Hoàngquang’s Blog

01/07/2010

Thiếu điện kéo dài: Phải nói thật với người dân

Filed under: Chính trị- xã hội,Kinh tế — hoangquang @ 9:29 sáng
Tags:

Đăng bởi bvnpost3 on 01/07/2010

Lê Kiên thực hiện

&Quy hoạch, vận hành thuỷ điện miền Trung và Tây Nguyên-Bức tranh đáng sợ!Mạnh Quân (sgtt)
***

Thiếu điện là tại các công ty của người anh 16 chữ vàngTheo kế hoạch, giữa năm 2010 hai nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1, 2 và nhiệt điện Hải Phòng 1, 2 với tám tổ máy phải hòa lưới điện quốc gia với tổng công suất 2.400MW, bẳng tổng công suất các nhà máy nhiệt điện trong cả nước. Sau 7 năm xây dựng, đến nay cả hai nhà máy vẫn đang trong tình trạng ngổn ngang nguyên vật liệu và thiết bị chờ lắp đặt, trong khi thông thường thời gian xây dựng chỉ cần 32-36 tháng. Nếu các công trình trên đúng tiến độ thì mỗi ngày có thêm gần 30 triệu kWh, không thể xảy ra thiếu điện.

TS Nguyễn Mạnh Hiến, nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng, khẳng định rằng nguyên nhân chính của việc thiếu điện không phải như những gì các quan chức đã trả lời, và đòi: “Phải sòng phẳng và nói thật với dân”. Nhưng thưa ông, nói thật làm sao được, sòng phẳng làm sao được khi tổng thầu thiết kế và xây dựng hai nhà máy lại là các công ty của người anh 16 chữ vàng.

Anh Hoàng

TT – Trả lời Tuổi Trẻ, TS Nguyễn Mạnh Hiến, nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng, khẳng định rằng nguyên nhân chính của việc thiếu điện không phải như những gì các quan chức đã trả lời.

TS Nguyễn Mạnh Hiến – Ảnh: L.K.

* Là người hiểu sâu về lĩnh vực này, theo ông thì do đâu?

– Tôi nghe các thành viên Chính phủ trả lời trước Quốc hội, rồi nhiều vị cũng hứa trên báo chí. Nhưng dân chưa thỏa mãn và chính tôi cũng không thỏa mãn. Năm nào cũng đổ cho phụ tải tăng nhanh, rồi mùa khô nhà máy thủy điện thiếu nước… Đây là những nguyên nhân đã biết từ lâu rồi, năm nào chả thế.

Khi tôi còn tham gia xây dựng các tổng sơ đồ điện hàng chục năm trước thì tất cả đã thấy vấn đề đó rồi, lường trước rồi. Vì vậy trong các tổng sơ đồ điện đều đề cập rất rõ lộ trình xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí.

Phụ tải tăng nhanh cũng không phải là điều bất ngờ, vì chúng ta đã dự báo đến năm 2010 cần khoảng 100 tỉ kWh, thực tế cho thấy đúng như vậy. Vậy tại sao từ năm 2005 đến nay liên tục thiếu điện trong mùa khô?

Câu trả lời là các nhà máy nhiệt điện chạy than đã không vào đúng tiến độ. Hai nhà máy nhiệt điện ở Hải Phòng và Quảng Ninh đều có công suất 600MW lẽ ra phải vào từ năm 2008, nhưng đến bây giờ vẫn chưa xong. Hai nhà máy này bắt đầu triển khai từ năm 2002, đến năm 2004 thì khởi công xây dựng, đến nay là gần bảy năm.

Không bao giờ một nhà máy nhiệt điện xây dựng đến bảy năm cả, người ta chỉ xây dựng từ 32-36 tháng thôi. Nếu hai nhà máy này vào đúng tiến độ, chúng ta có mỗi ngày gần 30 triệu kWh thì không thể thiếu điện.

Tôi cho rằng vấn đề mấu chốt mà nhiều người không dám nói ra là tại sao hai nhà máy nhiệt điện này vẫn chưa đi vào hoạt động.

* Phải chăng do chạy nhà máy nhiệt điện thì giá thành cao nên chủ đầu tư không muốn làm đúng tiến độ, không muốn xây dựng khẩn trương để đưa vào khai thác?

– Tôi cho rằng không phải như vậy, có lẽ ở năng lực nhà thầu hai công trình này hoặc có khó khăn nào đó. Cần làm rõ vì sao hai nhà máy này lại làm lâu như vậy. Hai nhà máy này có công suất lớn, gần bằng tổng công suất của tất cả nhà máy nhiệt điện ở miền Bắc. Theo tổng sơ đồ điện, lẽ ra hai nhà máy này phải hoạt động trước cả thủy điện Sơn La thì mới đủ điện.

* Trong khi thiếu điện thì lãnh đạo Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam vẫn đưa ra rất nhiều lời hứa và không thực hiện được…

– Phải sòng phẳng và nói thật với dân. Từ năm 2005 đến nay liên tục thiếu điện, không phải vì chúng ta không có tiền đầu tư, không phải vì chúng ta không nhìn thấy trước vấn đề. Chúng ta đã nhìn thấy vấn đề và triển khai nhiều dự án điện, vốn liếng đã được phân bổ đầy đủ. Nhưng tại sao hai dự án như tôi đã nêu lại không vào đúng tiến độ?

Câu hỏi này chủ đầu tư phải trả lời và phải chịu trách nhiệm.

* Có nghĩa thiếu điện không phải lỗi quy hoạch?

– Hàng chục năm trước chúng tôi dự báo năm 2010 cần 96 tỉ kWh, con số này là không sai.

* Thưa ông, vậy tại sao các tổng sơ đồ điện lại thay đổi mau chóng: tổng sơ đồ 6 vừa được phê duyệt để thay thế tổng sơ đồ 5, nhưng nó gần như chưa được thực hiện lại phải làm tiếp tổng sơ đồ 7?

– Người ta đang đặt ra nhiều vấn đề cho tổng sơ đồ 6. Năm 2006-2007 làm tổng sơ đồ này trong tình trạng thiếu điện nghiêm trọng về mùa khô, người ta sợ quá nên phải nâng nhu cầu, nâng mức dự báo lên và tạo ra một bức tranh rất hoành tráng về điện.

Người ta tính từ nay đến năm 2020 thiếu khoảng 100 triệu tấn than cho nhiệt điện. Nhưng thực tế không đến mức như vậy, tôi nghĩ rằng tổng sơ đồ 6 phá sản và người ta đang phải làm gấp tổng sơ đồ 7 để điều chỉnh. Cũng vì tổng sơ đồ 6 đã vẽ một bức tranh hoành tráng về điện nên người ta dự báo phải nhập khẩu than từ năm 2012, tôi cho rằng không đến mức như vậy.

* Như vậy theo ông, khi nào chấm dứt cảnh thiếu điện?

– Nếu hai nhà máy nhiệt điện trên đưa vào hoạt động được trong năm nay, cộng thêm sản lượng điện bổ sung từ tổ máy số 1 thủy điện Sơn La dự kiến phát điện vào cuối năm nay thì sẽ không thiếu điện. Những năm tới nếu các nhà máy nhiệt điện có công suất lớn như: Nghi Sơn (Thanh Hóa), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Mông Dương (Quảng Ninh)… vận hành thì không thể thiếu điện.

LK

Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/386088/Thieu-dien-keo-dai-Phai-noi-that-voi-nguoi-dan.html
____________

Nhiệt điện Hải Phòng và Quảng Ninh chậm tiến độ: Các bên đổ lỗi cho nhau

TT – Có quá nhiều lý do khiến hai nhà máy nhiệt điện chậm tiến độ đến hàng chục tháng trời. Trong khi đó giải thích về nguyên nhân chậm trễ, cả chủ đầu tư và nhà thầu đều đổ lỗi cho nhau…

Theo kế hoạch, giữa năm 2010 hai nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1, 2 và nhiệt điện Hải Phòng 1, 2 với tám tổ máy phải hòa lưới điện quốc gia với tổng công suất 2.400MW. Thế nhưng đến nay mới chỉ có hai tổ máy túc tắc vận hành, còn lại đều phập phù, thậm chí chưa được lắp đặt.

Theo chủ đầu tư, nguyên nhân chính là nhà thầu thi công chậm, hàng loạt công đoạn hiệu chỉnh các tổ máy bị trục trặc. Trong khi đó, nhà thầu đổ lỗi chủ đầu tư bàn giao mặt bằng chậm, không có năng lực vận hành…

Nhà thầu không muốn vận hành chạy thử

Ông Từ Quang Hạo đưa ra vấn đề nhà thầu cần thuê chuyên gia vận hành mới đảm bảo hoạt động của các tổ máy, nhưng ông Nguyễn Văn Dũng – phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh – bác bỏ đánh giá này. Ông Dũng khẳng định đây là hợp đồng EPC nên chỉ khi nào nhà thầu bàn giao toàn bộ thì chủ đầu tư mới tiếp quản, nếu cần thuê chuyên gia thì tới thời điểm đó mới thuê. Hiện tại, Nhiệt điện Quảng Ninh chưa bàn giao nên không thể nói chuyện thuê chuyên gia. Theo ông Dũng, để chạy thử, hiệu chỉnh các tổ máy và phát điện lên lưới, góp phần giảm căng thẳng thiếu điện thời gian qua, nhà thầu đã phải chi hàng triệu USD cho việc mua nhiên liệu vận hành tổ máy. Do đó khi hết tiền thì nhà thầu không muốn vận hành nữa.

Quá nhiều sự cố
Ngày 26-6, tại công trường hai nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh và Hải Phòng vẫn ngổn ngang nguyên vật liệu và thiết bị chờ lắp đặt. Cả hai nơi mới cơ bản hoàn thành xây dựng nhà máy nhiệt điện số 1.

Tại Hải Phòng, hiện chỉ có tổ máy số 1 hoạt động trong tình trạng vừa chạy vừa hiệu chỉnh, sửa chữa sau nhiều trục trặc, hỏng hóc. Theo ông Trần Hữu Nam – tổng giám đốc Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng, tiến trình xây dựng Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 chậm khoảng 20 tháng. Cụ thể, tổ máy số 1 (Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1) phát điện lên mạng lưới quốc gia từ tháng12-2009 được 153 triệu kWh nhưng chỉ được gần một tháng đã gặp sự cố hư hỏng bộ quá nhiệt. Nhà thầu buộc phải thay thế 90 ống quá nhiệt và hệ thống điện. Đó là chưa kể những sự cố khác như xì hơi đường ống, trục trặc hệ thống nước tuần hoàn… phải xử lý mất không ít thời gian. Đến ngày 12-6 tổ máy 1 mới được vận hành, phát điện vào mạng lưới quốc gia. Còn tổ máy số 2 vẫn đang lắp đặt, chưa được chạy thử để hiệu chỉnh thiết bị nên khả năng phát điện còn xa vời, dù đến nay đã chậm tiến độ 18 tháng so với kế hoạch.

Tại Quảng Ninh, ngày 12-5 tổ máy số 1 (Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1) bắt đầu phát điện lên mạng nhưng chỉ hơn hai tháng vận hành chính thức thì gặp sự cố, chưa có khả năng hòa lưới điện quốc gia. Theo thống kê của chủ đầu tư, có tới 17 sự cố của tổ máy này cần khắc phục, dẫn đến việc tổ máy nằm “đắp chiếu”. Riêng tổ máy số 2 bắt đầu hòa lưới điện quốc gia từ ngày 2-6 nhưng phải dừng vận hành năm lần do sự cố. Đến nay, tổ máy này mới phát lên lưới khoảng 50 triệu kWh.

Ngoài việc các tổ máy đã lắp đặt liên tục gặp trục trặc, hai nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 2 và Quảng Ninh 2 đều chưa thành hình. Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 2 chậm tiến độ gần hai năm. Nhà máy này mới chỉ thi công được khoảng 20% hạng mục, chủ yếu hạng mục dùng chung với nhà máy 1. Tương tự, Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 2 mới chỉ đạt 31% khối lượng công việc, phải dừng thi công từ tháng 11-2009 đến nay do nhà thầu không có nhân lực. Theo đúng tiến độ, tổ máy số 3 của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 2 phải phát điện vào tháng 2-2010 và tổ máy số 4 dự kiến tháng 7-2010.

Toàn cảnh Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1. Theo dự kiến của Tập đoàn Điện lực VN, đầu tháng 7 sẽ đưa vào hoạt động nhưng đến nay vẫn còn ngổn ngang – Ảnh: Ngọc Hà

Chủ đầu tư trách nhà thầu

Đánh giá về việc chậm tiến độ của Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1, ông Trần Hữu Nam xác định nguyên nhân chính từ phía nhà thầu Trung Quốc. Cụ thể, hợp đồng nhà máy là hợp đồng thiết kế, mua sắm thiết bị và xây dựng trọn gói (EPC), bàn giao cho chủ đầu tư sau khi nhà máy vận hành tốt. Nhưng do khó khăn về kinh tế giai đoạn cuối 2008-2009 nên nhà thầu không cung cấp được nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ xây dựng.

Viện lý do này, Tập đoàn điện khí Đông Phương (tổng thầu công trình) từng đề nghị chủ đầu tư bù giá 100 triệu USD do trượt giá nhưng không được chấp nhận. Không những thế, nhà thầu cũng không bố trí đủ công nhân cho công trình nên tiến độ đã chậm lại càng chậm.

Đáng chú ý, đến thời điểm này chủ thầu mới kết luận được nhà thầu Tập đoàn điện khí Đông Phương có năng lực quản lý hạn chế, thậm chí yếu kém. Theo hồ sơ dự thầu, Tập đoàn điện khí Đông Phương lần đầu thi công tại VN nên không có kinh nghiệm. Mối quan hệ giữa tổng thầu và các thầu phụ kém, không liên kết được các thầu phụ trong từng hạng mục công trình, không có kế hoạch về tiến độ hoàn thành hạng mục, dẫn đến chậm theo dây chuyền.

Ông Nam dẫn chứng cho thấy năng lực kém của nhà thầu là có những hạng mục đã xong nhưng không biết làm thủ tục thanh quyết toán, chủ đầu tư phải cầm tay chỉ việc, hướng dẫn thực hiện công tác này. Ông Nam cũng than phiền dù là tổng thầu nhưng việc nhập thiết bị của Tập đoàn Đông Phương không khoa học, “có cái cần nhập trước họ chưa nhập, cái chưa cần thì lại nhập trước”…

Tại Quảng Ninh, Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh (chủ đầu tư) cũng xác định Tập đoàn Điện khí Thượng Hải hoàn thành các phần việc không đúng tiến độ, mới vận hành thử và chạy tin cậy đã xuất hiện nhiều sự cố, công tác sửa chữa của nhà thầu chậm chạp do không có sẵn vật tư, thiết bị thay thế đặt hàng từ Trung Quốc gửi sang chậm. Nhà thầu này cũng không đủ nhân lực, chủ đầu tư phải hỗ trợ cả nhân lực cho nhà thầu.

Nhà thầu “kêu” chủ đầu tư

Trong khi chủ đầu tư phàn nàn nhà thầu thì cả hai nhà thầu nhiệt điện Quảng Ninh và Hải Phòng đều phàn nàn chậm tiến độ một phần do công tác bàn giao mặt bằng chậm. Thực tế cho thấy trên công trình Nhiệt điện Hải Phòng, mặt bằng nhà máy 1 bàn giao chậm bảy tháng, nhà máy 2 chậm 14 tháng và Nhiệt điện Quảng Ninh cũng gặp tình trạng tương tự.

Ông Từ Quang Hạo (quốc tịch Trung Quốc), phó giám đốc văn phòng dự án Quảng Ninh (Tập đoàn Điện khí Thượng Hải), còn cho rằng việc chậm tiến độ là do khủng hoảng kinh tế, điều kiện thi công khó khăn, đến nước ngọt có khi cũng phải chở từ Trung Quốc sang. Đặc biệt, ông Hạo nói tổ máy số 1 không bị sự cố mà vì phía VN chưa có cán bộ quản lý đáp ứng vận hành hoạt động của nhà máy nên chưa thể chuyển giao công nghệ. Đến nay nhà thầu vẫn phải vận hành cho chủ đầu tư miễn phí.

MINH QUANG – CẦM VĂN KÌNH

Nguồn: http://123.30.128.12/Chinh-tri-Xa-hoi/386851/Nhiet-dien-Hai-Phong-va-Quang-Ninh-cham-tien-do-Cac-ben-do-loi-cho-nhau.html

http://boxitvn.wordpress.com/2010/07/01/thiếu-diện-keo-dai-phải-noi-thật-với-người-dan/#more-10017

_______________
Quy hoạch, vận hành thuỷ điện miền Trung và Tây Nguyên

Bức tranh đáng sợ!

SGTT – Những trận bão lũ kéo theo lụt lớn tại các tỉnh miền Trung trong các tháng 9, 10 và 11 năm trước làm rất nhiều người dân bị chết đuối (nhiều nhất là 70 người ở Phú Yên, Bình Định trong trận lũ đầu tháng 11.2009), hàng ngàn người mất nhà cửa… đã đặt ra câu hỏi lớn về trách nhiệm của những đơn vị vận hành các công trình thuỷ điện, điều hoà việc xả lũ, các cơ quan lập và thực hiện quy hoạch thuỷ điện ở các tỉnh miền Trung.

Trước sức ép lớn từ dư luận, từ các đại biểu quốc hội, cuối tháng 12.2009 và tháng 1.2010, một đoàn công tác liên ngành gồm đại diện bộ Công thương, bộ Tài nguyên và môi trường, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tập đoàn Điện lực và các sở công thương các tỉnh liên quan đã đi kiểm tra, rà soát, đánh giá việc quy hoạch và đầu tư các dự án thuỷ điện (DATĐ) tại chín tỉnh trọng điểm ở miền Trung và Tây Nguyên. Kết quả kiểm tra, mới được báo cáo chính thức lên Thủ tướng Chính phủ, đã cho thấy những sự thật bất ngờ và giải thích vì sao những cơn lũ ở miền Trung thời gian đó lại hung hãn như vậy.

Thuỷ điện Sông Ba Hạ là một công trình kinh tế trọng điểm tại khu vực Trung Trung bộ. Tuy nhiên, khi công trình này tích nước đạt đến cao trình thiết kế 105m đã phát sinh tình trạng đất sản xuất, hoa màu và nhà dân tại hai xã Krông Pa, Suối Trai, huyện miền núi Sơn Hoà, tỉnh Phú Yên, nằm ngoài vùng lòng hồ bị ngập nước. Ở xã Suối Trai có 23 nhà bị ngập hoặc ảnh hưởng, trong đó ba nhà bị ngập nước, 12 nhà bị nước vào sân, tám nhà bị nước liếm vào đất thổ cư. Ngoài ra, 19 hộ dân ở hai buôn Xây Dựng và Đoàn Kết hiện không có đường đi vào rẫy vì nước ngập. Trong ảnh là nước ngập vào phía sau nhà của chị Hờ–Tin, xã Suối Trai Ảnh: Thế Lập – TTXVN

Thiếu cán bộ chuyên môn ngay từ khâu quy hoạch

Tại chín tỉnh được kiểm tra, đã có tới 393 DATĐ với tổng công suất lắp đặt 7.381MW thuộc quy hoạch bậc thang hệ thống sông chính, quy hoạch thuỷ điện nhỏ toàn quốc được bộ Công thương phê duyệt. Xem xét các quy hoạch thuỷ điện nhỏ ở các tỉnh này, đoàn công tác cho rằng, chất lượng quy hoạch và thiết kế cơ sở còn yếu và thường xuyên phải điều chỉnh, bổ sung. Đoàn công tác cho là có phần do ngân sách cấp cho nghiên cứu quy hoạch còn hạn chế, do sự phối hợp của các cơ quan tại các địa phương còn kém. Nhưng điều đáng nói hơn là, ở các tỉnh có quá nhiều dự án thuỷ điện này, nơi cấp phép là các sở công thương đều thiếu hoặc chưa có cán bộ chuyên môn về thuỷ điện.

Từ đó dẫn đến thực tế: một số dự án thuỷ điện có sơ đồ khai thác bất hợp lý, quy mô công suất quá cao nên ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng khai thác, tác động tiêu cực đến môi trường – xã hội. Theo đoàn công tác, trong việc xem xét giao chủ trương nghiên cứu đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng chưa có sự đánh giá toàn diện về năng lực tài chính, nhân lực, kinh nghiệm… của nhà đầu tư. Kiểm tra chất lượng các công trình thuỷ điện, đoàn công tác phát hiện một số DATĐ nhỏ có chất lượng thiết kế và thi công chưa đáp ứng yêu cầu do các đơn vị tư vấn mới thành lập thiếu kinh nghiệm, nhà thầu thi công thiếu nhân lực và thiết bị, chủ đầu tư thiếu cán bộ chuyên môn có kinh nghiệm đầu tư thuỷ điện… “Một số dự án chưa tuân thủ đầy đủ quy định về bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng công trình và an toàn đập”, đoàn công tác khẳng định.

Trong khi đó, việc kiểm tra, giám sát các chủ đầu tư và đơn vị thi công về việc bảo đảm chất lượng công trình, bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng… chưa được làm thường xuyên, đầy đủ. Một vấn đề nghiêm trọng khác là những cam kết bảo vệ môi trường như trồng mới diện tích rừng đã phá để xây dựng nhà máy thuỷ điện (theo quy định tại nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ) đã không được các chủ đầu tư thực hiện nghiêm túc. Đơn giản, vì các địa phương không còn quỹ đất. Tệ hại hơn nữa, việc không quản lý, bảo vệ được rừng ở ngoài mặt bằng công trình tại một số dự án đã dẫn đến việc lâm tặc lợi dụng các tuyến đường thi công, vận hành các DATĐ để phá rừng, trộm gỗ.

Vận hành hồ chứa: thiếu… đủ thứ!

Khâu vận hành các hồ chứa thuỷ điện, mà một số chuyên gia cho là một trong những nguyên nhân chính làm trầm trọng thêm lũ lụt, cũng có rất nhiều vấn đề. Mặc dù đánh giá rằng, quy trình vận hành các hồ chứa thuỷ điện đã “phát huy hiệu quả trong đảm bảo an toàn cho công trình, hạ du và phối hợp sử dụng tổng hợp”, nhưng đoàn công tác cũng cho rằng, việc phối hợp, cập nhật thông tin để vận hành giữa các hồ chứa trên cùng một lưu vực sông còn hạn chế, cho dù điều này đã được quy định trong quy trình vận hành. Một vấn đề mới, rất đáng chú ý, là hầu hết các công trình thuỷ điện đều vận hành dựa vào số liệu báo cáo của trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Trung ương và các đài dự báo khí tượng – thuỷ văn khu vực. Nhưng đại diện các bộ, ngành, cơ quan trong đoàn công tác thống nhất nhận định: thông tin dự báo chưa kịp thời hoặc độ chính xác chưa cao nên việc vận hành hồ chứa thiếu chủ động, chưa đạt hiệu quả cao, đặc biệt khi xả lũ. Thực tế là ở một số điểm cần thiết đã không có trạm quan trắc, nơi có trạm quan trắc thì thiết bị lạc hậu, đo đạc chủ yếu bằng phương pháp thủ công.

Trong khi đó, các ban chỉ huy phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn tại một số tỉnh lại thiếu chủ động kiểm tra, phối hợp với chủ đầu tư trong việc vận hành hồ chứa, thậm chí “không nắm được thông tin, nhất là khi các hồ xả lũ”. Tuy ở hầu hết các công trình thuỷ điện đều đã có ban chỉ huy phòng chống bão lụt nhưng qua kiểm tra, người ta thấy các phương án phòng, chống bão lụt đều chưa đầy đủ. Vật tư, thiết bị phòng chống lụt bão còn chưa được chuẩn bị hoặc chưa đáp ứng yêu cầu. Về mức độ quan tâm đến sự an toàn của người dân ở các DATĐ, đoàn công tác đánh giá: “Quy trình vận hành được phê duyệt đã quy định cụ thể việc tập huấn, tuyên truyền cho nhân dân ở các khu vực liên quan phía hạ lưu về quy trình xả lũ nhằm chủ động phòng tránh thiệt hại. Nhưng trên thực tế, rất ít chủ đầu tư tuân thủ đúng quy định này”.

Về năng lực của cán bộ vận hành hồ chứa, theo đoàn công tác, tại một số công trình, kể cả các công trình lớn, còn thiếu cán bộ vận hành có kinh nghiệm, được trang bị đầy đủ kiến thức vận hành. Có lúc cán bộ vận hành chưa tuân thủ hoàn toàn quy trình được phê duyệt, chưa lập được kế hoạch vận hành chi tiết trên cơ sở các số liệu quan trắc thuỷ văn và chế độ điều tiết hồ chứa, thiếu linh hoạt trong thực hiện quy trình và chưa lập được phương án vận hành phù hợp với điều kiện thực tế. Đáng nói nữa là có một số cán bộ chuyên trách ban chỉ huy phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn của địa phương không đủ năng lực, thậm chí không nắm được thông tin về công trình, quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện trên địa bàn. Một số công trình đã đưa vào khai thác nhưng chưa lập và trình duyệt quy trình vận hành hồ chứa.

Thiếu an toàn

Một sự thật đáng kinh ngạc nữa được phát hiện: trong quá trình vận hành chống lũ, một số công trình thuỷ điện bộc lộ rõ những khiếm khuyết trong thiết kế, thi công nhưng chưa kịp thời có giải pháp khắc phục, ảnh hưởng đến sự an toàn, hiệu quả khai thác công trình. Trong việc thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập thuỷ điện, có một thực tế là việc triển khai đăng ký, báo cáo hiện trạng an toàn đập thuỷ điện còn chậm, chưa thống nhất. Tính đến tháng 12.2009, qua thời hạn đăng ký an toàn đập theo quy định hơn một năm mà bộ Công thương mới chỉ nhận được 15 công văn, báo cáo của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở công thương các tỉnh. Có chủ đầu tư còn cố tình không chấp hành việc đăng ký dù được nhắc nhiều lần. Phần lớn các chủ đầu tư chưa lập và trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bảo vệ đập, phương án phòng, chống lũ, lụt cho vùng hạ du để chủ động đối phó với tình huống ngập lụt do xả lũ khẩn cấp hoặc tình huống vỡ đập.

Những thực tế trên đây đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh đáng sợ về thuỷ điện miền Trung và Tây Nguyên. Với hiện trạng quản lý, quy hoạch, đầu tư, cách thức vận hành, thái độ chấp hành luật pháp… như đã nói ở trên thì sinh mạng của hàng triệu người dân miền Trung, Tây Nguyên rõ ràng bị đe doạ nghiêm trọng mỗi khi có mưa to, bão lớn. Đoàn công tác liên ngành đã vẽ ra bức tranh xác thực, nêu ra nguyên nhân cũng như những đề nghị cụ thể. Ví dụ, tại Dăk Lăk, đoàn công tác yêu cầu loại bỏ 38 DATĐ đã phê duyệt và điều chỉnh quy mô 35 DATĐ khác có nguy cơ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường – xã hội. Đoàn công tác cũng đề nghị các bộ, ngành liên quan sớm lập cho được quy trình vận hành liên hồ chứa; giao các tỉnh chỉ đạo các đơn vị thực hiện đầy đủ quy định về quản lý đầu tư các DATĐ trên địa bàn… Nhưng như vậy liệu đã đủ? Có thể, cần mổ xẻ chi tiết hơn nữa toàn bộ thực trạng quy hoạch, đầu tư, vận hành, quản lý nhà máy, hồ chứa để đi đến các biện pháp căn cơ hơn cho tất cả các DATĐ tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhằm một yêu cầu lớn nhất, ngoài mục đích phát điện, làm kinh tế: đó là đảm bảo sự an toàn về tính mạng, tài sản cho người dân và bảo vệ môi trường.
Mạnh Quân
http://sgtt.com.vn/Thoi-su/122246/Buc-tranh-dang-so.html

Advertisements

1 phản hồi »

  1. Anh Hiến, Nguyên Viện trưởng anh nói rằng xây mà máy Nhiệt điện chỉ 32-36 tháng nhưng nay Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 đã 7 năm chưa xong, anh quên mất một điều là sau 4 năm chưa giải phóng xong mặt bằng, nhân dân Tam Hưng không trả đất thì làm sao mà xây dựng nhà máy điện.
    Cho nên anh chỉ mới nói một nữa sự thật, mà một nửa sự thật hì không phải là sự thật.
    Tôi còn muốn tranh luận với anh nhiều điều lắm đấy…

    Phản hồi bởi Lê Việt — 01/07/2010 @ 5:38 chiều | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: