Hoàngquang’s Blog

06/07/2010

Vinashin: Cuộc đại phẫu thuật bên bờ vực thẳm? Tái cơ cấu Vinashin?

Filed under: Chính trị- xã hội,Kinh tế — hoangquang @ 2:41 sáng
Tags:

Vinashin: Cuộc đại phẫu thuật bên bờ vực thẳm?
Cập nhật lúc: 7/2/2010 10:58:28 AM (GMT+7)

Trần Thuỷ

+Vinashin: vốn Nhà nước bị xẻ cho người thân sai nguyên tắc-VNN
+ Nguyễn Quang A – Tái cơ cấu Vinashin?

+Tái cơ cấu Vinashin hay là hành động “đốt hóa đơn chứng từ”? KS Vi Toàn Nghĩa

+ Vấn đề Vinashin – nhìn từ nhiều phía -PGS TS Vũ Trọng Khải

Không giải cứu mày thì tao chết, giải cứu mày thì dân chết, thôi phải chọn cái để tao sống vậy! (Hình minh họa lấy từ blog Đông Ngàn Đỗ Đức)

Chính phủ không nên đứng ra bảo lãnh cho các DNNN vay tiền, cả trong nước và nước ngoài. DN phải đi vay bằng uy tín của bản thân không phải bằng uy tín quốc gia. Tự mình đi vay, họ sẽ tính toán, suy nghĩ cẩn trọng hơn và sử dụng hiệu quả hơn. (David Dapice, tiến sĩ chương trình Fullbright tại Việt Nam)

Nhìn lại quá trình đầu tư phát triển của Vinashin đến nay những người quan tâm không khỏi băn khoăn về cách làm ăn của Tập đoàn này.

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ (Vinashin) sẽ phải tái cơ cấu lại, theo hướng chia làm 3, một phần giữ lại là Vinashin, một phần nhập về Tập đoàn Dầu khí và phần còn lại nhập về Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam.

Thời gian qua Vinashin có những đóng góp nhất định cho ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển của Việt Nam. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và đặc biệt là do đầu tư dàn trải, quản lý công nợ; các dự án còn hạn chế; yếu kém nên tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của Vinashin lâm tình trạng hết sức khó khăn với khoản nợ các loại lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng.

Nhìn lại quá trình đầu tư phát triển của Vinashin đến nay những người quan tâm không khỏi băn khoăn về cách làm ăn của Tập đoàn này.

Đầu tư dàn trải

Những nguyên nhân chủ quan: đầu tư dàn trải, quản lý dự án, công nợ, dòng tiền… còn hạn chế, hệ thống quản lý có nhiều khâu chưa theo kịp và thích ứng nhanh với tình hình biến động khủng hoảng nên họat động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của Tập đoàn rơi vào tình trạng rất khó khăn, phải khẩn trương, kiên quyết cơ cấu lại, cả về tổ chức sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, với yêu cầu là: duy trì, phát triển ngành công nghiệp cơ khí đóng, sửa chữa tàu biển; khai thác sử dụng có hiệu quả các dự án, các năng lực sản xuất kinh doanh đã và đang đầu tư; không để ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng. (Trích thông cáo báo chí phát đi từ Bộ GTVT ngày 1/7)

Đầu tư dàn trải thể hiện ngay ở việc Vinashin tham gia vào quá nhiều dự án ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau từ đóng tàu đến vận tải biển, cảng biển, sản xuất thép, xi măng, bia, dịch vụ hàng không, bảo hiểm, ngân hàng, nhập khẩu ôtô xe máy và mới đây còn lấn sân sang lĩnh vực trồng trọt: trong Hội chợ Vietship do Vinashin tổ chức, tháng 3/2010 vừa qua, có cả gian bày thanh long và khóm thơm của một DN thành viên dự kiến sẽ trồng để đa dạng hóa ngành nghề.

Chính vì đầu tư dàn trải đã khiến cho hiệu quả đầu tư không cao. Nhiều dự án đến nay thiếu vốn, bị dở dang do không cho ra sản phẩm trong khi vốn đầu tư không thể thu hồi và các khoản nợ ngày càng lớn.

Bộ Tài chính cho biết, đến hết năm 2008, Vinashin đã giải ngân xong 750 triệu USD huy động từ trái phiếu quốc tế do Chính phủ bảo lãnh. Tổng số dự án sử dụng nguồn vốn này lên tới 219 nên số lượng dự án dở dang nhiều và phần lớn chưa phát huy được hiệu quả.

Tính đến 31/12/2008, số lượng dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu quốc tế đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đồng bộ là 56 dự án, số còn lại là 163 dự án. Như vậy, có đến 75% số dự án chưa phát huy tác dụng.

Việc thu hồi nợ của các đơn vị thành viên đã được cho vay lại từ nguồn vốn trái phiếu thì 100% các đơn vị sử dụng vốn trái phiếu quốc tế đã không trả được khoản lãi tính đến 31/12/2008 là 57,20 triệu USD, tương đương với hai kỳ trả nợ lãi của trái phiếu quốc tế.

Kết quả thanh tra giữa năm 2008 cho thấy, tại 10 DN thành viên lớn thuộc Vinashin đã có 122 dự án được duyệt với tổng mức đầu tư 54.179 tỷ đồng. Đặc biệt theo chủ trương và phê duyệt dự án thì nhiều dự án cơ bản được hoàn thành trong năm 2007, tuy nhiên việc triển khai dự án đều chậm. Một trong các nguyên nhân quan trọng chính là do khả năng đáp ứng về vốn quá hạn chế.

Tại thời điểm thanh tra giữa năm 2008, hầu hết các doanh nghiệp đều báo cáo rất “đói” về vốn, chưa tìm được nguồn để cân đối vốn đầu tư như: Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nha Trang 891 tỷ đồng; Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Cái Lân 495 tỷ đồng; Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Bạch Đằng 2.400 tỷ đồng; Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu 3.982 tỷ đồng, Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Phà Rừng 3.749 tỷ đồng.

Không hiệu quả

Nhiều dự án đầu tư của Vinashin đến nay được cho là không có hiệu quả. Đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất thép có khá nhiều dự án kiểu “đầu voi đuôi chuột”.

Trao đổi với VietNamNet, ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, nhiều năm qua, Vinashin đầu tư sang khá nhiều dự án thép, lúc xin giấy phép dự án thì công bố “hoành tráng” nhưng triển khai thì… lại không thấy hiệu quả.

Cụ thể như, dự án nhà máy thép liên hợp sản xuất phôi thép tại Yên Bái, công suất 200.000 tấn/năm tổng vốn đầu tư gần 600 tỷ đồng . Nhà máy này tuy đã được làm lễ động thổ từ năm 2007, nhưng cho đến nay, sau 3 năm vẫn chưa đi vào hoạt động như kế hoạch đề ra.
Dự án Vinashin – Vinakansai (nhà máy thép Vinashin Cửu Long) sản xuất thép xây dựng cũng không mang lại kết quả, kể cả nhà máy cán tấm nóng 300.000 tấn/năm, dựa trên dây chuyền cũ ở Hải Phòng cũng chỉ sản xuất mang tính chất tượng trưng, không thể sản xuất liên tục.

Đặc biệt với dự án Nhà máy cán nóng thép tấm tại Quảng Ninh, dự án này đã được Vinashin có quyết định đầu tư vào năm 2002. Thông thường, với qui mô chỉ có 350.000 tấn/năm, là nhà đầu tư chuyên nghiệp thì chỉ cần 2 năm là hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành.Song đến nay, sau 8 năm xây dựng, nhà máy vẫn chưa có gì.

Đấy là chưa kể, trong năm 2006, Vinashin cũng đã ký bản ghi nhớ với Công ty thép Posco xây dựng nhà máy thép liên hợp qui mô công suất 4,5 triệu tấn/năm tại vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. Nhưng sau đó, đến năm 2008, Vinashin tuyên bố rút khỏi dự án trên mà không nêu rõ lý do. Về sau, Posco không được Chính phủ chấp nhận xây dựng tại Khánh Hòa nên dự án đã bị xóa bỏ.

Cũng trong năm 2008, Vinashin cùng tập đoàn Lion Group của Malaysia cũng đã hợp tác xây dựng nhà máy 8 triệu tấn/năm, tại tỉnh Ninh Thuận. Tháng 11/2007, hai bên đã làm lễ động thổ, song cho đến nay, dự án trên vẫn không triển khai được và UBND tỉnh Ninh Thuận đang tìm nhà đầu tư mới cho dự án này.

Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, việc đầu tư vào lĩnh vực sản xuất thép của Vinashin có nhiều vấn đề cần phải làm rõ về hiệu quả đầu tư và đề nghị Chính phủ cần chỉ đạo thanh tra toàn diện việc đầu tư của Vinashin sang thép.

Ngay cả trong lĩnh vực đóng tàu thì nhiều ý kiến cho rằng nguyên tắc mang tính khoa học trong quản trị các tập đoàn là phải tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho mỗi công ty trong Vinashin tham gia vào một hay một số công đoạn trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ mà Tập đoàn này cung cấp cho khách hàng; hoặc mỗi công ty trong Tập đoàn phải sản xuất ra một loại sản phẩm trong một phân khúc nào đó trong thị trường quốc tế nhằm tăng tính chuyên nghiệp trong các công đoạn sản xuất và cũng sử dụng hiệu quả các thiết bị máy móc thiết bị cũng như tránh được việc đầu tư thiết bị dàn trải và trùng lặp giữa các công ty con trong Tập đoàn.

Nhìn vào cơ cấu danh mục sản phẩm và việc tổ chức sản xuất và quản trị điều hành của Vinashin hiện nay thấy các công ty trực thuộc tập đoàn này sản xuất các sản phẩm đóng tàu giống nhau… cho thấy một sự lãng phí ghê gớm các nguồn lực do bị phân tán các nguồn lực trong việc đầu tư trang thiết bị, nguồn lực tài chính và con người trong việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ.

Mua sắm tràn lan, đầu tư tài chính mất vốn

Câu chuyện đau lòng nhất có lẽ là về con tàu mang tên Hoa Sen được đầu tư với số vốn lớn tới 60 triệu Euro (1.300 tỷ đồng) nhưng đến nay không thể khai thác được và đang neo đậu tại Khánh Hòa.

Giải thích về sự lãng phí này, lãnh đạo Vinashin cho biết Vinashin cho rằng đầu tư vận tải thủy Bắc – Nam mất ít thời gian hơn, suất đầu tư thấp hơn hàng chục lần so với phát triển đường sắt nhưng phải đầu tư ít nhất 3 – 4 cặp tàu, tốc độ 25-30 hải lý/giờ, cùng với 3 cảng hành khách và hàng hóa tại Hạ Long, Chân Mây và Tp.HCM mới phát huy được hiệu quả dự án.

Trong năm 2006 và 2007, Chủ tịch Tập đoàn Vinashin ký các quyết định phê duyệt cho Cty TNHH một thành viên Vận tải Viễn Dương mua tàu vận tải biển. Công ty này đã mua 9 tàu với giá trị 3.136 tỷ đồng (gần 200 triệu đô la) toàn bộ bằng tiền đi vay. Số tàu này đều có tuổi đời trên 15 năm. Đặc biệt có đến 6 con tàu có tuổi đời từ 22 đến 26 năm. Trong số đó có 2 tàu tuổi 26 năm (thời điểm mua), 4 tàu có tuổi từ 22 đến 24 năm.

Do toàn mua loại tàu già, cũ nên đã không được Đăng kiểm Việt Nam cấp đăng kiểm và phải treo cờ nước ngoài (Panama, Tuvalu, Liberia) để hoạt động. Theo xác định của cơ quan chức năng, hầu hết số tàu này được mua sắm bằng nguồn vốn vay. Trong đó có 2 tàu (tuổi 23 và 24 năm) được mua bằng nguồn trái phiếu quốc tế với giá trị 329 tỷ đồng.

Bên cạnh đó Vinashin cũng là “tay chơi” tham gia đầu tư cổ phần, cổ phiếu có hạng cho dù tiền phải đi vay. Theo báo cáo tài chính của Tập đoàn Vinashin đến hết tháng 12/2007 tổng số tiền đầu tư tài chính dài hạn là 4.103 tỷ đồng. Trong đó góp vốn liên doanh, liên kết 615 tỷ đồng; mua cổ phần, cổ phiếu 3.488 tỷ đồng.

Cụ thể Công ty mẹ đầu tư mua cổ phần của tập đoàn Bảo Việt là 1.462 tỷ đồng,mua với giá 71.918đồng/ cổ phần, sở hữu 3,56% vốn điều lệ của Bảo Việt, Nhưng vào thời điểm 7/9/2009, giá cổ phiếu của Bảo Việt trên sàn HOSE chỉ là 37.100 đồng. Tính ra thiệt hại của Vinashin vào vụ này khoảng gần 700 tỷ đồng và nhà đầu tư này đã phải chính thức thoái vốn và xin rút khỏi Hội đồng Quản trị, thay vào đó là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).

Nhiều công ty con cũng học tập “mẹ” trong đầu tư cổ phần cổ phiếu. Cụ thể, Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Bạch Đằng dù nợ nần chồng chất nhưng cũng vay vốn ngắn hạn để mua cổ phần của các đơn vị trong Tập đoàn số tiền trên 58 tỷ đồng.

Công ty đóng tàu Phà Rừng góp vốn cổ phần và mua cổ phiếu số tiền 61 tỷ đồng. Công ty này còn góp 2 triệu đô la (40% vốn pháp định) thành lập liên doanh Baican nhưng Liên doanh này đã bị thua lỗ. Tính đến cuối năm 2007 số lỗ luỹ kế lên đến trên 5,1 triệu đô la tương đương trên 81 tỷ đồng.

Tính đến hết năm 2007, tổng giá trị tài sản của vinashin theo báo cáo là 77.322 tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu chỉ có 6.613 tỷ đồng chiếm 8,5%, còn lại là nợ chiếm tỷ lệ 91,4%, tương đương gần 71.000 tỷ đồng. Trong tổng số nợ đó, có 43.700 tỷ đồng nợ dài hạn, tương đương với gần 3 tỷ đô la (theo tỷ giá năm 2007). và 26.993 tỷ đồng nợ ngắn hạn 26.993, nợ quá hợn lên tới gần 4.000 tỷ đồng.

Chính vì sử dụng uy tín không phải của chính mình nên người ta sẵn sàng tiêu vô tội vạ. Ông David Dapice, tiến sĩ chương trình Fullbright tại Việt Nam lấy ví dụ: “Tập đoàn Vinashin của Việt Nam trong ba năm qua đã đầu tư hơn 3 tỷ USD vào các dự án và chỉ trong vòng có vài ba tháng đã có thể quyết định ngừng triển khai vài chục dự án với tổng mức đầu tư lên đến 6.500 tỷ đồng và thôi không tham gia một liên doanh với mức vốn góp dự tính lên đến 1 tỷ USD”.

Theo David, điều này cho thấy “không có chỉ dấu chứng tỏ lãnh đạo Vinashin có khả năng quản lý kinh tế và kỹ thuật một tập đoàn như vậy”. Vì thế, ông David cho rằng “Chính phủ không nên đứng ra bảo lãnh cho các DNNN vay tiền, cả trong nước và nước ngoài. DN phải đi vay bằng uy tín của bản thân không phải bằng uy tín quốc gia. Tự mình đi vay, họ sẽ tính toán, suy nghĩ cẩn trọng hơn và sử dụng hiệu quả hơn.

Nên tái cơ cấu từ mấy năm trước

Đó là ý kiến của bà Phan Thị Hòa, Ủy viên HĐQT, Trưởng Ban kiểm soát Petrovietnam (PVN) chia sẻ với VietNamNet như vậy về chuyện tái cơ cấu Vinashin. Theo bà Hoà, ba tâp đoàn đều là của Nhà nước. Nếu không chia tách như vậy, Vinashin phá sản và sẽ mất vốn của Nhà nước tại Vinashin. Lẽ dĩ nhiên, Chính phủ không thể để chuyện đó xảy ra.

Do đó, điều chuyển dự án sang tập đoàn khác, tái cơ cấu Vinashin là để đảm bảo duy trì hiệu quả vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Khi khó khăn ở các Tập đoàn lớn, Chính phủ các nước nhảy vào xử lý là chuyện bình thường. Khi khủng hoảng thì động thái đầu tiên là phải tái cơ cấu lại.

Chẳng qua là, đáng lẽ việc này phải do chính Vinashin tự làm từ 2-3 năm trước. Một khi anh đã mất cân đối về mặt tài chính rồi thì phải chủ động cơ cấu lại, đó là chuyển nhượng bớt dự án đi, thu hẹp qui mô, thay đổi mức đầu tư, giãn tiến độ… Nhưng Vinashin không làm.

Trong khi, tái cơ cấu, cân đối nguồn vốn đầu tư là nguyên tắc quản trị tài chính mà Tập đoàn, doanh nghiệp nào cũng phải làm hàng năm. Giờ yếu kém quá, Chính phủ phải vào cuộc chỉ đạo thì câu chuyện tái cơ cấu này mới thành đặc biệt, ghê gớm.

Ở câu chuyện chia tách của Vinashin, tôi cho là khủng hoảng kinh tế thế giới là một phần thôi, cái chính là lý do công tác quản trị tài chính của Tập đoàn quá kém.

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=662

___________

Vinashin: vốn Nhà nước bị xẻ cho người thân sai nguyên tắc
Cập nhật lúc: 7/3/2010 2:38:42 PM (GMT+7)

Chúng ta nói thí điểm mô hình kinh tế nhưng khái niệm tập đoàn lại không được làm rõ. Tập đoàn kinh tế không phải bắt nguồn từ ý chí chủ quan, bao cấp, che đỡ và chỉ huy bởi mệnh lệnh hành chính”. (GS.TS Trần Ngọc Hiên, phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn kinh tế của Ủy ban Trung ương MTTQ VN)

Theo báo Đại đoàn kết

Một nguồn vốn không nhỏ của nhà nước từ Tập đoàn Vinashin lại bị “xẻ” ra để cho con trai và em ruột Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình làm “đại diện”?

Chủ tịch HĐQT Vinashin Phạm Thanh Bình đã bổ nhiệm nhiều người thân trong gia đình vào những vị trí chủ chốt, quan trọng của Tập đoàn. Trong đó, có những trường hợp liên quan đến người thân được cất nhắc nhanh chóng và vội vã đến bất ngờ.

Vinashin có tổng tài sản hơn 90.000 tỷ đồng, vốn điều lệ có 9.000 tỷ đồng. Tổng dư nợ hiện nay của tập đoàn này khoảng hơn 80.000 tỷ đồng. Khi tái cơ cấu khoản nợ của Vinashin chuyển sang PVN, Vinalines khoảng 20.000 tỷ đồng.

Trước hết là con trai ông Bình: Phạm Bình Minh, sinh năm 1980, tốt nghiệp đại học New South Wales chuyên ngành kỹ sư vỏ tàu thủy. Về nước tháng 2-2003 thì được giao cương vị Trợ lý trưởng bộ phận Nhà máy tàu biển Huydai Vinashin. Tháng 8 đến 11-2004 được điều về Ban Kinh doanh đối ngoại Tập đoàn. Tháng 12-2004 đến 11-2007 về Viện Khoa học công nghệ tàu thủy, ngồi ghế Trưởng phòng dự án công nghệ. Ngày 12-12-2007 được bổ nhiệm Phó Viện trưởng. Chỉ nửa tháng sau, tiếp tục kiêm thêm chức Giám đốc Trung tâm Thử nghiệm và kiểm định tàu thủy, kiêm chức Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên Tư vấn thiết kế công nghiệp, kiêm chức Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Viện Khoa học công nghệ tàu thủy, kiêm chức Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy Dung Quất.

Có thể nói, không có một nhân vật tài năng nào mà chỉ trong một thời gian quá ngắn lại liên tiếp được điều động, bổ nhiệm và kiêm nhiệm quá nhiều chức vụ quan trọng trên “con tàu” Vinashin như vị con trai của ngài Chủ tịch HĐQT.

Trường hợp thứ hai là em ruột ông Bình: Phạm Thanh Phong. Ông Phong tốt nghiệp tại chức Đại học Xây dựng năm 2000. Sau khi tốt nghiệp hệ tại chức, ông được bổ nhiệm Phó giám đốc Công ty Tư vấn công nghệ và dịch vụ tài chính thuộc Công ty Tài chính công nghiệp tàu thủy. Ngày 6-3-2006 được cử giữ chức Phó giám đốc Công ty cổ phần xây dựng Vinashin. Ngày 8-9-2006 được điều động giữ chức Phó tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và xây dựng Vinashin. Sau khi được cử làm “đại diện” góp vốn từ Tập đoàn cho Công ty Cổ phần Vinashin- Tư vấn đầu tư, ông Phong giữ chức Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc.

Thứ ba là em vợ: bà Phạm Thu Hằng. Từ 1996- 2004, bà Hằng được bổ nhiệm làm Trưởng văn phòng đại diện của Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam tại Nga. Từ 2004 đến nay làm Phó, rồi Trưởng ban Kinh doanh đối ngoại của Tập đoàn.

Điểm đáng chú ý thứ nhất là: Khi bổ nhiệm con trai mình, Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình đã không thông qua lấy ý kiến của Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn và nghị quyết của HĐQT.

Điểm đáng chú ý thứ hai là việc ông Bình đã “xẻ” vốn nhà nước trong Tập đoàn để cho người trong gia đình mình đứng tên làm đại diện: Ngày 2-3-2009, Phạm Bình Minh con trai ông Bình được cử làm “đại diện” 10% vốn của Tập đoàn Vinashin để tham gia HĐQT công ty Cổ phần kỹ thuật đóng tàu Vinashin. Phạm Thanh Phong em trai ông Bình cũng được cử làm “đại diện” 51% vốn của Tập đoàn Vinashin và Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và xây dựng Vinashin tại Công ty cổ phần Vinashin- Tư vấn đầu tư.

Việc cử con trai và em ruột của Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình làm đại diện nguồn vốn của nhà nước là vi phạm, trái với “Qui chế quản lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác”.

Tại khoản 5, điều 48, Nghị định 199/2004/NĐ-CP quy định: “Tiêu chuẩn của người đại diện quản lý vốn: Không là bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con, anh chị em ruột với những người là đại diện chủ sở hữu, người trong HĐQT, giám đốc doanh nghiệp có vốn góp vào doanh nghiệp mà người đó được giao trực tiếp quản lý…”

Như vậy, tại sao một nguồn vốn không nhỏ của nhà nước từ Tập đoàn Vinashin lại bị xẻ ra để cho con trai và em ruột Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình làm đại diện? Những việc làm sai nguyên tắc của vị “thuyền trưởng” Phạm Thanh Bình phải chăng là một trong những nguyên nhân chính làm “con thuyền Vinashin” chìm sâu và nợ nần, bế tắc ?

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=681
____________________________
Nguyễn Quang A – Tái cơ cấu Vinashin?
Kinh tế
Nguyễn Quang A
Theo Bauxite Việt Nam

Sau hơn 4 năm thành lập (theo Quyết định số 104/2006/QĐ-TTg ngày 15-5-2006 của Thủ tướng Chính phủ) Vinashin thực sự đứng trên bờ phá sản và việc “tái cơ cấu” – tức là chuyển giao cho PetroVietnam 6 cơ sở của mình, chuyển giao cho Tổng công ty Hàng hải Việt Nam 7 đơn vị – lại được quyết định bởi một quyết định khác của Thủ tướng Chính phủ (mà người ta chưa thấy công bố rộng rãi) trước khi Vinashin phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp 9 ngày, vì sau 1-7-2010 việc “tái cơ cấu” theo lệnh hành chính như vậy có thể trở thành bất hợp pháp. Nếu thời điểm “tái cơ cấu” gây cho người ta những nghi vấn thì có lẽ thời điểm thành lập cũng gây nghi vấn không kém.

Theo Tiền phong, ngày 22-6-2010, tức là chín ngày trước khi tất cả các doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (1-7-2010), Vinashin đã ra nghị quyết thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó Vinashin sẽ chuyển giao cho PetroVietnam 6 cơ sở của mình, chuyển giao cho Tổng công ty Hàng hải Việt Nam 7 đơn vị. Quyết định của Thủ tướng mà Vinashin nhắc đến chưa thấy công bố (chắc chắn chẳng có gì “bí mật” ở đây cả, cũng nên xem việc Chính phủ không công bố là có đúng không).

Việc một công ty gặp khó khăn phải tái cơ cấu bằng cách bán các đơn vị của mình hay các khoản đầu tư của mình cho các công ty khác là chuyện bình thường. Sự không bình thường ở đây là việc này diễn ra theo quyết định hành chính. Chắc chắn PetroVietnam và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam sẽ phải chấp thuận, nhưng hàng loạt câu hỏi được đặt ra.

Không rõ PetroVietnam và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam có vui lòng “mua” các tài sản và công nợ của các đơn vị đó của Vinashin hay không? Họ mua với giá bao nhiêu? Hạch toán thế nào giữa các bên? Họ sẽ ra các điều kiện gì với Chính phủ để tiếp nhận các đơn vị đó? Liệu đây có phải là thủ thuật “đánh bùn sang ao” để khỏa lấp những khoản tổn thất lớn? (Việc Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, SCIC, đã phải ôm một khoản đầu tư cổ phiếu Bảo Việt của Vinashin với giá mua ngất ngưởng ban đầu là 1.467 tỷ đồng và chắc SCIC đã hạch toán theo nguyên giá để “cứu” [trên sổ sách chứ thực ra làm sao cứu nổi] khoản đầu tư lỗ nặng đó, và việc này được gán cái tên rất mỹ miều “Vinashin thoái vốn”, đấy là việc làm khiến người ta buộc phải đặt ra câu hỏi trên với việc “tái cơ cấu này”). Vân vân và vân vân. Dư luận cần những câu trả lời cho các câu hỏi trên và các câu hỏi liên quan khác, nhưng chắc còn phải chờ vì việc bàn giao chỉ bắt đầu từ ngày 1-7-2010 (lại lưu ý thời điểm này).

Sau hơn 4 năm thành lập (theo Quyết định số 104/2006/QĐ-TTg ngày 15-5-2006 của Thủ tướng Chính phủ) Vinashin thực sự đứng trên bờ phá sản và việc “tái cơ cấu” này được quyết định trước khi Vinashin phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp 9 ngày, vì sau 1-7-2010 việc “tái cơ cấu” theo lệnh hành chính như vậy có thể trở thành bất hợp pháp.

Thời điểm “tái cơ cấu” gây cho người ta những nghi vấn. Có lẽ thời điểm thành lập cũng vậy. Xem lại thời điểm thành lập Vinashin (và các tập đoàn nào nữa) người ta không thể không nêu ra hàng loạt câu hỏi. Tại sao lại thành lập trước khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực? (Lưu ý rằng Luật Doanh nghiệp được thông qua ngày 29-11-2005 và bắt đầu có hiệu lực từ 1-7-2006). Có phải việc thành lập trước là để né tránh Luật Doanh nghiệp? Vì theo Điều 169 của Luật Doanh nghiệp “Doanh nghiệp do Nhà nước thành lập kể từ ngày Luật này có hiệu lực phải được đăng ký, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan”, tức là doanh nghiệp nhà nước không cần phải chuyển đổi nữa và tự động theo Luật Doanh nghiệp. Cho nên việc thành lập trước 1-7-2006 tạo cơ sở pháp lý chưa thật rõ ràng và như thế doanh nghiệp dễ bề “thích ứng”?

Không rõ từ khi thành lập đến nay Vinashin và các tập đoàn khác đã được chuyển đổi để hoạt động theo Luật Danh nghiệp hay chưa? Theo tôi không lẽ họ chưa chuyển đổi trong suốt 4 năm qua theo quy định của Luật đến ngày 30-6-2010. Ngày 19 tháng 3 năm 2010 Chính phủ ra Nghị định số 25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, và từ ngày 18-6-2010 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo luật Doanh nghiệp (rồi các ngày 23 và 24-6 Thủ tướng cũng đã có quyết định chuyển đổi một số tổng công ty và tập đoàn) nhưng vẫn không rõ Vinashin đã được chuyển đổi chưa [bài này được viết ngày 29-6-2010 và gửi cho một báo “lề phải” nhưng họ không dám đăng và đến 1-7-2010 thì được biết lúc đó Vinashin mới được chuyển đổi đồng thời với việc “tái cấu trúc”].

Nếu họ chưa chuyển đổi thì đấy là sự coi thường pháp luật một cách trắng trợn. Nếu chưa chuyển đổi, thì chủ sở hữu và lãnh đạo Vinashin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự bất tuân này.

Nếu họ đã chuyển đổi theo Luật doanh nghiệp, thì Nhà nước phải thực hiện quyền chủ sở hữu theo Điều 168 của Luật Doanh nghiệp (và việc tái cơ cấu theo quyết định hành chính như thế là khó có thể phù hợp với quy định của Điều 168). Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp theo các điều của Chương IX của Luật Doanh nghiệp và theo đó Nhà nước không thể ra các quyết định “tái cơ cấu như vậy” đối với doanh nghiệp. Phải để cho các doanh nghiệp tự mua bán, sáp nhập một cách tự nguyện theo luật và Nhà nước có thể can thiệp nếu vi phạm luật cạnh tranh, hoặc phải để luật phá sản phát huy tác dụng.

Còn thiếu quá nhiều thông tin để có thể có những bình luận sâu về sự kiện hy hữu này. Trong mọi trường hợp có thể thấy sự thượng tôn pháp luật (trong trường hợp này là Luật Doanh nghiệp) của các cơ quan Nhà nước và các tập đoàn kinh tế Nhà nước còn cần phải được cải thiện rất nhiều.

29-6-2010
NQA

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

http://danluan.org/node/5565

_____________________

Tái cơ cấu Vinashin hay là hành động “đốt hóa đơn chứng từ”?
Jul 5, ’10 3:01 AM
for everyone

KS Vi Toàn Nghĩa

Trong cuộc họp báo thường kỳ của Chính phủ vừa rồi, Phó chủ tịch Văn phòng Chính phủ Phạm viết Muôn cho biết:

– Trên thế giới việc tái cơ cấu kinh tế một tập đoàn lớn là chuyện bình thường, tái cơ cấu để tập đoàn phát triển mạnh hơn.

Đúng là trên thế giới đấy là chuyện bình thường! Nhưng trường hợp VINASHIN quyết không phải là bình thường.
Không bình thường ở những điểm sau:

– Số nợ của VINASHIN là quá lớn 80.000 tỷ đồng và đều là ngân sách nhà nước.

– VINASHIN chưa nhận được kết luận của Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán nhà nước, cũng chưa có danh sách những người phải chịu trách nhiệm.

– AI vẫn tiếp tục cấp vốn cho VINASHIN sau khi đã có rất nhiều lời cảnh báo ” VINASHIN là cái thùng rỗng” (thậm chí cả trong QH ). AI đã tác đông để trì hoãn thanh tra và kiểm toán VINASHIN.

Cơ cấu lại VINASHIN vội vã như vậy không có lý do nào khác ngoài những lý do sau đây:

– Chia nhỏ, hợp lý hóa số tiền và số nợ “không minh bạch” của VINASHIN.
– Chia nhỏ trách nhiệm để không phải giải trình trước dân (người chủ của những đồng tiền thất thoát).

– Tìm cách làm “chìm xuồng ” vụ này càng nhanh càng tốt.
Qua vụ VINASHIN ta lại một lần nữa thấy sự thiếu trách nhiệm của chính phủ.

MỘT LẦN NỮA NHÓM LỢI ÍCH LẠI CHIẾN THẮNG NHÂN DÂN.

VTN

http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/tai-co-cau-vinashin-hay-la-hanh-ong-ot.html
_______________________________________
05/07/2010
Vấn đề Vinashin – nhìn từ nhiều phía

PGS TS Vũ Trọng Khải

Mấy ngày nay, sau “cái nóng” của dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam, được “làm mát” nhờ quyết định phủ quyết của Quốc hội, cả nước lại nóng lên hầm hập vì vấn để Vinashin. Xin có đôi điều lạm bàn như sau:

1. Xét trên góc độ pháp lý

Vinashin là một doanh nghiệp có một chủ sở hữu là nhà nước. Từ 30/6/2010 trở về trước, nó hoạt động theo luật Doanh nghiệp nhà nước. Do đó, tuy không thể hiện trên văn bản, nhưng trên thực tế, Vinashin là doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn. Theo đó, ngân sách nhà nước và ngân sách doanh nghiệp là “hai bình thông nhau”. Điều đó có nghĩa là khi doanh nghiệp thiếu vốn, ngân sách nhà nước “tự động” cung ứng, dưới dạng cấp vốn hay cho vay theo quyết định của chủ sở hữu, mà ở đây là Chính phủ hay người đứng đầu Chính phủ. Và trên thực tế, tình trạng tài chính của Vinashin đã diễn ra như vậy, cho nên dù hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ nặng, Vinashin vẫn chưa rơi vào tình trạng phá sản. Bởi theo luật phá sản, doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì mới bị coi là lâm vào tình trạng phá sản.

Nhưng ở trường hợp này, chủ nợ lớn nhất của Vinashin là Chính phủ, chứ không phải là nhà cung ứng vật tư, tín dụng cho Vinashin. Ở đây, Chính phủ cùng một lúc đóng ba vai trò: (1) Chính phủ quản lý doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng theo pháp luật ; (2) Chính phủ là chủ sở hữu vốn; (3) Chính phủ là chủ nợ. Chính phủ với tư cách là chủ nợ không những không đòi lại các khoản nợ đến hạn mà còn cấp thêm vốn hay bảo lãnh cho vay, cho vay tiếp thì đến bao giờ Vinashin mới lâm vào tình trạng phá sản theo luật định?

Do luật doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực vào ngày 30/6/2010, nên từ 01/7/2010 các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước phải chuyển sang hoạt động theo luật doanh nghiệp dưới dạng công ty TNHH một thành viên. Người ta hy vọng rằng, chuyển sang công ty TNHH một thành viên là Nhà nước, “cái van” giữa “hai bình thông nhau” – ngân sách Nhà nước và ngân sách doanh nghiệp, sẽ được lắp đặt và khóa lại. Và như thế chúng ta đã xóa bỏ trách nhiệm vô hạn của doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước. Nhưng thực tế lại không diễn ra như luật doanh nghiệp mong muốn. Bởi Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ cùng một lúc đóng ba vai trò như nêu ở trên, nên có đủ thẩm quyền ra quyết định chia Vinashin thành 3, như ta đã thấy. Khi phần lớn các doanh nghiệp con của Vinashin được chuyển sang PetroVietNam và Vinaline, chắc chắn, hai tập đoàn doanh nghiệp này sẽ phải dùng ngân sách của mình để tiếp tục cung cấp vốn cho các doanh nghiệp con vừa tiếp nhận từ Vinashin. Điều đó có nghĩa là, thay vì phần lợi nhuận của hai tập đoàn này (nhất là PetroVietNam do bán tài nguyên thô nên lợi nhuận rất nhiều) sẽ được nộp vào ngân sách Nhà nước, thì nay phải trích ra một khoản không nhỏ để cung ứng vốn cho các doanh nghiệp con vừa tiếp nhận từ Vinashin. Vì thế, về thực chất, ngân sách nhà nước vẫn tiếp tục cung ứng thêm vốn cho Vinashin, nhưng được “che đậy” bằng cách như nêu ở trên. Cái “van” tuy được lắp đặt giữa “hai bình thông nhau” – ngân sách Nhà nước và ngân sách doanh nghiệp, nhưng Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ có quyền “mở van” bất kỳ lúc nào. Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn là doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn, chứ không phải TNHH. Vì vậy, chắc mọi người đều rõ, xét về mặt pháp lý, để khắc phục tình trạng này, luật pháp cần được sửa đổi như thế nào, tư duy của những người làm luật và thi hành luật cần được thay đổi ra sao?

2. Xét trên khía cạnh quản lý

Quy mô của Vinashin là quá lớn so với năng lực quản lý với hơn 200 doanh nghiệp thành viên, hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn kinh doanh, trải trên địa bàn rộng suốt từ Bắc đến Nam. Tình trạng “quá tải” trong quản lý như vậy sẽ dẫn đến thua lỗ là đương nhiên.

Nhưng tại sao Vinashin lại “to” lên đến mức như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 5 năm? Bởi Vinashin ra đời theo một quyết định hành chính của Thủ tướng Chính phủ, không theo quy luật tích tụ và tập trung tư bản của kinh tế thị trường.

Một tập đoàn kinh tế (tập đoàn doanh nghiệp) được hình thành trong một thời gian dài, là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung tư bản, lớn dần theo năng lực quản lý của chính nó. Một doanh nghiệp ăn nên làm ra, thì lợi nhuận, sau khi đã dành một phần cho sở hữu chủ sử dụng, sẽ được sở hữu chủ quyết định tái đầu tư. Nhưng đầu tư vào đâu? Đầu tư vào chính nó thì sẽ gặp các nguy cơ: (1) quy mô kinh doanh quá lớn so với năng lực quản lý của một doanh nghiệp (quá tải trong quản lý) sẽ dẫn đến suy giảm hiệu quả kinh doanh; (2) tăng khả năng rủi ro vì “tất cả các quả trứng đều được để vào trong một giỏ”; (3) cung – cầu về mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh sẽ bão hòa hay cung lớn hơn cầu, dẫn đến giảm hiệu quả kinh doanh hay thua lỗ.

Vì thế, để tránh ba nguy cơ trên, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được đầu tư vào những lĩnh vực khác, ở những vùng kinh tế khác, bằng cách lập các doanh nghiệp mới với tư cách là doanh nghiệp con, dưới hình thức công ty TNHH một thành viên, nhiều thành viên, công ty cổ phần, hay bằng cách mua lại phần vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động, đến mức có thể chi phối, biến nó thành doanh nghiệp con. Doanh nghiệp đầu tư vốn đóng vai trò chi phối trở thành doanh nghiệp mẹ. Doanh nghiệp bị mua lại thường là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, buộc phải rao bán trên thị trường, hay công ty cổ phần đã niêm yết cổ phần (công ty đại chúng). Như vậy, các doanh nghiệp con vẫn là một thực thể pháp lý, hoạt động tự chủ trên thương trường theo luật pháp và quyết định của chủ sở hữu vốn, không cần có sự “quan tâm” thường xuyên của công ty mẹ – chủ sở hữu phần lớn số vốn sở hữu chủ ở các doanh nghiệp con. Do vậy, cả công ty mẹ và công ty con cũng phát triển theo quá trình tăng vốn và năng lực quản lý của cả tập đoàn doanh nghiệp nên không rơi vào tình trạng “quá tải” trong quản lý. Và do đó, tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải là một thực thể pháp lý, không có ai ra quyết định thành lập, không có “ngày sinh tháng đẻ”.

Còn các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, theo quy định của Chính phủ, đột nhiên phải thu gom hàng chục, thậm chí hàng trăm doanh nghiệp con. Các doanh nghiệp này từ trước đến giờ “không quen biết” gì nhau, nằm ở rải rác khắp nơi, nay cùng “chui” vào một “rọ quản lý” của tập đoàn. Chuỗi quản lý hành chính kéo dài vô lý với 5 – 6 cấp trung gian, nên tình trạng quan liêu, “quá tải” trong quản lý đương nhiên xảy ra phổ biến. Ví dụ, Tập đoàn công nghiệp Cao su có chuỗi quản lý dài tới 5 – 6 cấp: tập đoàn, tổng công ty, công ty, nông trường (hoặc nhà máy chế biến), đội (hay phân xưởng), tổ (hay ca, kíp).

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là đơn vị tự chủ kinh doanh theo pháp luật và ý chí của chủ sở hữu, thể hiện qua quyền quyết định kinh doanh mặt hàng gì, quy mô kinh doanh lớn, nhỏ thế nào, mua nguồn lực đầu vào của ai, bán sản phẩm (đầu ra) của doanh nghiệp cho ai, theo giá cả và phương thức thanh toán ra sao… Do đó, không có doanh nghiệp cấp trên – doanh nghiệp cấp dưới theo thứ bậc hành chính như trong các tổ chức khác mà ta thường thấy. Bởi vì, nếu tập đoàn hay tổng công ty với tư cách là doanh nghiệp có quyền quyết định những vấn đề nêu trên thì các thành viên của nó, tuy được gọi là doanh nghiệp con, sẽ không có những quyền đó nữa, nên không còn là doanh nghiệp trên thực tế và tập đoàn, tổng công ty trở thành cấp trên của các doanh nghiệp thành viên. Trong các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước, về mặt pháp lý, tập đoàn, tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên đều là những pháp nhân có quyền tự chủ kinh doanh, nên mâu thuẫn, xung đột quyền lực, quyền lợi trong các tổ chức này mang tính cấu trúc, làm cho hiệu quả kinh tế chắc chắn không thể cao, nếu không muốn nói là thua lỗ. Do vậy, hiệu quả kinh doanh thấp của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước cũng mang tính cấu trúc, do chúng được thành lập và hoạt động một cách phi thị trường.

3. Xét trên khía cạnh tài chính

Đối với doanh nghiệp tư nhân nói chung, dù tồn tại dưới hình thức nào, doanh nghiệp TNHH hay doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn, lợi nhuận sau thuế thuộc quyền sở hữu và định đoạt của chủ sở hữu (hay các chủ sở hữu). Còn đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bấy lâu nay, lợi nhuận sau thuế do ai định đoạt? Lợi nhuận sau thuế đương nhiên là do chủ sở hữu là Nhà nước định đoạt, nhưng chế độ tài chính hiện hành lại “giao quyền tự chủ” cho doanh nghiệp mà cụ thể là người đứng đầu doanh nghiệp như Chủ tịch Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty hay Tổng giám đốc (Giám đốc). Vì lẽ đó, các doanh nghiệp nhà nước có lợi nhuận cao, mà phần lớn nhờ những ưu đãi về chính sách tín dụng, thuế, đất đai, hay vị trí độc quyền kinh doanh, do lợi thế kinh doanh của các ngành khai thác bán tài nguyên như dầu khí, hay do thị trường như trồng cao su, chứ không phải do năng lực quản lý cao mang lại, đã “phát huy tính năng động, tự chủ” bằng cách sử dụng lợi nhuận sau thuế đem đi đầu tư dần trải sang cả những lĩnh vực “sở đoản”, nhiều rủi ro như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, mà ta đã thấy. Cũng trong khuôn khổ đó, PetroVietnam và Vinaline sẽ sử dụng lợi nhuận và có khi cả vốn của mình để nuôi “mấy đứa con ốm yếu” vừa tiếp nhận từ Vinashin.

Do vậy, nguồn thu của ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt, trong khi nợ công ngày càng tăng cao. Cuối cùng, nguồn thu ngân sách Nhà nước chỉ còn trông chờ chủ yếu từ thuế thu đối với doanh nghiệp dân doanh và thuế thu nhập cá nhân, tức là thu từ người dân (doanh nghiệp dân doanh cũng là của dân). Ấy vậy, ngân sách Nhà nước lại phải cung ứng cho những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ như Vinashin dưới nhiều hình thức, cấp vốn, bảo lãnh tín dụng, cho vay bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ…

Tất cả những khiếm khuyết của doanh nghiệp nhà nước, mà Vinashin chỉ là một ví dụ điển hình, khiến người ta phải xem xét lại “vai trò chủ đạo” của doanh nghiệp nhà nước. Xét về lâu dài và toàn cục, không một nước nào có doanh nghiệp nhà nước làm ăn hiệu quả hơn doanh nghiệp dân doanh. Doanh nghiệp nhà nước chỉ hoạt động tạm thời ở một không gian nhất định, trong một lĩnh vực nào đó mà tư nhân chưa đầu tư vì hiệu quả kinh doanh thấp, với quy mô hợp lý vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội quốc gia. Khi điều kiện chín muồi, tư nhân sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực và vùng lãnh thổ này thì Nhà nước phải rút vốn đầu tư của mình ra để chuyển sang các lĩnh vực và vùng lãnh thổ cần thiết khác để phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, bằng các hình thức tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước.

TP HCM, ngày 04/7/2010

VTK

Email: vutrongkhai@cmard2.edu.vn

HT Mạng Bauxite việt Nam biên tập
http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/van-e-vinashin-nhin-tu-nhieu-phia.html#more

Tân “thuyền trưởng” con tàu Vinashin muốn xin lỗi nhân dân

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: