Hoàngquang’s Blog

09/07/2010

10 năm cách điểm hẹn công nghiệp hóa

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 9:40 sáng
Tags:

Cập nhật lúc :9:30 AM, 06/07/2010
GS TSKH Nguyễn Ngọc Trân

Theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), chỉ còn 10 năm nữa là đến điểm hẹn Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại(1). Nền công nghiệp Việt Nam đang ở đâu, và cần làm gì để đạt mục tiêu của điểm hẹn?

Hiện trạng của công nghiệp Việt Nam

Trong cơ cấu của nền kinh tế quốc gia, công nghiệp nằm trong khu vực 2 (KV2) cùng với xây dựng. Theo số liệu thống kê, giá trị sản xuất của KV2 tăng tuyến tính từ năm 1990 – 2000 và lũy tiến tiếp theo đến năm 2008, tỷ trọng của KV2 trong GDP tăng nhưng không đều, chậm lại từ năm 2005 và sụt giảm năm 2008. Tỷ trọng bình quân của KV2 trong 19 năm (1990 – 2008) là 37,95%, cao nhất là 41,54% năm 2006, và năm 2008 là 39,84%. Trong các năm 1995 – 2008, giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến chiếm bình quân 57,7% của KV2, công nghiệp khai thác mỏ 23,5%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước 8,5%, và xây dựng 16.3%.

Nếu chỉ tính phần công nghiệp trong khai thác tài nguyên mỏ và nếu phần phân phối điện, khí đốt và nước được tính vào khu vực thương mại, dịch vụ thì giá trị sản xuất cũng như tỷ trọng của KV2 sẽ thấp hơn đáng kể so với số liệu theo cách tính hiện nay.

Trong Niên giám Thống kê, mục Công nghiệp chế biến có tất cả 23 đề mục, trong đó có một số đúng nghĩa là công nghiệp chế tạo (manufacturing), còn lại là công nghiệp chế biến (processing). Trong cả hai, chế tạo và chế biến, hiện nay chúng ta đang gia công, lắp ráp là chủ yếu, với nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu(2), sửa chữa, hoặc chế biến thô. Giá trị gia tăng do vậy không cao.

Sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, kể cả hàng tiêu dùng, còn yếu ngay trên thị trường nội địa. Có nhiều lý do, nhưng một nguyên nhân cơ bản là trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu.

Nói đến công nghiệp hóa là nói đến nguồn nhân lực đã qua đào tạo. Theo thông báo của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH vào đầu năm 2008, lao động Việt Nam đã qua đào tạo chiếm 30%, trong đó đã qua đào tạo tay nghề chiếm 23%, trong số này chỉ 25% được đào tạo dài hạn, có trình độ cao. Thông báo còn nói rõ việc đào tạo dạy nghề chưa gắn với sản xuất, chỉ mới đào tạo theo khả năng chứ không đào tạo theo yêu cầu của phát triển và của các doanh nghiệp(3).

Mặt khác, theo kết quả khảo sát của Bộ này đầu năm 2010, cả nước hiện chỉ có 18,7% số lao động nông thôn đã được học nghề.

Theo báo cáo của Chính phủ với Quốc hội, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2009 đạt 38% và phấn đấu đạt 40% năm 2010. So với số liệu năm 2008, tỉ lệ năm 2009 có chính xác không bởi lẽ cơ sở vật chất cho đào tạo và đội ngũ giảng viên không có những thay đổi tương ứng với “bước tiến nhảy vọt” này?

Trình độ công nghiệp hóa mới ở mức như hiện nay, nhưng những hủy hoại về môi trường, đặc biệt ở các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, là rất đáng báo động. Với cách quản lý về môi trường lỏng lẻo và nhiều sơ hở, đặc biệt trong khâu xử l‎ý nước thải, như trong thời gian vừa qua, thì không thể nào phát triển bền vững được, thậm chí có thể chết trước khi thấy được công nghiệp hóa như người dân sống ở những vùng ô nhiểm vẫn lo lắng!

GDP, KV 2 và tỷ trọng KV2 theo giá thực tế (1990-2008). Nguồn số liệu: Niên giám thống kê, Tổng Cục Thống kê

Cần chương trình hành động cụ thể

Còn mười năm nữa là đến hẹn. Đối chiếu với hiện trạng vừa được đề cập khái quát trên đây, trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia vừa hội nhập vừa cạnh tranh gay gắt, lại phải đối mặt với những khủng hoảng của nền kinh tế thế giới mà chu kỳ ngày càng nhặt, rõ ràng: (a) cần làm rõ nội hàm của cụm từ Cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại; (b) cần có một chương trình hành động cụ thể với hệ thống các chính sách và cơ chế đồng bộ đi kèm; (c) có sự chỉ đạo nhạy bén, đồng bộ và sát sao của Nhà nước.

Để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nền kinh tế phải chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu mà động lực là các nhân tố khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực được đào tạo trong đó một bộ phận có trình độ cao. Điều này đã được nói nhiều.

Từ tháng 12/1996, Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII đã ban hành hai nghị quyết lấy giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ làm hai quốc sách hàng đầu.

Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy có liên quan, trong đó có Luật Giáo dục (vừa được Quốc hội giám sát việc thực hiện một số vấn đề của giáo dục đại học tại kỳ họp thứ 7 vừa qua), Luật Khoa học và công nghệ (6/2000), Luật chuyển giao công nghệ (11/2006), và Luật công nghệ cao (11/2008). Các luật về thuế cũng được Quốc hội hết sức quan tâm nhằm tạo sự đồng bộ cần thiết.

Để tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động KHCN, Nhà nước đã thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ các cấp quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao các cấp.

Tạo lập thị trường cho công nghệ cũng là một nhiệm vụ rất được quan tâm và nhằm mục đích này, nhiều “hội chợ công nghệ” đã được tổ chức.

Tất cả những điều được liệt kê trên đây thể hiện quan điểm của Đảng là nguồn nhân lực được đào tạo và KHCN là hai chân trụ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thế tại sao tình hình vẫn chưa có chuyển biến theo hướng mong muốn? Xin nêu lên mấy vấn đề dưới đây để cùng nhau suy nghĩ và gợi ý cần làm gì.

– Cách tiếp cận của chúng ta còn dừng lại ở định hướng trong khi đáng l‎ý ra phải đi xa hơn, đi đến nhận diện và giải quyết các vấn đề(4).

Dừng lại ở định hướng nền kinh tế phải chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, được lặp đi lặp lại trên các diễn đàn khác nhau như một “khẩu hiệu”, sẽ không cho phép đi tới, mà cũng chẳng biết đi theo hướng nào, và phải làm gì.

– Thiếu sự phối hợp giữa Nhà nước, viện trường và các doanh nghiệp.

– Cần có sự chỉ đạo sát sao, trí tuệ và tâm huyết.

(Còn nữa)

———

1. Mục tiêu này được khẳng định trong thông báo của Hội nghị Trung ương 12, khóa X (3/2010). Lưu ý rằng cách viết này không nói rõ “cơ bản trở thành” là như thế nào. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đề ra mục tiêu cao hơn và rõ hơn : đến năm 2020 Việt Nam trở thành “một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại”.

2. Trong lĩnh vực công nghiệp điện tử, các sản phẩm HANEL, VIETRONICS, BELCO, … đã tồn tại một thời, nay đã biến mất ngay trên thị trường trong nước.

3. Thông báo của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH tại hội nghị kinh tế đối ngoại, ngày 9/1/2008.

4. Cách tiếp cận định hướng : Oriented Approach; Cách tiếp cận giải quyết vấn đề: Solving Problem Approach.

GS TSKH Nguyễn Ngọc Trân

http://www.baodatviet.vn/Home/KHCN/10-nam-cach-diem-hen-cong-nghiep-hoa/20107/101738.datviet

10 năm cách điểm hẹn công nghiệp hóa (tiếp theo)
Cập nhật lúc :8:57 AM, 07/07/2010

Chọn những công nghiệp chủ lực gì, sản phẩm nào, với trình độ công nghệ nào, cần những chính sách gì ở Nhà nước, với nguồn nhân lực từ đâu, … là những câu hỏi khó nhưng sẽ có những đáp án nếu Nhà nước biết huy động trí tuệ của chuyên gia, đặc biệt cùng các doanh nghiệp và viện trường động não.

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nơi nào có được sự phối kết hợp thực chất giữa bộ ba, các trường đại học và các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp và Nhà nước thì nơi đó cả ba đều được hưởng thành quả. KHCN có điều kiện để tham gia vào sự phát triển đất nước và qua đó tự nâng mình lên (1).

Các viện nghiên cứu, tuy có nhiều kết quả và công trình khoa học, vẫn chưa đáp ứng sự mong đợi của xã hội. Cần tự xem xét lại phần chủ quan của mình; nói lên các lý do còn ràng buộc sự thi thố của đội ngũ khoa học và công nghệ, và đề xuất những hướng nghiên cứu triển khai cần tiến hành trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa mà mình sẵn sàng đảm nhiệm.

Các trường đại học ở nước ta đang phát triển theo chiều rộng, đã đạt được một số thành tựu về số lượng nhưng còn nhiều yếu kém bất cập mà Quốc hội vừa qua đã tiến hành giám sát (2). Tuy nhiên vẫn có nhiều trường đại học đảm bảo chất lượng, có những trường có truyền thống giảng dạy và nghiên cứu cần được phát huy. Các bàn tròn sẽ là mãnh đất thuận lợi cho việc gắn giảng dạy, nghiên cứu khoa học với tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đây là niềm tự hào cho các trường và là một chỉ tiêu về đẳng cấp mà đất nước và nhân dân mong đợi và trao tặng.

Các doanh nghiệp ở nước ta hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn lực có hạn. Họ đang mong đợi ở Nhà nước, và sẵn sàng góp ý xây dựng, một chương trình phát triển công nghiệp nhằm vào điểm hẹn 2020, với những cơ chế chính sách đồng bộ đi kèm.

Các doanh nghiệp “có tầm cỡ” tuyệt đại bộ phận là các tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty nhà nước. Các tổ chức kinh tế này nói chung rất an tâm với các nhiệm vụ kinh doanh được ưu tiên cũng như với nhiều ưu đãi về cơ chế chính sách.

Thị trường công nghệ chỉ tồn tại khi các doanh nghiệp quan tâm đến đổi mới công nghệ. Có một thực tế đáng tiếc là phần lớn các tổ chức kinh tế nhà nước chưa chú ý đúng mức, nếu không nói là có phần sao nhãng việc đổi mới công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế mà các tổ chức này được giao nhiệm vụ là “nấm đấm chủ lực” (3).

Năng lực cơ khí, nhất là cơ khí chính xác của nước ta, yếu tố căn bản của nền công nghiệp chế tạo, là một hạn chế khách quan đối với thị trường công nghệ trong nước. Nhưng nếu không có cơ chế chính sách để vượt qua, nếu vẫn thích nhập hàng ngoại vì có sẵn, và có cả hoa hồng nữa, thì năng lực cơ khí và nền công nghiệp chế tạo của nước ta sẽ tiếp tục dẫm chân, nghĩa là đi thụt lùi.

Nhà nước phải là người chủ động đề xướng sự huy động trí tuệ của cả nước, mà “bàn tròn” là một hình thức, vì sẽ là người thụ hưởng những phản biện xây dựng, những đề xuất và các sáng kiến từ sự động não đó.

Ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu triển khai đã tăng liên tục nhiều năm nay và đạt 2% của tổng chi ngân sách nhà nước, nhưng lại ở trong nghịch lý “ít nhưng sử dụng không hết”. Các quỹ được thành lập cho khoa học và công nghệ có lẽ cũng cùng cảnh ngộ. Có nhiều lý do, nhưng cơ chế tài chính và cơ chế quản lý khoa học đang là những nguyên nhân chủ yếu của nghịch lý này (4).

Chính sách thuế cũng cần phải được Quốc hội giám sát, và Chính phủ rà soát lại, về mặt thực hiện cũng như về mặt nội dung. Thực tế của một số ngành công nghiệp trong thời gian qua cho thấy chính sách thuế đúng đắn sẽ thúc đẩy nền công nghiệp phát triển. Ngược lại, sự thiển cận và sự thực hiện bất nhất sẽ cản trở sản xuất, khuyến khích chạy theo cái lời trước mắt và tiêu dùng.

Đã được đúc kết thành ngạn ngữ: Vấn đề gì được quan niệm rõ ràng thì sẽ được phát biểu mạch lạc. Sẽ rất khó đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi mà còn có sự mơ hồ trong cách hiểu hai khái niệm này, nhất là ở những cương vị có trách nhiệm.

Báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải viết: “Dự án (đường sắt cao tốc Bắc-Nam) được tổ chức thực hiện sẽ góp phần để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận, tải trình bày dự án trước Quốc hội, khẳng định rằng “Chúng tôi lựa chọn phương án 4 (dự án đường sắt cao tốc) là vì muốn đi ngay vào hiện đại”. Dễ như thế sao?

Cuối tháng 11.2009, dự thảo Đề án tăng tốc để Việt Nam sớm trở thành một quốc gia mạnh về công nghệ thông tin lấy việc xếp hạng trong bảng xếp hạng của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), thứ 70 rồi thứ 60, làm một tiêu chuẩn “mạnh về công nghệ thông tin”. Xem kỹ tất cả các nhiệm vụ của đề án, tôi mới vỡ lẽ ra là xếp thứ hạng ITU càng cao, Việt Nam sẽ càng là một thị trường tiêu thụ mạnh mẽ hàng hóa truyền thông nước ngoài. Không hơn không kém!

Không thể hiểu tùy tiện các cụm từ “đi tắt đón đầu”, “đi ngay vào hiện đại”. Hiểu sai một ly sẽ đi một dặm. Thay vì đưa đất nước đến đích “cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại” cách đi đó sẽ dẫn thẳng đến một xã hội “tiêu dùng theo hướng hiện đại” được trang trải bằng tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, và sức lao động của 70% dân số vẫn còn đang “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”.

Chú thích:

1. Nguyễn Ngọc Trân, Báo cáo các chuyến khảo sát tại Hoa Kỳ, 8.2000 và tại Hàn Quốc tháng 10.2008 gửi Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

2. Xem báo cáo của đoàn giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội Về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm báo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học (1998-2008) vừa triển khai đầu năm 2010, và Nghị quyết của Quốc hội về chủ đề này.

3. Những số liệu tập hợp được, tuy chưa đầy đủ, cho thấy không mấy tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước biết khai thác cuộc khung hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua, sử dụng “gói kích cầu” để đổi mới công nghệ.

4. Nghịch lý này đã được thảo luận nhiều lần tại Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghẹ quốc gia. Cơ chế tài chính phải được đổi mới để các nhà khoa học có thể tập trung vào các công trình phục vụ sản xuất và đời sống, và không phải lao tâm tìm các chứng từ để quyết toán các định mức chi luôn luôn lạc hậu. Nếu Quốc hội quyết định tổ chức giám sát lĩnh vực này như vừa làm đối với giáo dục đại học. thì sẽ sáng ra nhiều vấn đề cần được tháo gỡ.

GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
http://www.baodatviet.vn/Home/KHCN/10-nam-cach-diem-hen-cong-nghiep-hoa-tiep-theo/20107/101920.datviet

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: