấp, thay phụ tùng. Cộng chi phí này với giá thành của vũ khí. Và chia ra số năm mình sẽ dùng. Để tính xem một năm vũ khí đó tốn bao nhiêu tiền.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/07/100702_karniol_vn_weapons.shtml

_______________
Nỗi chán chường Bắc Kinh
09/07/2010

Fareed Zakaria/ Newsweek

Lê Quốc Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ

Một thế lực đang lên đang bị ngăn trở bởi hoài nghi.

Trong vài tháng qua, các nhà ngoại giao nước ngoài đã thầm cằn nhằn với tôi về chính sách đối ngoại kiêu căng của một quyền lực thế giới. Có điều là họ cằn nhằn về Trung Quốc chứ không phải Hoa Kỳ. Một quan chức cấp cao từ một quốc gia đang phát triển đã cho biết trong kín đáo để không gây tức giận cho Bắc Kinh “Các quan chức Trung Quốc thường gặp gỡ chúng tôi với một tình cảm tuyệt vời và ấm áp của tình đoàn kết. Bây giờ họ lại xướng cho chúng tôi một danh sách các đòi hỏi”. Giới ngoại giao tại Bắc Kinh thuật lại rằng các quan chức Trung Quốc bây giờ đối xử với họ khác với chỉ một vài năm trước đây. Một nhà ngoại giao đã phàn nàn rằng thậm chí việc gặp gỡ các quan chức cao cấp cũng trở thành khó khăn. “Các nhân vật tôi hay gặp thường xuyên giờ đã từ chối cho tôi một cuộc hẹn”, tuần trước, một nhà ngoại giao nói với tôi ở Bắc Kinh như vậy.

Một số điều này là dễ hiểu. Như người Mỹ từng biết rất rõ: thành công nuôi lớn niềm tự tin. Và Trung Quốc đã rất thành công. Từ mối đồng thuận phổ biến, cả nước đã đi lên hàng đầu sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Gói kích thích tài chính khổng lồ của đất nước này đang xây dựng một thế hệ cơ sở hạ tầng mới, các ngân hàng của họ được ổn định, người tiêu dùng có mức tiết kiệm cao và Chính phủ tiếp tục chồng chất các dự trữ hiện có tổng giá trị gần 25 trillion. Nhưng qua một loạt các cuộc thảo luận với những người bên trong và bên ngoài của Chính phủ Trung Quốc tuần qua, tôi đã va chạm với ít kiêu ngạo hơn là sự hoài nghi, không chắc chắn, và nỗi e ngại dường như đang gây phiền phức cho người Trung Quốc.

Những người được tôi thăm hỏi vẫn tự tin về năng lực kỹ thuật để xử lý nền kinh tế của chế độ. Trong khi Wall Street lại bứt rứt về một Trung Quốc quá bức xúc, hầu hết mọi người dân ở đây dường như chắc chắn rằng Chính phủ sẽ có khả năng điều chỉnh để giữ được sự tăng trưởng ổn định, như họ đã từng thực hiện được trong quá khứ. Lo lắng về một thị trường bất động sản phù phiếm ở Bắc Kinh ư ? Vâng, các ngân hàng đã được lệnh phải ngừng ban phát nợ nhà và thuế bất động sản đang chuẩn bị để được tăng lên. Người dân Bắc Kinh bây giờ không thể mua nhiều hơn một căn hộ cho mỗi gia đình. Một khi sự phù phiếm vốn đang thay thế các quy tắc, trong tất cả các khả năng, sẽ được đảo ngược lại.

Nhưng một loạt các thay đổi sâu sắc hơn cũng được tiến hành. Trung Quốc đã chứng kiến những cuộc biểu tình đáng kể của giới công nhân trong những tuần gần đây, từ cuộc đình công tại một nhà máy Honda đến các giải thích mờ ám của vụ tự sát tại khu phức hợp Foxconn rộng lớn, nơi lắp ráp các iPhone. Một học giả gọi điều này là “sự kết thúc của mô hình nhà máy thế giới”, một mô hình mà Trung Quốc được coi là nhà sản xuất lương rẻ của cả thế giới. “Nền kinh tế của chúng tôi không thể cứ tiếp tục chèn ép các phúc lợi lao động bởi vì giới công nhân không còn sẵn sàng chấp nhận nữa”, ông Chang Kai, Giám đốc Viện Lao động của Đại học Renmin đã tuyên bố.

Điều này khác xa với thái độ của Chính phủ chỉ một vài năm trước đây, khi các quan chức cảnh báo rằng nếu công nhân Trung Quốc cứ đòi hỏi tăng lương, các doanh nghiệp sẽ di chuyển đi Việt Nam và Campuchia. Vào năm 2003, Zhang Zhixiong, Phó Chủ tịch Công đoàn lao động cho Hyundai tại Bắc Kinh, tuyên bố, “việc đình công tại Trung Quốc gây nguy hiểm cho thanh danh của đất nước”, và hứa hẹn sẽ không có đình công. Còn bây giờ Lee Chang-hee, tại Văn phòng Lao động Quốc tế của Bắc Kinh đã dự đoán rằng các công đoàn và sự thương lượng chung chắc chắn sẽ trở thành một phần của cảnh quan Trung Quốc, khiến sẽ đẩy mức lương lên cao.

Tất cả các trích dẫn ở đoạn trên đều trích từ tờ Trung Quốc nhật báo, một tờ báo tiếng Anh do Chính phủ xuất bản. Cách đây năm năm, không hề có điều gì như thế này lại được xuất hiện trong bất kỳ ngôn ngữ nào ở Trung Quốc, và trong những chốn riêng tư, cuộc tranh cãi ấy còn trở nên thẳng thắn. Trong một bữa ăn trưa ở Bắc Kinh, một thương gia Trung Quốc đã nói với tôi, “Trong nhiều phương diện, cuộc khủng hoảng tài chính và sự mất uy tín của mô hình Hoa Kỳ là không tốt cho chúng tôi. Ông thấy đó, chúng tôi thực sự không có một hệ tư tưởng nữa. Chúng tôi không biết phải tin vào những gì. Chúng tôi thường nghĩ – Tự do hóa, cởi mở, phát triển – là một số phiên bản của giấc mơ Hoa Kỳ. Nhưng sau đó quý vị đã có cuộc khủng hoảng của mình. Chúng tôi có thể nói rằng, cuộc khủng hoảng ấy chứng tỏ rằng chúng tôi đang mạnh mẽ. Nhưng bây giờ chúng ta đi về đâu?”

Cảm giác lo lắng đã bị trầm trọng thêm bởi sự chuyển đổi chính trị đang tiến hành ở Trung Quốc, trong đó các lãnh đạo hàng đầu sẽ được thay thế trong hai năm, và lần đầu tiên vị Chủ tích và Thủ tướng mới sẽ không liên hệ cá nhân hoặc được ban phước từ Đặng Tiểu Bình, vị kiến trúc sư của nền [kinh tế-xã hội] hiện đại của Trung Quốc nữa. Điều này sẽ có những hậu quả rộng lớn hơn. Trung Quốc biết rõ mình hiện là một quyền lực lớn và đòi hỏi mình phải được tôn trọng và lắng nghe. Nhưng việc thiếu sự bảo vệ những quyền lợi nhỏ hẹp của mình, chế độ vẫn có vẻ không chắc chắn được mình muốn gì trong bình diện quốc tế. Các mục tiêu rộng hơn của chính ngoại giao là gì? Là một đồng minh hay một đối thủ của Hoa Kỳ? Họ muốn định hình theo loại thế giới như thế nào ?

Trung Quốc đang bước vào một kỷ nguyên mới, nhưng dường như thiếu sự chuẩn bị về tư tưởng và điều hành cho mình. Điều đó có thể giải thích tại sao Bắc Kinh đã do dự và lưỡng tự trong thái độ của mình về sự tăng cường vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn và Iran. Trung Quốc ít kiêu ngạo hơn là sự mâu thuẫn, một điều mà Hoa Kỳ, trong vai trò là một cường quốc cũng đã từng hiểu rất rõ từ lịch sử ban đầu của mình.

Nguồn: X-cafevn
http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/noi-chan-chuong-bac-kinh.html#more

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s