Hoàngquang’s Blog

06/07/2010

CÂU CHUYỆN GIÁO DỤC Bịt lỗ hổng để không có Tiến sĩ RỞM

Filed under: Khoa học & Giáo dục — hoangquang @ 1:28 sáng
Tags:

Phỏng vấn GS Nguyễn Xuân Hãn

Thu Hà thưc hiện

& Một nghiên cứu sinh tại Úc góp ý bài trả lời phỏng vấn của GS Nguyễn Xuân Hãn
***
Văn Nghệ trẻ , Số 27(713), CHỦ NHẬT, ra ngày 4-7-2010

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Với loạt bài “Công nghệ sản xuất tiến sĩ” , VNT đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc, bạn viết khắp trong và ngoài nước, chia sẻ với ông Nguyễn Ngọc Ân- người tự cho mình là “nạn nhân” của những trò mua bán bằng cấp “dởm” , đồng thời cũng đặt ra vấn đề quản lý bằng cấp và sử dụng nhân tài trong bộ máy công quyền nước ta hiện nay. VNT đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư-Tiến sĩ khoa học Nguyễn Xuân Hãn xung quanh vấn đề này.

PV: Thưa ông, là một Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, ông bình luận gì về tấm bằng Tiến sĩ trị giá 17 ngàn đô của ông Nguyễn Ngọc Ân- Giám đốc Sở Văn hoá- thể thao – Du lịch tỉnh Phú Thọ?

Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Nguyễn Xuân Hãn (NXH): Thời gian để đào tạo một TS trên thế giới trung bình phải mất khoảng 3-5 năm sau đại học chính quy, lao động vất vả không kể ngày đêm, còn kinh phí trung bình ở phương Tây hiện nay đòi hỏi đầu tư khoảng 100.000 USD. Ông Nguyễn Ngoc Ân qua công luận được biết ông vừa công tác vừa làm luận án TS với số tiền là 17 ngàn USD. Theo Điều 14 Luật Giáo dục năm 2005 ông Nguyễn Ngọc Ân phải nộp báo cáo việc làm TS và hồ sơ liên quan cho Bộ GD-ĐT để xem xét và công nhận. Nếu là TS của ông Ân là thật, đề nghị ông sớm được trọng dụng, còn nếu bằng TS giả phải thu hồi và chịu kỷ luật theo pháp luật.

PV: Ở Việt Nam mình có một nghịch lý, song lại rất phổ biến, đó là việc “bổ nhiệm chức vụ rồi hợp thức hoá sau”. Nghĩa là một người nào đó được tổ chức “ cơ cấu” vào một chức vụ dù anh ta chưa có bằng cấp thích hợp, sau đó cơ quan sẽ tạo điều kiện để anh ta đi lấy “ bằng cấp hợp thức hoá” cho vị trí của mình… Qui trình ngược này phải chăng là kẽ hở để cho ra đời nhiều Tiến sĩ giấy, nhiều nhà khoa học hữu danh vô thực?

NXH. Nghịch lý này có nhiều nguyên nhân, và sinh ra nhiều hệ lụy

Nguyên tắc lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ của ta là “quy hoạch lại, rồi phân công”. TS Hà Nghiệp, từng đúc kết như vậy. Việc “quy hoạch” chúng ta có thể tạm hiểu là người cùng ekip, nó có hiệu quả trong thời chiến, song vào giai đoạn xây dựng, nguyên tắc này vẫn được duy trì nên sinh ra sự bất cập và tiêu cực: việc làm vừa ý bên trên để vào diện quy hoạch được xem trọng hơn, việc thực thi nhiệm vụ được giao phó do thực tế cuộc sống đặt ra, hay yêu cầu và nguyện vọng của người dân. Xin dẫn một ví dụ, đầu tư của Nhà nước và dân cho giáo dục đào tạo ngày càng tăng nhưng chất lượng giáo dục ngày càng giảm sút, càng đổi mới giáo dục càng rối và lệ thuộc vào bên ngoài ( sao chép chương trình giáo dục của Thái Lan trước đây và nhập khẩu chương trình, mô hình đại học của nước ngoài hiện nay là các ví dụ ai cũng biết ) và các ý kiến của người dân bị bỏ qua. ”Theo tính toán chuyên gia của Bộ GD-ĐT, cách đây 20 năm-trung bình có 300 bài viết/tháng (không kể tin về giáo dục trên phương tiện thông tin đại chúng), thì ngày nay có 1000 bài / tháng, mổ xẻ đến nơi đến chốn” về những bất cập trong quản lý điều hành GD-ĐT , nhưng người có trách nhiệm vẫn không thấy rõ vấn đề? (Vietnamnet ngày 8/02/2010). Hơn 20 năm qua hàng chục vạn bài báo về giáo dục bị rơi vào quên lãng, trong khi ở mọi nơi và mọi lúc ta luôn nghe câu nói “giáo dục của ta là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân”. Chúng ta mải mê đặt ra nhiều tiêu chuẩn “quy hoạch” cán bộ tin dùng mà xem nhẹ yêu cầu thực tiễn và người tài năng nếu không được vào diện quy hoạch. Nhìn ra thế giới, câu nói “mèo trắng mèo đen không quan trọng miễn là bắt được chuột” trong lựa chọn cán bộ được coi là triết lý đổi mới, và mang lại hiệu quả thật.

Việc chuẩn hóa cán bộ chủ chốt của Hà Nội phải có bằng TS là một ví dụ điển hình khác về sự nhầm lẫn trong nhận thưc về công tác đào tạo. Người có bằng TS ở nhiều nước được người ta gọi và tôn vinh là bác học, nghề nghiệp chính là công việc sáng tạo- làm ra tri thức mới, nó khác xa với những người làm quan, hay nói đúng hơn là các nhà quản lý các cấp. Hiện nay trên thế giới, tôi xin khẳng định không có nước nào có mục tiêu đào tạo tiến sỹ để làm quan! Ở nước ta theo nghiên cứu 70 % số người có bằng TS chuyển sang làm quản lý, do thiếu thời gian và làm nghiên cứu vất vả, nên sau đó là bỏ khoa học. Trong văn hóa Á Đông về hiện tượng này nhà Văn Lỗ Tấn đã ví tấm bằng như “hòn gạch gõ vào chốn quan trường, gõ xong, cửa mở rồi bằng vứt đi”.

Sau chiến tranh, rồi tiếp đến bao cấp, cả xa hội bị hành chính hóa, quan liêu nở rộ. Về lương chỉ có các bậc lương hành chính chứ chưa có các bậc lương cho những người làm chuyên môn. Một người có bằng đại học, trở thành chuyên viên cao cấp được xếp vào thang bậc lương GS. Lương bình quân của lãnh đạo Tổng công ty kinh doanh vốn Nhà nước ( SCIC) khoảng 80 triệu đồng / tháng (4500 USD/tháng ), bằng lương cả năm của một GS ở các trường đại học. Ngược lại, bên Trung Quốc lương của quan chức Nhà nước cao nhất Trung Quốc[1] khoảng 500 USD/tháng, nhưng lương cho GS lại từ (1000 -2000) USD/tháng trở lên. Sự so sánh như vậy có thể là khâp khiễng, nhưng trên danh nghĩa về góc độ nào đó trí thức ở Trung Quốc đang được đánh giá cao hơn trí thức ở nước ta.

PV: Thưa ông, để ngăn chặn những loại bằng cấp đó, xã hội có phương thức nào giúp kiểm chứng bằng cấp là thật hay “đểu” không? Vì trong trường hợp của ông Ân, một quan chức cấp tỉnh uỷ tỉnh Phú Thọ đã khẳng định: Ông Ân trình bằng là bằng thật?

NXH. Theo tiêu chuẩn quốc tế một Luận án TS đạt chuẩn, phải có ít nhất là hai công trình đăng ở tạp chí chuyên ngành được quốc tế thừa nhận. Hiện nay tiêu chuẩn này đã được thiết lập cho khoảng 55 ngành khoa học khác nhau, bao gồm các ngành tự nhiên, xã hội kể cả lĩnh vực tôn giáo.

Một luận án mà không có công trình được đăng, thì văn bằng TS không đạt chuẩn. Bên cạnh những TS thật mà các nước bạn bè XHCN đào tạo giúp ta, có tồn tại một số TS “hữu nghị”, có bằng TS thật, nhưng luận án TS không có bài báo được công bố, hay các bài ở các Tạp chí không đạt chuẩn mực học thuật quốc tế. Nói một cách hình ảnh, một nhà văn mà không có tác phẩm được công nhận, thì không được gọi là nhà văn, hay nhà văn “rởm” .

Việc xác nhận lại văn bằng TS thật giả của ông Nguyễn Ngọc Ân và các bằng của người khác sẽ diễn ra nhanh chóng. Ông Ân phải báo các việc làm TS và nộp cho Bộ GD&ĐT bằng cấp, danh sách công trình nghiên cứu, các giấy tờ liên quan đến quá trình đào tạo. Việc này không quá khó khăn. Nếu cần có thể lập một hội đồng các nhà khoa học để kiểm chứng, tuy nhiên theo tôi cũng không cần thiết. Nếu bằng TS của ông Ân là bằng thật, thì ông phải được trọng dụng, còn nếu bằng TS của ông là bằng giả thì chúng ta thu hồi và đề nghị Nhà nước nên chấm dứt việc đào tạo như thế này.

PV : Trở lại với nghịch lý “ Hợp thức hoá bằng cấp” trong bổ nhiệm chức vụ, Bộ GD&ĐT đặt ra chỉ tiêu đến năm 2020 sẽ đào tạo xong 20000 tiến sĩ với khoản kinh phí chừng 14.000 tỷ đồng. Điều này đã không nhận được sự đồng thuận từ phía xã hội. Lý do có thể được hiểu là người dân thực sự lo ngại khi “ Tiền công quỹ bị coi như rác” khi bỏ ra đào tạo một Tiến sĩ cỡ như ông Ân…Còn ông, ông nghĩ sao, thưa ông?

NXH: Đề nghị hoãn đề án đào tạo 20 000 TS vì nó chưa hội tụ đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn.

Đề án đào tạo 20000 TS là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về “Đổi mới cơ bản giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020” . Theo Điều 87 của Luật GD năm 1998, hay Điều 100 của Luật GD năm 2005, thì vấn đề đổi mới giáo dục đại học phải có ý kiến của Quốc hội phê chuẩn, song trên thực tế việc này chưa diễn ra. Không những thế nội dung trong Đề án đổi mới giáo dục đại học, xin lưu ý, còn không ít điều đi ngược lại tinh thần của Điều 36 của Hiến pháp năm 2002… Việc mở ồ ạt các trường ĐH &CĐ ( dự kiến đến 2020 sẽ có 900 trường ĐH &CĐ với kinh phí 20 tỷ USD ra đời vào năm 2005, nay còn 600 trường ĐH &CĐ, thực tế nay đã có khoảng 450 trường ĐH &CĐ) có nguồn gốc từ Nghị quyết này, mà Quốc hội kỳ họp vừa qua đặt vấn đề phải chấn chỉnh, chẳng lẽ không phải là bài học cho chúng ta rút kinh nghiệm? .

Thực tế, trong 65 năm qua, kể từ khi nước nhà giành được độc lập, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước bè bạn và nỗ lực của các cơ sở đào tạo trong nước đến nay ta mới có khoảng 15000 TS ( trong đó có khoảng 5000 TS từ nước ngoài về), vậy trong vòng 10 năm nữa làm sao có 2 vạn TS. Sinh thời nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã có thư gửi cho những người có trách nhiệm (10/4/2001), cùng với bài báo nói về Trung tâm viết thuê Luận án TS ở nước ta ( Báo Thanh Niên 9/4/2001) Phải chăng ta muốn có 2 vạn bằng TS như kiểu ông Ân?

Theo số liệu nghiên cứu hàng năm trên thế giới có khoảng 80 vạn bài báo khoa học được ghi nhận, và 100 nghìn phát minh sáng chế được cấp bằng. Về dân số Việt Nam xếp hàng thứ 13, nhưng số lượng công bố khoa học của nước ta khoảng 700 bài (khoảng 1/1000 ) và số lượng bằng phát minh sáng chế còn đếm trên đầu ngón tay. Với số lượng sản phẩm khoa học như vậy, nếu ta có kế hoạch đạo đào tạo khoảng 200 TS/ năm là khả thi, còn đào tạo với số lượng nhiều hơn, sẽ có TS không đạt chuẩn, chưa nói là TS RỞM.

Trước khi lo đào tạo ồ ạt TS, xin hay biết trọng dụng những TS thật đã có,hiện nay TS bỏ chuyên môn do không được trọng dụng không phải là hiếm!

PV: Thưa ông là người tâm huyết với giáo dục hẳn ông sẽ lo ngại về các chương trình “liên kết” tại Việt Nam, theo ông cần phải làm gì để bảo vệ “ người tiêu dùng trong giáo dục”?

NXH. Có hai việc phải làm ngay, thay đổi nguyên tắc lựa chọn và sử dụng người tài, thay đổi cách quản lý người có bằng TS theo tiêu chuẩn quốc tế

Thứ nhất ta đang có đợt vận động học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tại sao việc coi trọng trí thức và sử dụng nhân tài của Bác ta chỉ nói chứ không thấy vận dụng ? Trong bài “Tìm người tài đức” ngày 20/11/1946, Bác viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. Nghe vì Chính phủ nghe không đến, thấy không gấp đến nổi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”. Chương trình là cốt lõi của nền học, SGK là tài liệu mang tính pháp lý trong dạy và học, nhưng gần 30 năm nay đã tốn hàng tỷ USD, nhưng vấn đề này vẫn không giải quyết được, đang là thách thức của dân tộc. Chương trình chuẩn chính thức của Nhà nước từ phổ thông đến đại học đến nay vẫn hề chưa có, nghich lý bội thực sách ở bậc phổ thông, đói sách học chay ở bậc ĐH chưa biết bao giờ mới kết thúc ? Giải pháp khoa học giải quyết dứt điểm vấn đề này cho giáo dục với kinh phí khoảng 100 tỷ đồng đã được tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, song chỉ có người có trách nhiệm lá không biết ?

Người có bằng TS ở nước ta được hưởng thụ cả đời, còn các nước tiến tiến tấm bằng TS có giá trị 2 năm. Người có bằng TS, năm nào cũng đòi hỏi có công bố khoa học, nếu sau 2 năm anh không có công trình khoa học nào được công bố, tấm bằng TS của anh không bị thu hồi, nhưng không còn giá tri với giới học thuật! .

Thu (Thực hiện

[1]http//wenda.tianya.cn/wenda/thread?tid+=25c3cd081485e622

http://www.viet-studies.info/NXHan_TienSiRom.htm

__________
06/07/2010
Một nghiên cứu sinh tại Úc góp ý bài trả lời phỏng vấn của GS Nguyễn Xuân Hãn

Kính chào bác Huệ Chi,

Cháu đang làm nghiên cứu sinh tại Úc, chuyên ngành kinh tế. Đọc bài trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ trẻ của GS TSKH Nguyễn Xuân Hãn được đăng lại trên BVN (“Câu chuyện giáo dục: bịt lỗ hổng để không có Tiến sĩ rởm”, 05/7/2010), thú thật cháu hơi hoảng, vì không biết vị GSTSKH này phát biểu có dựa trên một cơ sở khoa học nào hay không? Hay chủ yếu đây là những đề xuất theo quan điểm của riêng ông?

Cháu xin đưa ra đây một số điểm chưa chính xác của bài viết:

1. “Theo tiêu chuẩn quốc tế, một luận án Tiến sĩ đạt chuẩn, phải có ít nhất là hai công trình đăng ở tạp chí chuyên ngành được quốc tế thừa nhận”. Cháu không biết tiêu chuẩn này GS lấy ra từ đâu? Việc đăng công trình trên tạp chí khoa học có thể là yêu cầu đối với một số trường hay một số ngành học, song không phải trường nào và ngành học nào cũng bắt buộc điều này. Theo cháu được biết, luận án TS có hai loại, một loại là kết hợp hệ thống hóa 2 hay nhiều bài báo khoa học cùng chủ đề đã được đăng trên tạp chí thành một luận án rồi nộp. Loại thứ hai chỉ yêu cầu thuần túy làm luận án (nếu có kết hợp viết thêm bài đăng báo thì luận án càng dễ được chấp nhận nhưng không có cũng không sao).

2. “Anh học Cử nhân tại chức sẽ không được làm nghiên cứu sinh!” Hình như khái niệm “Cử nhân tại chức” chỉ có ở các nước vốn trước đây thuộc phe XHCN? Các nước khác, theo thể chế dân chủ xã hội hay quân chủ lập hiến cũng vậy, cháu không hề tìm thấy cái khái niệm “tại chức” này.

3. “Một luận án mà không có công trình được đăng, thì văn bằng không đạt chuẩn. Nói một cách hình ảnh, một nhà văn mà không có tác phẩm được công nhận thì không được gọi là nhà văn”. Điều này hoàn toàn không đúng trong hệ thống giáo dục của Pháp, Úc, Canada.

4. “Xin lưu ý, Tiến sĩ ở nước ta được hưởng thụ cả đời, còn ở các nước tiên tiến, tấm bằng Tiến sĩ có giá trị 2 năm. Cụ thể là với người có bằng Tiến sĩ, năm nào cũng phải công bố công trình khoa học, nếu sau 2 năm không có công trình khoa học nào được công bố, tấm bằng Tiến sĩ của anh không bị thu hồi, nhưng không còn giá trị với giới học thuật”. Cũng như trên, ý kiến này cũng không đúng. Một người đã nhận được học vị Tiến sĩ thì dù về sau người ta có vấn đề về tâm thần đi nữa người ta vẫn cứ là Tiến sĩ. Không biết GS Hãn có nhầm lẫn học vị TS với chức danh GS?

V.v.

Việc GS TSKH Nguyễn Xuân Hãn nêu lên những lời cảnh báo đối với người Việt Nam theo học nghiên cứu sinh, nhằm giúp cho hệ đào tạo nghiên cứu sinh của nước ta đi vào nề nếp, được thực hiện một cách nghiêm túc là điều cần thiết và cháu xin ghi nhận. Tuy nhiên, không thể vì thế mà sử dụng những thông tin không đúng sự thật, nói cách khác là không khoa học, để phản bác những người làm luận án dỏm, vì e rằng làm như thế sẽ gây tác dụng ngược.

Mấy điều mạo muội dựa trên những gì mà cháu thấy và biết, hết sức chân thành góp lại với GS Hãn.

Kính chúc các bác sức khỏe.

Cháu

Doan Phi Anh

Phản hồi của Bauxite Việt Nam

Bạn Doan Phi Anh thân mến,

Rất cám ơn bạn đã đọc bài trên BVN và nhiệt tình gửi ý kiến phản hồi. Theo chúng tôi, ý kiến bạn nêu trong thư góp ý cho GS TSKH Nguyễn Xuân Hãn có những điểm đáng để chúng ta cùng tham khảo, song cũng có một số điểm không hoàn toàn chính xác, hoặc cách lý giải chưa thật sáng rõ. Vì thế xin trao đổi lại với bạn mấy ý dưới đây.

1- Trong điểm đầu tiên, bạn nói có hai loại Tiến sĩ, một loại cần có bài báo và một loại không nhất thiết có bài báo mà chỉ cần viết luận án. Điều này bạn trình bày quá giản lược nên không hết nghĩa. Vì bạn đang làm PhD tại Úc, chúng tôi xin lấy các thông tin dựa vào hệ thống đào tạo của Úc để tiện cho bạn.

Đúng là tại Úc có có hai loại Tiến sĩ: Doctor of Philosophy (PhD) và Doctor of Science (DSc).
Loại Tiến sĩ DSc là loại thứ nhất mà bạn đề cập, có thể gom các công trình nghiên cứu lại với nhau thành luận án. Tuy nhiên, loại Tiến sĩ này không phải là Tiến sĩ qua quy trình đào tạo bài bản mà là một hình thức ghi nhận công lao. Hay nói cách khác là một dạng “Tiến sĩ danh dự” cũng không sai mấy. Do đó, loại này chỉ dành cho những người có thâm niên trong nghề, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên ngành có giá trị, là người có tiếng tăm, có uy tín trong ngành khoa học của mình ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Và vì thế, kể cả người đã có PhD cũng có thể có DSc. Tương đương ở Việt Nam trước đây chúng tôi thấy có dạng Tiến sĩ đặc cách (bảo vệ công trình vào khoảng năm 1992 sau đó không thấy lặp lại, dành cho một thế hệ rất ít các nhà nghiên cứu đã có cống hiến nổi bật và có thâm niên ba, bốn mươi năm trong nghề, cốt có chuẩn học vị để phong Giáo sư), cũng có thể được coi là DSc vậy.
Loại hình PhD là Tiến sĩ được thông qua quy trình đào tạo chính quy. Đầu vào của PhD đối với công dân Úc phải là tốt nghiệp đại học vào hạng danh dự (Honor) hoặc là Master by Research (còn loại Master by Coursework thì không được). Đối với một số trường có uy tín hoặc viện nghiên cứu lớn, họ còn đòi hỏi sinh viên đó phải có công trình nghiên cứu khoa học đã đăng tải rồi mới nhận. Sau một thời gian đào tạo từ 3 đến 4 năm, sinh viên phải trình luận án lên một Hội đồng, và căn cứ vào kết quả chấm của Hội đồng này mới được cấp bằng. Cũng như thế, các trường lớn và viện nghiên cứu lớn, họ đều đòi hỏi sinh viên PhD phải có công trình nghiên cứu đăng tải (publication) trong thời gian làm nghiên cứu sinh, thì mới được nộp luận án tốt nghiệp cho Khoa sau đại học để trình lên Hội đồng chấm duyệt. Hoặc tối thiểu nghiên cứu sinh cũng phải có báo cáo tại hội thảo khoa học (meeting abstracts) trước khi nộp luận án. Tuy nhiên, việc này không nhất thiết đặt ra đối với một số trường nhỏ hoặc bộ môn nhỏ, đặc biệt là đối với sinh viên quốc tế (có thể do áp lực về tuyển mộ sinh viên, vì vấn đề làm ăn kinh tế?).

Mới gần đây, một số trường lớn ở Úc, chuyển đổi theo cách làm việc của Bắc Âu và Mỹ, là có thể cho phép sinh viên PhD tập hợp các publications (bài báo công bố trên các tạp chí khoa học), được đăng trong quá trình làm nghiên cứu sinh, thành một tập, viết thêm phần mở đầu và kết luận cũng như phần gợi ý phương hướng nghiên cứu trong tương lai, coi như là luận án thay vì phải viết hoàn toàn luận án từ đầu, như cách truyền thống. Nhưng hình thức này chưa thành phổ biến ở Úc.
Do vậy PhD ở Úc hay các nước tân tiến khác cũng có chất lượng khác nhau, tùy thuộc vào đẳng cấp của trường.
2- Điểm thứ hai bạn nêu chúng tôi đã có một phần giải thích ở điểm 1. Bạn băn khoăn về khái niệm “Cử nhân tại chức”, hệ này nước ngoài quả không có, đúng như bạn nói. Nhưng nếu chiếu theo chuẩn mực đại học tại Úc thì như đã nêu, tốt nghiệp Cử nhân chính quy cũng chưa hẳn đủ tiêu chuẩn để nhận vào làm nghiên cứu sinh. Phải là Cử nhân hạng danh dự mới được làm, nói gì đến Cử nhân không chính quy. Bởi vậy nếu nới rộng cách hiểu ra, thiết tưởng ý của GS Nguyễn Xuân Hãn cũng không có gì sai.

3- Điểm thứ 3 có thể xảy ra ở các nước Tây Âu, như bạn đề cập: có không ít trường hợp có PhD mà không có công trình nghiên cứu. Nghĩa là trên thực tế, PhD cũng có “năm bảy đường”, giống như bằng tốt nghiệp phổ thông vậy. Trình độ học vấn là Tiến sĩ, song không phải Tiến sĩ nào cũng có trình độ chuyên môn ngang nhau. Tất nhiên, những người có PhD mà không hề có một publication nào thì trước hết phải tự chất vấn mình, liệu mình có xứng đáng để mang danh xưng ấy không, chứ cần gì phải đợi đến xã hội chất vấn! Ý GS Hãn ở đây là nhằm khu biệt cho rõ mục tiêu của việc học Tiến sĩ không phải để làm quan, một thói tệ lưu cữu ở nước ta đến nay vẫn không dứt, mà để đóng góp vào sự phát triển khoa học của đất nước.

4- Và điểm cuối cùng, nó cũng là một hệ lụy kéo theo. Bạn có lý đấy. Không ai truất bỏ được bằng Tiến sĩ đối với người đã nhận nó cả. Nhưng rõ ràng, với một học vị Tiến sĩ đang tại chức trong môi trường nghiên cứu mà sau 2 năm không có công trình nào nữa thì sự nghiệp chắc chắn phải bị ảnh hưởng, nếu không nói là sẽ bị sa thải. Còn về danh hiệu, nếu bạn nói “Một người có học vị Tiến sĩ, thí dụ sau này người ta có vấn đề về tâm thần thì vẫn là TS” thì cách nói của GS Nguyễn Xuân Hãn, “Cụ thể là với người có bằng Tiến sĩ, năm nào cũng phải công bố công trình khoa học, nếu sau 2 năm không có công trình khoa học nào được công bố, tấm bằng Tiến sĩ của anh không bị thu hồi”, cũng đâu có gì khác?

Chúc bạn học tập giành nhiều kết quả xuất sắc.

Bauxite Việt Nam

http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/mot-nghien-cuu-sinh-tai-uc-gop-y-bai.html#more

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. Doan Phi Anh làm PhD ở Úc chắc chẳng được học hành gì, suốt ngày lo đi hái nho, bán giá đỗ hay làm mấy công việc linh tinh thì phí tiền cho sang đó ăn học. Tôi thấy việc cho sv sang Úc học những trường như vậy phí tiền của.

    Bình luận bởi Son Nguyen — 08/07/2010 @ 6:26 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: