Hoàngquang’s Blog

01/07/2010

Sao lại đặt câu hỏi: “Thương trường là cõi Phật?”

Filed under: Kinh tế,Tôn giáo — hoangquang @ 9:21 sáng
Tags:

Phạm Anh Tuấn

Nhà chùa xưa nay phấn đấu để sao cho thoát khỏi cả vòng luân hồi, nữa là lại sa vào lĩnh vực kinh doanh vốn gắn liền với tham, sân, si. Ảnh minh họa

Nếu đặt câu hỏi: “Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?”, rất có thể, một ngày nào đó người ta lại tiếp tục đặt thêm một câu hỏi nữa. Ví dụ: “Liệu nhà chùa có được phép làm ăn lớn hay không?

+Nhà sư có nên kinh doanh?(I)-: Đại đức Thích Thanh Thắng

+Nhà sư kinh doanh – làm cái gì và ích lợi cho ai?(II)-: Đại đức Thích Thanh Thắng

+Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật? Tác giả: Khánh Linh

Cuộc sống không chấp nhận sự nửa vời, mập mờ

Cuộc sống có vô số những câu hỏi khác nhau. Một quá trình triền miên với những câu hỏi cũ và mới. Những câu hỏi dễ trả lời, những câu hỏi không dễ hoặc không thể có câu trả lời. Có câu hỏi do cuộc sống hằng ngày đặt ra. Lại có câu hỏi chung chung, vu vơ, giải đáp cũng được mà không cũng chẳng sao.

Loại câu hỏi thứ nhất gắn với một vấn đề nảy sinh có thật, nó đòi hỏi phải được giải đáp ngay càng sớm càng tốt. Loại câu hỏi thứ hai thực chất giống như một giả thuyết, câu hỏi được tung ra cốt để ướm thử, để thăm dò – những câu hỏi mở.

Thế nên có người đặt câu hỏi “Nhà chùa có nên làm kinh doanh hay không?” Nhà chùa xưa nay phấn đấu để sao cho thoát khỏi cả vòng luân hồi, nữa là lại sa vào lĩnh vực kinh doanh vốn gắn liền với tham, sân, si. Người hỏi chắc đã biết câu trả lời. Thế mà người ta vẫn cứ hỏi.

Ở bên cạnh chúng ta, những quốc gia theo đạo Phật đâu có thấy bao giờ họ đặt câu hỏi kiểu này. Nhà văn Nguyên Ngọc kể về các nhà sư đi khất thực mỗi sớm mai ở Luang Prabang (Lào): “Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng hiến. Các sư đi thành đoàn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt. Một khoảnh khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn vào cuộc lầm bụi hằng ngày” (nguồn: Báo Tuổi Trẻ Tết 2010).

Nhà chùa xưa nay phấn đấu để sao cho thoát khỏi cả vòng luân hồi, nữa là lại sa vào lĩnh vực kinh doanh vốn gắn liền với tham, sân, si. Ảnh minh họa

Có người lại đề xuất nhà chùa có thể làm kinh doanh trong phạm vi có thể. Họ đặt câu hỏi, “Tại sao không?”. Rồi giải thích rằng bởi vì thị trường có nhu cầu nên nhà chùa có thể cung cấp những sản phẩm không có đối tượng cạnh tranh, chẳng hạn, du lịch tâm linh, công viên nghĩa trang cao cấp (có “kỷ lục cao cấp” không đấy?). Thật là một phát biểu lủng củng, ý trước phủ nhận ý sau!

Bài học vỡ lòng của kinh doanh là tuân thủ quy luật cung – cầu và cố gắng tạo lợi nhuận tối đa. Thị trường cạnh tranh dữ dội nhất nhiều khi mới là thị trường có lợi nhuận nhiều nhất. Cuộc sống không chấp nhận sự nửa vời, mập mờ. Hoặc bố thí hoặc kinh doanh. Cái gì nửa vời, nửa nạc nửa mỡ thì đều dễ bị người khác lợi dụng. Rồi thì nhà chùa có khi chẳng được cái gì, tiền mất mà uy tín cũng mất.

Lại có người đề cập: “Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh”. Đây từng là một vấn đề tranh luận lớn giữa thuyết duy văn hóa (culturalist) và thuyết duy cấu trúc (structuralist). Thuyết duy văn hóa coi trọng cái chủ quan, đề cao giá trị cổ truyền bất biến trong khi thuyết duy cấu trúc coi trọng cái khách quan, đề cao luật pháp và bộ máy hành chính liên tục được cải tiến (mô hình thuần lý/pháp luật – the rational/legal model hay còn gọi là mô hình Anh/Mỹ – The Anglo-American model).

Nhưng văn hóa không hoàn toàn mang tính tiền định (deterministic) và không phải là một quá trình tĩnh. Mặt khác, không phải ai cũng thích và cũng có khả năng kinh doanh. Thuyết duy văn hóa thay thế cá nhân bằng một cái gì đó chung chung, trừu tượng, do đó nó không đáng tin.

Nơi con người hướng tâm đến cõi Phật

Cuộc khủng hoảng tài chính của châu Á năm 1997 là một ví dụ về sự thất bại của thuyết duy văn hóa. Châu Á phải trả giá đắt cho sự kiêu ngạo và tự mãn với cái gọi là “những giá trị châu Á” (Asian values”). Kể từ sau đó hầu hết các quốc gia châu Á đều lựa chọn mô hình thuần lý/pháp luật.

Trung Quốc vẫn tiếp tục đề cao những giá trị châu Á (gia đình, quan hệ cá nhân (guanxi), sĩ diện (mianzi), quan niệm “đầu gà hơn má lợn” v.v.) nên đã đi đến một thứ chủ nghĩa tư bản móc ngoặc hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản cánh hẩu (crony capitalism).

Ấn Độ – một quốc gia có nhiều điểm giống Trung Quốc (đất rộng người đông, dùng phát triển kinh tế để tự khẳng định mình) đã đi theo mô hình thuần lý/pháp luật (người ta phân biệt rạch ròi giữa Phật giáo và kinh doanh), và trên thực tế Ấn Độ phát triển bền vững hơn, hiệu quả hơn, ít móc ngoặc, tức ít tham nhũng hơn Trung Quốc (so sánh tỉ lệ lợi nhuận ròng giữa hai quốc gia này: Ô-tô: Trung Quốc 17,4%, Ấn Độ 20,6%. Năng lượng: Trung Quốc 17,6%, Ấn Độ 21,4%. Phần mềm: Trung Quốc 6,5%, Ấn Độ 27,3%. Hàng hóa: Trung Quốc 8,1%, Ấn Độ 17,2%… (Nguồn: Tạp chí The Economist ngày 8/12/2005).

Nhưng hãy thử hỏi giờ đây nhà chùa có thua kém gì xã hội bên ngoài. Chùa chiền dễ dàng mọc lên ở khắp nơi, các địa phương thi nhau tôn tạo, sửa chữa chùa cũ, có khi đập cũ để xây mới hoặc xây mới hoàn toàn từ đầu. Hình ảnh nhà sư lái ô tô, đeo kính râm nhãn hiệu thời thượng giờ đây không phải là hiếm. Có chùa khi có việc còn huy động được cả tàu bay, ô tô sang trọng tiền tỉ. Đời sống kinh tế đi lên thì nhà chùa cũng được hưởng lợi, chẳng nên nỡ thắc mắc, xét nét chuyện này.

Cả xã hội như đang ở trong những cơn sốt. Sốt đất đai. Sốt dự án. Sốt vàng. Sốt chứng khoán. Sốt chạy trường cho con, sốt chạy điểm, sốt chạy ghế… Hiếm ai thoát khỏi cái tâm lý sợ mất phần, sợ mình không đến lượt, sợ người khác được phần to hơn. Từ chuyện nhỏ cho tới chuyện lớn. Từ việc ăn uống, nói năng, đi lại, điều khiển xe cộ trên đường phố, lên xuống tàu xe, ra vào thang máy… cho tới xoay sở làm ăn…

Ai ai cũng vội vã, hối hả, cuống cuồng cứ như thể sợ đến lượt mình được gọi tên mà lại vắng mặt! Ở các thành phố biển, hễ mảnh đất nào ở vị trí thuận lợi, bãi biển nào đẹp đẽ hấp dẫn thì y như rằng đã có chủ hoặc đã có đại gia “xếp gạch” từ trước. Người dân muốn tắm biển phải mua vé vào cửa. Còn nếu muốn tắm miễn phí thì cứ tới những khu vực vừa xấu vừa bẩn vì ở gần cửa sông ….
Cả xã hội chạy theo cơn sốt: sốt đất, sốt chứng khoán… Ảnh minh họa

Cuộc sống xã hội sôi động, hừng hực, xô bồ ấy từng ngày từng giờ từng phút ùa từ bên ngoài vào nhà chùa theo đủ mọi cách, theo đủ mọi con đường. Nhà chùa chống chọi thế nào? Chỉ có nhà chùa mới có thể trả lời.

Tất nhiên con người phải sống cuộc sống của mình mỗi ngày. Không thể thoái thác – bởi “có thực mới vực được đạo”. Song, nhà chùa không phải là nơi dành cho sự “phú quý sinh lễ nghĩa”, không phải là nơi người ta tới đó để lễ tạ vì cầu được ước thấy. Nhà chùa không phải là nơi để cầu lộc, dù người ta gọi lái đi là “lộc rơi lộc vãi”. Nhà chùa là nơi để con người hướng tâm đến cõi Phật, ngộ ra, hoặc tỉnh thức những điều tốt đẹp ở bên trong tâm hồn.

Nếu đặt câu hỏi: “Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?”, rất có thể, một ngày nào đó người ta lại tiếp tục đặt thêm một câu hỏi nữa. Ví dụ: “Liệu nhà chùa có được phép làm ăn lớn hay không?”

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-29-sao-lai-dat-cau-hoi-thuong-truong-la-coi-phat-

______________

Nhà sư có nên kinh doanh?(I)
Tác giả: Đại đức Thích Thanh Thắng
Bài đã được xuất bản.: 28/06/2010 06:00 GMT+7

Người Phật tử muốn đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh thì cần phải được định hướng bằng những giá trị xuyên suốt của Phật giáo để không đi chệch mục đích tốt đẹp ban đầu.

?

LTS: Ngay sau khi đăng tải bài viết của doanh nhân Tạ thị Ngọc Thảo: “Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?”, Tuần Việt Nam chúng tôi nhận được bài viết của Đại đức Thích Thanh Thắng bàn xung quanh chủ đề này. Tuần Việt Nam xin trân trọng đăng tải.

5 loại bất thiện sinh kế không nên làm

Người Phật tử quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, bởi lẽ chất lượng cuộc sống cần phải được nhìn nhận thẳng thắn và khách quan trên cả hai bình diện vật chất và tinh thần. Sự giàu có của người Phật tử trong một quốc gia mà dân số chủ yếu theo Phật giáo không chỉ đánh giá chất lượng phát triển của một nền kinh tế mà còn chỉ ra những mục tiêu, đích hướng làm giàu thông qua những việc làm ích mình, lợi người và ích lợi cho cả hai.

“Nhà sư có nên làm giàu hay không?” luôn luôn là một đề tài nóng hổi, thu hút nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, cũng cần xét đến quan niệm về việc “làm giàu” khi xã hội Việt Nam thời trung cận đại chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo. Và trong những thời điểm lịch sử cụ thể, xã hội cũng từng xem nhẹ vai trò của thương gia, thậm chí có cái nhìn không mấy thiện cảm về người giàu.

Có người viện giải “cái giàu” luôn kéo theo nó những hệ quả của tệ nạn, bất công, hay do quá đầy đủ về hưởng thụ vật chất mà làm tiêu mòn những giá trị tinh thần. Song thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Nếu người giàu có được sự dẫn dắt của một lý thuyết nhân bản mà không vướng bận quá nhiều vào những “quan điểm” làm giàu thì sẽ tạo ra những phương thức quản trị mới nhắm đến hạnh phúc của con người nhiều hơn.

Chính từ trong bản chất, Phật giáo cho rằng kinh tế cần phải được nhìn nhận như lĩnh vực mang lại sự ấm no, hạnh phúc, mà ấm no và hạnh phúc không bao giờ tách rời nhau ở bất kỳ mô hình kinh tế nào.

Dung hoà giữa phát triển kinh tế và văn hoá, tâm linh đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và cả lòng từ bi nữa. Người Phật tử muốn đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh thì cần phải được định hướng bằng những giá trị xuyên suốt của Phật giáo để không đi chệch mục đích tốt đẹp ban đầu.

Có nghĩa rằng sản phẩm nào được cung cấp ra thị trường cũng cần phải đáp ứng những tiêu chí cơ bản về giá trị nhân đạo, nhân văn và phải bảo đảm tối đa cho môi trường sống. Và chính vì dựa trên những giá trị nhân bản của Phật giáo mà việc quản lý kinh tế được đi theo đích hướng hạnh phúc và an lạc trong việc tạo ra của cải, gìn giữ của cải và sử dụng của cải.

Có năm loại bất thiện sinh kế mà Đức Phật khuyên người Phật tử không nên làm đó là: Kinh doanh vũ khí; buôn bán người; bán động vật đến các lò mổ; buôn bán rượu và các chất gây nghiện, gây say; kinh doanh chất độc hại.

Bên cạnh đó, Ðức Phật cũng nói rất rõ về vấn đề hạnh phúc vật chất, hạnh phúc tinh thần qua việc làm giàu, tiết kiệm, sử dụng của cải một cách hợp lý và thực hành thiện pháp. Cụ thể trong kinh Trường A Hàm, Ðức Phật dạy thanh niên Sigàla nên bỏ ra 1/4 tiền lời để tiêu dùng hàng ngày, dành 1/2 tiền lời để mở rộng đầu tư kinh doanh, và 1/4 còn lại để phòng ngừa sự bất trắc.

Kinh Tăng Nhất A Hàm chép lại sự kiện Ðức Phật giảng pháp cho trưởng giả Cấp Cô Ðộc về bốn điều hạnh phúc của người cư sĩ:

1) Hạnh phúc khi toại hưởng một nền kinh tế vững chắc, hoặc một tài sản dồi dào được tạo ra bằng những phương kế công minh chính trực.

2) Hạnh phúc khi được tiêu dùng tự do cho mình, cho gia đình, cho bằng hữu thân quyến và cho những việc phước thiện.

3) Hạnh phúc khi không có nợ nần.

4) Hạnh phúc được sống một cuộc đời ngay thẳng, trong sạch, không tạo ác bằng tư tưởng, lời nói và hành động.

Ðức Phật cũng không quên nhắc nhở Đại trưởng giả Cấp Cô Độc rằng hạnh phúc vật chất không bằng 1/16 của hạnh phúc tinh thần do đời sống lương thiện mang lại.

Thực tế, “kinh tế nhà chùa” được hình thành (tự giác hay tự phát) cũng không nằm ngoài sự chung sức của cả hai chúng tại gia và xuất gia. Vì vậy, trí tuệ của những người Phật tử cần phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.

Nhưng mục tiêu kinh doanh luôn phải dựa trên tinh thần của Bát chánh đạo. Cụ thể là Chánh nghiệp cũng như thực hành lời dạy của Đức Phật về những việc làm ích mình, lợi người và ích lợi cho cả hai. Một số nhà kinh tế học đã đánh giá sự phát triển của một quốc gia không chỉ dựa trên chỉ số GDP mà còn dựa trên chỉ số hạnh phúc, sự thỏa mãn tinh thần, và đã có những nhà nghiên cứu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế thông qua những nguyên tắc cơ bản của Phật giáo.

Đức Phật hiểu rất rõ về giá trị của việc đảm bảo đời sống vật chất. Kinh Cakkavattisìhanàda Sutta có nói: Nghèo khổ là kết quả của sự bại hoại luân thường đạo lý và tội ác như trộm cắp, gian tham, hiếp dâm, thù oán, hung ác. Trong kinh Kùtadanta-Sutta, thuộc Trường A Hàm, Ðức Phật khuyến cáo rằng, muốn cho con người từ bỏ ác nghiệp thì phải cải thiện kinh tế xã hội.

Nên giúp giống và mọi vật liệu cần thiết về canh nông cho tá điền, cho dân cày; giúp vốn cho các thương gia và nghiệp đoàn; trả tiền thù lao thích đáng cho lao công. Khi dân chúng được giúp phương tiện để làm ra hoa lợi đủ xài, thì họ vừa lòng, không âu lo phiền muộn. Dĩ nhiên xứ sở sẽ được thanh bình và không còn trộm cướp, án mạng nữa.

Từ những tư liệu chỉ ra ấy, không ít những bài nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực “kinh tế học Phật giáo” và vai trò của các nhà sư trước xu thế chung của thời đại. Và có người đã đặt ra câu hỏi: Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể, tại sao không? Vấn đề nhấn mạnh ở đây chính là “phạm vi có thể”, tức những phạm vi phù hợp với giáo luật và năng lực của các nhà sư.

Không xa rời nguyên tắc đạo đức Phật giáo

Làm kinh tế để có nhiều điều kiện hơn đóng góp cho phúc lợi xã hội. Đó là những điều đã được đặt ra từ rất lâu trong đời sống tu viện ở một số truyền thống Phật giáo trên thế giới. Thực tế người Phật tử đã, đang và vẫn sẽ làm kinh tế dựa trên những mục tiêu tốt đẹp đó.

Nếu đặt vấn đề người Phật tử làm kinh tế thì Đức Phật đã đặt ra cách đây hơn 2.500 năm. Vấn đề ở đây là vai trò chủ động của các nhà sư trong nền kinh tế.

Các nhà sư làm kinh tế, dĩ nhiên đòi hỏi phải thoát ra ngoài tiêu chí “có nhiều tiền”. Bằng không hãy để điều đó cho những người tại gia làm, và họ có thể làm tốt hơn các nhà sư. Vậy phải chăng, thực tế xã hội đang có những khuyến khích nhà sư làm kinh tế như một sự hướng tâm cho xã hội bằng các dự án phát triển lối sống cộng đồng, tác động đến những mục tiêu kinh tế đang có nguy cơ làm tổn hại đến các giá trị nhân đạo, nhân văn và môi trường sống?

Những người mang danh là Phật tử không thể thực hiện những mục tiêu kinh doanh mà xa rời những nguyên tắc đạo đức Phật giáo. Phật giáo tồn tại dựa trên tinh thần cơ bản là “khế lý, khế cơ”, tức khả năng “nhập thế”, thích ứng cao với những đòi hỏi của thời đại, nên không thể đơn thuần xem các giá trị Phật giáo là tĩnh tại, bất biến, bởi vốn dĩ những giá trị gì mất đi hay còn lại luôn cho người ta những trải nghiệm quý báu.

Hầu hết mọi người đều có thể nói một cách dễ dàng điều ước của mình: Ước gì lúc này tôi có thật nhiều tiền để giúp đỡ người khác. Nhưng có thực khi có nhiều tiền thì người ấy sẽ giúp đỡ người khác không? Người Phật tử chắc chắn không thể thất hứa với chính mình nếu trong tâm anh ta luôn luôn nuôi dưỡng chí nguyện làm giàu để cứu giúp người.

Đó không phải là “vận may” do một đấng tối cao nào ban phát mà là tinh thần nhân đạo đã được nuôi dưỡng một cách thường xuyên, liên tục để đến lúc nào đó, nó mới trổ quả. Điều đó khác với một người giàu “muốn” trở thành một nhà nhân đạo hay muốn lấy tiếng cho thương hiệu của mình một cách phù phiếm.

Sự giàu có của anh ta phải trải qua một giai đoạn đổi thay (thậm chí đấu tranh) trong nhận thức khi tiếp cận những lời dạy cao cả của Đức Phật về lòng từ bi, vị tha, để anh ta có thể sử dụng của cải của mình một cách hữu ích nhất cho cộng đồng. Anh ta cần phải hiểu, chừng nào xã hội còn làm giàu cho anh ta nhiều hơn cái anh bỏ ra để trợ giúp cho người khác thì anh vẫn chưa thực sự trở thành “người giàu” đúng nghĩa. Đó là chưa kể nhiều người trở nên giàu có do làm ăn phi pháp, gây nhiều tổn hại cho con người và môi trường sinh thái.

Sự giàu có về tiền bạc cần trải qua một quá trình kinh doanh chính đáng, và đồng tiền không thể được sử dụng một cách tuỳ tiện, lãng phí. Một nhà sư có thể làm kinh tế? Sẽ là quá sớm để nói đến vấn đề hiệu quả khi guồng quay “tiền bạc” luôn luôn đi về phía tha hoá, và liệu các nguồn lực kinh tế có được do uy tín đạo đức có đủ sức cạnh tranh với những khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường?

Lúc đó “sản phẩm” mà các nhà sư đưa ra phải là những sản phẩm đáp ứng tất cả những nhu cầu tối thiểu của thị trường, tức sản phẩm thiết thực và hữu ích cho cộng đồng. Có thể lập một ngân hàng nhà chùa dành cho người nghèo, mà trước tiên việc hỗ trợ vốn vay cho những Phật tử nghèo trên căn bản của những ràng buộc về mặt đạo đức và niền tin, cũng như tư vấn đầy đủ cho những việc làm ngắn và dài hạn của người Phật tử, để đồng tiền có thể sinh lời đủ sức nuôi sống họ.

Xin ví dụ về việc phát triển “đài hoá thân” (hỏa thiêu) trên diện rộng, vừa phải đưa vào đó những lý thuyết, phong tục của Phật giáo, vừa tuyên truyền cho những lợi ích về việc hoả thiêu bằng điện rất có lợi cho môi trường sống, giảm chặt gỗ trên rừng, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, giảm chi phí tang ma… Hay đơn giản như các lĩnh vực như “trà đạo”, “hoa đạo”… với những sản phẩm nông nghiệp có giá trị thương hiệu. Những lĩnh vực này, các nhà sư hoàn toàn có thể làm một cách hiệu quả, song song với việc quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam.

Không có biểu tượng thuộc về của riêng ai trong tinh thần phục vụ con người và làm thăng hoa cái đẹp. Nếu một nhà sư có thể làm tốt vấn đề chăm sóc môi trường thì bản thân công việc kinh doanh đó là một trong những hiệu quả của nhận thức tu hành khi có thể đưa những giá trị xuyên suốt và giá trị thời điểm của Phật giáo đi vào cuộc sống, chứ không phải là những lý thuyết khô khan mà mỗi khi nói ra người ta chỉ biết lắc đầu “nói thì hay” nhưng không thấy làm.

Các lý thuyết kinh tế luôn luôn thay đổi và bổ sung những lý luận mới. Duy chỉ mục đích làm giàu được soi sáng bởi một định hướng giá trị Phật giáo là không thay đổi trong ý nghĩa làm lợi cho cuộc sống của chính con người. Và mối quan tâm chính của kinh tế Phật giáo chính là hạnh phúc hay an lạc (an lạc thụ dụng, an lạc sở hữu), song song với những hoạt động kinh tế phù hợp luật pháp quốc gia.

Nhà sư có bổn phận và trách nhiệm hướng dẫn đúng đắn cho người Phật tử về mục đích làm giàu và hiểu được giá trị đích thực của hạnh phúc. Nhà sư có thể trở thành những nhà tư vấn phát triển trên tinh thần đạo đức học Phật giáo, cùng với với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Một sản phẩm do một người Phật tử kinh doanh mà dựa trên những thang giá trị của Phật giáo chắc chắn phải là một sản phẩm hữu ích.

Và rõ ràng trong mối tương quan, phụ thuộc lẫn nhau giữa các mối quan hệ xã hội, không thể nói rằng nhà sư đang không làm kinh tế. Vì đỉnh cao của sự phát triển kinh tế vật chất cũng gắn với những nhu cầu cơ bản của con người trong một đích hướng hạnh phúc. Nếu chỉ nhìn đơn thuần “làm kinh tế” giống như một sự mặc cả mua bán theo kiểu cạnh tranh “ta sống, nó chết” trong thương trường thì không thể hiểu hết được những giá trị mà Phật giáo hướng đến.

(Còn nữa)
http://tuanvietnam.net/2010-06-26-nha-su-co-nen-kinh-doanh-i-

Nhà sư kinh doanh – làm cái gì và ích lợi cho ai?(II)
Tác giả: Đại đức Thích Thanh Thắng (tiếp theo và hết)

Khó có thể khuyến khích nhà sư làm kinh tế theo cách suy nghĩ đơn thuần là làm giàu của cải. Vì muốn tham dự vào guồng máy kinh tế, nhà sư cần phải được đào tạo về cơ bản những lĩnh vực thuộc về kinh tế học (nói theo tinh thần Phật giáo là “ngũ minh”)

Làm kinh tế theo quan điểm Phật giáo

Nhà sư làm kinh tế không nhất thiết phải là người ngồi bán sản phẩm và đếm tiền. Mà có thể là nhà quản trị, hay nhà tư vấn về sức khoẻ tinh thần cho những nhân viên đang mệt mỏi, lo âu, bất an trong đời sống. Và với những phương pháp thực hành hữu hiệu, công ty nào áp dụng sự rèn luyện Phật giáo vào trong quản trị kinh doanh thì hiệu quả kinh tế mang lại cũng không hề nhỏ.

Chẳng hạn một công ty có thể ký kết hợp đồng với các nhà sư về các khoá tu thiền, hay các buổi thuyết giảng về đạo đức công dân, triết lý sống hay tạo thêm niềm tin vào xã hội… thì đó chính là nhà sư đã tham dự vào công việc chung của một guồng máy kinh tế. Và chỉ có như vậy mới tạo ra sự bình đẳng trong cơ cấu khách quan của “kiến trúc thượng tầng” xã hội.

Sự đảm bảo cho các giá trị được xuất hiện mà đem đến niềm tin, sự an lạc thì chính khi ấy sản phẩm sẽ tiến dần đến cái đẹp và sự thăng hoa, bởi sản phẩm không đơn thuần chỉ mang một công dụng thuần vật lý hay chỉ là “cái hữu ích” mà còn tiến tới cái đẹp, cái cao cả.

Chính lý do này mà từ lâu, một đất nước có 2.000 năm văn hoá Phật giáo lại gặp phải những khủng hoảng trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, triết lý sống. Và thật khó để xác định một nền đạo đức quốc gia, trong khi Phật giáo có khả năng bù đắp rất nhiều vào khoảng trống của một nền luân lý xã hội.

“Tri và hành” hợp nhất, chính là vận dụng hiệu quả những nguyên tắc giáo lý theo đúng con đường Chánh nghiệp. Vì bản thân sự hiện diện và kết thúc cuộc đời tu hành của nhà sư cũng được đánh giá bằng những “công đức” (có thể gọi là những đóng góp phúc lợi) mà nhà sư ấy đã tạo ra cho đời sống hạnh phúc của xã hội: Vì hạnh phúc của số đông.

Nếu một công việc kinh doanh có thể tạo ra hạnh phúc cho số đông thì không cần phải đặt câu hỏi: Nhà sư làm kinh tế – tại sao không? mà chắc chắn lúc đó chúng ta sẽ đặt câu hỏi: Làm thế nào để kiếm được nhiều tiền giúp ích cho cộng đồng mà vẫn giữ được sự an lạc, thanh thản như các nhà sư? Đó mới là đích hướng cho những câu hỏi liên quan đến việc làm kinh tế theo quan điểm Phật giáo.

Nên kinh doanh dựa vào thực tiễn các giá trị hơn là để ý vào các nguyên tắc tranh luận nên hay không nên, bởi con đường Bồ tát đạo là con đường dấn thân vào các lĩnh vực cuộc sống để làm lợi cho cuộc sống, mà nhà sư không thể dửng dưng.

Tăng nguồn “vốn xã hội” chính là làm kinh tế một cách hiệu quả, nói như Phật hoàng Trần Nhân Tông của báu đó vốn sẵn đủ trong mỗi người, đừng nhọc lòng tìm kiếm ở bên ngoài. Thúc đẩy sự tự thắp sáng, tự điều chỉnh của mỗi cá nhân, chính là khai mở nguồn vốn xã hội sẵn đủ đó. Chẳng hạn, những thiệt hại về kinh tế do nạn phá thai, do tàn phá môi trường, do tai nạn giao thông, do hôn nhân đổ vỡ… không chỉ giảm tốc nền kinh tế mà còn gia tăng sự đau khổ trong đời sống tinh thần.

Nhà sư có thể tham gia một cách hiệu quả vào lĩnh vực này bằng các dự án cụ thể, khi ấy họ thực sự tham dự vào guồng máy phát triển kinh tế quốc gia bằng chính thước đo của hạnh phúc. Vấn đề ở đây là những cơ chế pháp luật và giáo luật nào sẽ được áp dụng để thúc đẩy những nhà sư và người Phật tử tham gia vào các dự án có khả năng định hướng và làm đổi thay lối sống cộng đồng.

Trong kinh Kutadana – Trường Bộ kinh, Đức Phật nói với vua Mahàvijita rằng: “Những vị nào trong quốc độ của nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, tôn vương hãy cấp cho những vị ấy hạt giống và thực vật. Những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư. Những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực quan chức, tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Khi những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình thì sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và khi ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp”.

Khủng hoảng triết lý sống thì cần phải có những triết lý có khả năng chống lại sự khủng hoảng này. Và Phật giáo gần đây, không phải ngẫu nhiên được Liên Hiệp Quốc lựa chọn như một nguyên tắc sống, có khả năng định hướng cho sự phát triển hài hòa. Sự thâm nhập giữa kinh tế và cạnh tranh giống như một “cuộc chiến” giành thị phần. Chính vì vậy nguồn gốc của những tư tưởng “bạo lực” trong kinh tế đã trở thành một quán tính sống mà sau này người ta lý thuyết hoá nó trở thành những “quy luật”.

Không dễ để trở thành nhà quản trị kinh tế tài ba

Sự cạnh tranh trong lợi nhuận đã khiến cho thế giới trở nên mất cân bằng và thiếu sự dung hòa. Chính sự thiếu dung hoà trong cạnh tranh kinh tế đang dẫn đến sự thiếu dung hoà trong các lĩnh vực khác của cuộc sống. Hãy nhìn vào cách người ta đi đường, xếp hàng trong mua bán, tranh nhau lên tàu xe… thì sẽ tỏ mờ nhận ra những tác động của việc khủng hoảng triết lý sống.

Vì vậy giữ vai trò dung hoà để làm cho nguồn vốn xã hội tự phát sinh thì đó chính là mục đích phát triển nền kinh tế xanh. Kinh tế xanh là kinh tế đảm bảo được những yếu tố phi bạo lực, phi cưỡng đoạt. Lợi nhuận là một sự chia sẻ cho những hoạt động vì lợi ích cộng đồng. Nguyên tắc đạo đức quốc gia là một phần để chuyển biến nền kinh tế khi theo đuổi những mục đích hài hoà và hạnh phúc. Một phần đáng kể đó là một nền kinh tế cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, công khai, ít những tiếng than thở về bóc lột, tham nhũng, hối lộ, chạy chức quyền, chạy dự án… Đó cũng chính là một nền kinh tế giảm thiểu khổ đau.

Trong kinh Ánh sáng hoàng kim, Đức Phật giảng: “Quốc dân tạo ác nghiệp, quốc vương không cấm đoán, thế là phi chánh pháp, không đúng cách trị đuổi. Thấy ác mà không chặn, phi pháp tự tưới lớn, thế là trong vương quốc, gian trá ngày càng nhiều. Quốc vương thấy quốc dân, làm ác mà không ngăn, thì chư thiên Đạo Lợi, cùng sinh ra phẫn nộ. Nên quốc chính thương tổn, dối trá lan khắp nước, bị ngoại thù xâm lược, huỷ diệt cả quốc vương. Nhà ở với đồ dùng, tài sản đều tan hoang, nịnh và láo đa dạng, chiếm đoạt hại lẫn nhau…”.

Trả lời câu hỏi xu hướng sống hiện nay của con người luôn hướng về lòng vị tha hay ích kỷ thì sẽ trả lời được câu hỏi cho một nền đạo đức quốc gia. Và chính nó sẽ tháo gỡ cho cuộc khủng hoảng triết lý sống mà nhiều người đang cảnh báo. Khắc phục trước tiên chính là ưu tiên cho văn hoá, nhằm cân bằng lại sự phát triển kinh tế đã khiến cho chiếc đòn gánh đời sống trở nên mất cân bằng nghiêm trọng.

Sự mất cân bằng đó lại chính là cơ sở của những xung đột xã hội ở các tầm mức khác nhau. Chính vì vậy cần phải hiểu vấn đề nhà sư “làm kinh tế” bằng cách khai mở nguồn vốn xã hội sẵn đủ ở nơi mỗi con người, không phân biệt là tại gia hay xuất gia. Nguồn vốn đó có sinh lời hay không, còn tuỳ thuộc vào khả năng và sự nỗ lực dấn thân của mỗi cá nhân vì những giá trị và ích lợi chung của cộng đồng.

Do đó, nếu chỉ hiểu đơn giản, hạnh phúc chỉ là sự tìm kiếm vật chất, hay cần phải làm giàu tiền bạc cho thật nhiều để giúp đỡ người khác, thì chính bản thân nền kinh tế sẽ trở nên khập khiễng. Đó không phải là một nền kinh tế mà các quốc gia tiến bộ mong đợi, và khi đánh giá sự tăng trưởng GDP cũng nên tiến hành song song với việc đánh giá sự tăng trưởng của chỉ số hạnh phúc quốc gia.

Quyền “chiến thắng chính mình” được thử thách qua các trở ngại, đó là bản lĩnh được tôi rèn của bất cứ nhà kinh doanh nào muốn bước chân vào thương trường, nhà sư cũng không ngoại lệ. Như vậy, người dấn thân không thể mơ hồ về khả năng của mình hay ỷ lại vào một sự ban phát vô hình. Quyền tự chủ con người khi làm ra đồng tiền cũng chính là quyền tự chủ của con người khi sử dụng đồng tiền.

Và quyền tự chủ ấy không cho phép lãng phí đồng tiền vào “lòng thương hại” không do mình tự chủ, ở đó lòng từ bi phát khởi ngay khi ích lợi được chia sẻ một cách có trí tuệ và hữu ích. Lười biếng, ưa hưởng thụ mà mong bước chân vào làm giàu thì chính bản thân nó đã trái ngược với các nguyên tắc nhân quả trong hành động.

Vấn đề cần đặt ra là sự ích kỷ trong bản thân mỗi con người có thể khiến nhà sư kiếm tiền và sử dụng đồng tiền đúng mục đích hay không? Điều đó tồn tại chủ yếu vào triết lý sống mà các giá trị Phật giáo đã tạo nên trong quá trình nhà sư nhận thức và trải nghiệm đời sống tu hành trước những cảnh bất hạnh hay khổ đau của đồng loại.

Nhà sư có triết lý sống thì bước vào kinh doanh sẽ không khủng hoảng, nao núng ngay cả khi nhà sư không thể làm tốt hơn để duy trì một công ty. Nhưng nếu nhà sư tham dự vào nền kinh tế bằng trách nhiệm xã hội và những ràng buộc của cơ sở pháp lý thì nhất định sẽ không cho phép nhà sư thất bại, vì đồng tiền đó là công sức của rất nhiều người.

Không dễ để một nhà sư trở thành nhà quản trị kinh tế tài ba. Cũng không dễ để nhà sư quản lý hết các bộ óc thế tục, bởi tiến trình “thế tục hoá” diễn ra ngay trong chính bản thân nhà sư, đặc biệt khi các mối quan hệ xã hội thân tộc, huyết tộc còn ảnh hưởng nặng nề. Sự tham lam, ích kỷ và lối sống hưởng thụ thực dụng chính là rủi ro lớn nhất trong kinh doanh của người tu hành. Dù giáo lý Phật giáo luôn mang đậm tinh thần “khế lý, khế cơ” nhưng đứng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng.

Cho nên chúng ta khó có thể khuyến khích nhà sư làm kinh tế theo cách suy nghĩ đơn thuần là làm giàu của cải. Vì bản thân nhà sư muốn tham dự vào guồng máy kinh tế, nhà sư cần phải được đào tạo về cơ bản những lĩnh vực thuộc về kinh tế học (nói theo tinh thần Phật giáo là “ngũ minh”).

Và nếu như vậy chắc chắn sẽ xảy ra sự phân loại trong các nhà sư và dẫn đến phá vỡ dần cấu trúc của tăng đoàn, bởi vốn dĩ người Phật tử luôn đòi hỏi nhà sư cần phải chú trọng nhiều hơn đến việc làm giàu cho đời sống tinh thần, cũng như hạnh phúc tinh thần của chúng sinh.

Nhà sư không nên làm kinh tế, vì…

Nhà sư muốn chạy đuổi theo thế gian qua sự cạnh tranh kinh tế, thì bản thân nhà sư phải xác định được, hay chí ít có một lý thuyết về giá trị làm điểm tựa cho những mục đích kinh tế xanh, làm lợi cho cộng đồng. Có thể thông qua nhà sư mà huy động các nguồn vốn xã hội để thực hiện những mục tiêu này. Lúc đó, cần phải nhắc đến những giá trị xuyên suốt mà Đức Phật đã chỉ dạy.

Ngay cả khi làm kinh tế để yêu nước, làm lợi cho tổ chức… cũng không thể đi ngoài những mục tiêu của kinh tế “phi bạo lực”, và không thể làm kinh tế để khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống lại tự nhiên, hay chống lại tương lai lâu dài của loài người.

Không những thế cần tuân thủ luật Phật và những nguyên tắc của Tăng đoàn về việc thụ dụng của cải. Nếu tài sản kinh doanh chỉ thuộc về sở hữu của cá nhân nhà sư đó thì sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực, nếu không muốn nói là di hại cho mai sau. Thế nên, việc kinh doanh của nhà sư phải được hiểu như việc thực hành Bồ tát đạo, trong đó có sáu nguyên tắc: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Tài sản đó cần được tư tưởng “Bố thí ba la mật” dẫn dắt với một cộng đồng Tăng già có uy tín đảm bảo.

Trong kinh Bố thí, Đức Phật dạy: “Các Tỳ Kheo, có hai loại bố thí – tài thí và pháp thí; trong hai loại bố thí này, pháp thí là cao nhất. Các Tỳ kheo, có hai sự phân phát: Phân phát của cải và phân phát đạo pháp; trong hai sự phân phát này, phân phát đạo pháp là cao nhất. Các Tỳ kheo, có hai cách giúp đỡ (nhiêu ích – anuggaha): Giúp đỡ của cải và giúp đỡ đạo pháp; trong hai cách giúp đỡ này, giúp đỡ đạo pháp là cao nhất”.

Ở Kinh Tăng Nhất A Hàm, Ðức Phật cho biết có bốn pháp đưa con người đến hạnh phúc trong đời hiện tại:

1) Phải mẫn cán và cương quyết, tận tâm và hăng hái trong nghề nghiệp, bất cứ nghề nào, và phải thông thạo nghề ấy.

2) Phải gìn giữ lời lãi chính đáng làm ra do mồ hôi công sức của mình, đừng để cho kẻ gian tham trộm cắp.

3) Phải có bạn lành, trung thành, học thức, đạo đức, quảng đại, trí tuệ để giúp mình giữ vững con đường chân chính và xa lánh nẻo tà.

4) Phải tiêu xài cho có chừng mực, tùy theo hoa lợi của mình. Không phung phí, không bủn xỉn, nghĩa là chẳng nên tích trữ vì bủn xỉn và cũng chẳng nên buông thả xa hoa. Nói cách khác, phải sống cho vừa phải với tài sản sự nghiệp của mình.
Không thể làm kinh tế để khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống lại tự nhiên. Ảnh minh họa

Ðức Phật chỉ dạy bốn đức để đưa đến sự hạnh phúc: a) Phải có đức tin và tín nhiệm nơi giá trị cao thượng của đạo đức, tinh thần và trí tuệ. b) Không sát sinh hại vật, không trộm cắp, không lường gạt, không tà dâm, không nói dối, không sử dụng các chất gây nghiện, gây say. c) Phải bố thí, quảng đại, không tham luyến. d) Phải khai thông tuệ giác để tận diệt nguồn gốc của sự khổ hầu tiến đến đạo quả Niết Bàn.

Kinh tế Phật giáo còn được nhìn nhận trong những lý giải vô thường, mà chính dân gian đã đúc kết “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Nên hiểu “họ” và “đời” ở đây là một sự phiếm chỉ cho những khả năng thay đổi bất ngờ và vai trò của cá nhân trong việc duy trì và sử dụng tài sản. Sự huỷ hoại của cải có thể đến trong một vài giờ, một vài năm, cho đến một vài chục năm. Hiện thực chỉ ra, trong khi nắm giữ của cải, sự do dự khi chia sẻ (kinh tế) giữa ngôi chùa lớn với ngôi chùa nhỏ, đã cho thấy không đơn giản để nhà sư làm kinh tế khi những động lực hành Bồ tát đạo còn chưa thuần thục.

Bằng không, việc nhà sư làm kinh tế cũng không ngoài cuộc chạy đua để dồn tụ của cải nhằm phát triển ngôi chùa của mình giống như một “công ty” không hơn không kém. Nếu không trả lời được câu hỏi này, có lẽ nhà sư không nên làm kinh tế, vì trước sau, chính nhà sư là người sẽ khoét sâu thêm khoảng cách giàu nghèo vốn đang gia tăng trong xã hội, mà vốn dĩ của cải được nhìn nhận theo tinh thần Phật giáo là luôn luôn vô thường, không bền vững.

Mặt khác, những cơ sở pháp lý hay hệ thống kinh tế liên quan, chưa có nhiều điều kiện để nhà sư phát triển mô hình “kinh tế xanh” của mình, đặc biệt khi nó được các đối tượng cạnh tranh khác nhắm tới vì mục đích lợi nhuận chứ không phải vì xây dựng một giá trị nhân văn hay một nền đạo đức quốc gia.

Nhà sư không bao giờ là người đứng ngoài mọi nền kinh tế, nên việc tham dự của nhà sư vào nền kinh tế không ai có thể phủ nhận hay ngăn cản, nhưng khi nhà sư đã dấn thân trực tiếp “kinh doanh” thì sẽ không thừa khi lặp lại câu hỏi: Làm cái gì, làm như thế nào và làm ích lợi cho ai?

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-28-nha-su-kinh-doanh-lam-cai-gi-va-ich-loi-cho-ai-ii-
_________________

Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?
Tác giả: Khánh Linh
Bài đã được xuất bản.: 25/06/2010 06:00 GMT+7

Kinh doanh là một cách dấn thân. Lúc này, thương trường cũng là cõi Phật. Đó cũng là một cách tu, thậm chí tu như thế còn phiền nhiễu gấp mấy trong chùa, nhưng nhờ đó thành quả cũng lớn hơn.

Nghe chủ đề buổi thuyết trình “Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh”, những tưởng sẽ được doanh nhân Tạ Thị Ngọc Thảo chia sẻ về cách thức áp dụng triết lý, văn hóa Phật giáo trong kinh doanh, hay chí ít là kinh nghiệm của bản thân bà – vừa là Phật tử, vừa là doanh nhân. Nhưng bất ngờ, Phật tử Tạ Thị Ngọc Thảo lại chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác: “Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể – tại sao không?”

Đối tượng cụ thể mà bà Tạ Thị Ngọc Thảo hướng đến trong Tuần văn hóa Phật giáo được tổ chức gần đây là chùa Huế, như bà tự nhận: Mong muốn được “khơi dậy tinh thần kinh doanh của một vùng đất văn hiến, đó là tỉnh Thừa Thiên – Huế”. Bởi theo bà, Huế có quá nhiều lợi thế. Người Huế luôn tự hào và yêu quý nhất mực mảnh đất này, nhưng Huế còn nghèo quá, mà lý do cụ thể nhất là thu nhập bình quân đầu người thấp – 1.030 USD/ người và tỷ trọng nông nghiệp quá cao 14,5%

Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với bà Tạ Thị Ngọc Thảo sau buổi thuyết trình có phần gây tranh cãi này.

Phật muốn chúng sinh giàu có

Vì sao bà lại chọn nói về đề tài “Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể – tại sao không?”

– Nếu chỉ lo cho đời sống của chùa thì hiện nay hầu như các chùa đều có thể tự túc được, không phải trông cậy nhiều vào nguồn cúng dường.

Nhưng để phụng sự xã hội, nhất là các tăng ni dấn thân phụng sự xã hội, thì phải trông vào các nguồn khác, trong đó có nguồn cúng dường, nguồn doanh nghiệp tài trợ… Một trường hợp cụ thể trong hoạt động của giới tu hành hiện nay ở Huế là Phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh đường – nơi khám chữa bệnh cho hơn 250 bệnh nhân nghèo mỗi ngày, thì nguồn thu để duy trì hoạt động luôn là vấn đề đau đầu.

Kinh tế phát triển thì không sao, nhưng khi kinh tế suy thoái như hiện nay thì nguồn cúng dường cho chùa bị giảm. Nguồn kinh phí cho công việc phúc lợi xã hội cũng đương nhiên phải giảm. Bác sĩ giám đốc rất lo sẽ đến lúc Tuệ Tĩnh đường phải đóng cửa. Nếu tình huống đó xảy ra thì trước mắt là 250 bệnh nhân nghèo không có nơi để khám bệnh.

Để những công trình phúc lợi, từ thiện của Phật giáo hoạt động được bền vững thì nhà chùa phải chủ động được nguồn tài chính, nghĩa là phải có hoạt động kinh doanh để lấy lãi nuôi những hoạt động phúc lợi này.

Khi đặt ra vấn đề kinh doanh với giới tu hành thì không chỉ Phật tử, cư sĩ, mà xã hội nói chung cũng dễ phản ứng, trong khi đó kinh doanh như thương gia Lương Văn Can định nghĩa là: “Sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của mình như phương tiện để giải quyết những vấn đề xã hội và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn”, thì kinh doanh có gì là sai trái mà không được làm? Trong cách nhìn của tôi, đó cũng là một cách tu.

Nữ doanh nhân - Phật tử Tạ Thị Ngọc Thảo

Hơn nữa, trong giới luật có cấm con của Phật tích lũy tài sản, phát sinh lợi nhuận, nhưng con Phật có hai chúng, chúng xuất gia và chúng tại gia. Đức Phật lại rất ủng hộ sự giàu có của chúng sinh.

Trong kinh Phật có nói về y báo và chánh báo. Y báo là dựa vào cái mình nương tựa. Nếu bạn được nương tựa vào người chồng làm kinh doanh giàu có lương thiện, cha mẹ là người phúc đức, con của bạn là đứa trẻ thông minh đạo hạnh, thì người ngoài sẽ nhận ra ngay y báo bạn tốt. Bạn đã gieo phúc và bây giờ được nhận.

Còn chánh báo thì sao? Đức Phật nói trong khi người ta còn phải ở những căn nhà lụp xụp bên cạnh đống rác hôi hám, thì bạn được ở ngôi nhà khang trang, được thưởng thức những hoa thơm, trái ngọt, ăn những bữa cơm ngon, sống trong không khí trong lành. Đó cũng là do bạn là người trước đó đã gieo phúc rất nhiều và nay được nhận. Nói như thế để thấy quan điểm của Đức Phật là ủng hộ sự giàu có.

Với những người xuất gia, Đức Phật khuyên sống thanh bần, vì không muốn con Phật vướng vào những thường tình đó sẽ làm hạn chế sự phụng sự cho đạo pháp, cho chúng sinh. Nhưng những người con Phật có tóc và chúng sinh thì Phật luôn luôn ủng hộ họ giàu có.

Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh là thế nào?

Bà có nghĩ khi trình bày đề tài này tại Huế sẽ vấp phải những phản ứng không?

– Trình bày đề tài chùa làm kinh doanh nơi đất Huế, với tôi là sự thử thách, thậm chí tôi xem đây là một đề tài đột phá tư duy, nhưng không thể không nói. Tôi nghĩ, may mà bây giờ mưa thuận gió hòa, đời sống của tăng ni và của người dân chưa đến nỗi quá khó khăn.

Nhưng nếu có một biến cố đột biến xảy ra, chẳng hạn suy thoái kinh tế trầm trọng, thiên tai dịch họa ụp đến bất thường thì mọi chuyện đều thay đổi. Đến lúc này nếu chùa không có cơ sở kinh doanh để chủ động một nguồn thu, duy trì những công trình phúc lợi xã hội mà chùa đang điều hành, thì đời sống của hàng ngàn tăng ni và dân nghèo ở Huế có thể sẽ bị chao đảo.

Kinh doanh không hề là vấn đề xấu. Vấn đề là ta sử dụng đồng lợi nhuận đó như thế nào, có đủ sức điều khiển đồng tiền, làm chủ bản thân không? Cái đó thì không phải do tiền, đổ thừa cho đồng tiền là không đúng.

Hơn lúc nào hết, trong thời hội nhập hiện nay, chủ động được nguồn thu để làm từ thiện, bớt lệ thuộc vào nguồn cúng dường, thông qua đó tạo việc làm và cơ sở vật chất, thu hút nguồn năng lực trung và cao cấp, góp phần tăng GDP thì chính là văn hóa Phật giáo trong kinh doanh.

Trước khi trình bày đề tài “Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể – tại sao không?” tôi rất lo, vì chỉ cần hai từ kinh doanh giữa Tuần lễ văn hóa Phật giáo thì đã là “nhạy cảm” rồi. Tôi đã thiền 2 tiếng trước buổi thuyết trình, vì tôi chuẩn bị một tinh thần giao lưu căng thẳng hơn. Ngay cả trong lúc trình bày tôi cũng thiền. Sau khi trình bày xong đến phần giao lưu tôi cũng thiền. Tôi hoàn toàn tỉnh thức trong mọi lời nói của mình.

Tôi cũng được biết, bài nói chuyện đó gây nhiều sự bàn cãi. Nhưng sau khi thầy Trừng, thầy của rất nhiều tăng ni ở đây. Thầy dạy ở Học viện Phật giáo, vốn là người rất khó tính mà thầy công nhận đây là một đề tài mới, cần thiết, thì tôi nhẹ người, vì đấy chính là tiếng nói phản hồi của Huế. Cũng có lẽ Đức Phật phù hộ nên Huế nhẹ nhàng đón nhận.

Tôi mới nhận ra rằng lúc này tôi nói là đúng thời cơ. Nói sớm thì không hay, nói chậm nữa thì qua mất cơ hội. Đưa đề tài này ra lúc này là rất hợp duyên.

Vậy theo bà, những người không phải Phật tử của Huế có thể tiếp nhận điều gì từ buổi thuyết trình của bà?

– Tôi lại nghĩ những người chưa phải Phật tử, kể cả Phật tử cũng thấy rằng chùa chủ động kinh doanh là vấn đề cần thiết, nhưng họ không thích những người mặc áo lam lại trực tiếp đứng ra mua bán, đụng chạm với đồng tiền.

Nhưng con Phật có hai chúng, chúng xuất gia và cư sĩ tại gia. Bởi thế tôi mới đề xuất giải pháp, nếu trong hàng ngũ cư sĩ có những người có ý tưởng kinh doanh đứng ra thành lập một công ty với HĐQT là các nhà sư thì có làm sao đâu?

Những việc gì thật sự đụng đến tiền bạc thì giới cư sĩ làm, còn những việc phụng sự xã hội thì các thầy các sư làm được chứ. Rõ ràng ở đây, những người con Phật cả hai chúng xuất gia và tại gia đều biết rằng đồng lợi nhuận đó sẽ như nước Cam Lồ rưới vào những quãng đời bất hạnh.

Kinh doanh cũng là một cách dấn thân. lúc này, thương trường cũng là cõi Phật. Đó cũng là một cách tu, thậm chí tu như thế còn phiền nhiễu gấp mấy trong chùa, do đó thành quả cũng lớn hơn.

Luật nhân – quả luôn ứng nghiệm

Vậy còn những doanh nhân không phải Phật tử, cũng không định kết hợp với nhà chùa làm kinh doanh, thì có thể áp dụng văn hóa Phật giáo như thế nào?

– Văn hóa dân tộc ta được xây dựng trên nền tảng văn hóa Phật giáo, nên tất cả những gì lợi cho mình, lợi cho người, đem niềm vui đến cho mình, đem niềm vui đến cho người, hoặc sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà có lợi cho người tiêu dùng; sự giàu có của mình góp thêm vào sự giàu có của đất nước, tiền bạc của số người giàu được chia sẻ lại cho số người còn người nghèo, để khoảng cách giàu nghèo rút ngắn lại, thì đó chính là văn hóa Phật giáo. Bất cứ doanh nghiệp nào áp dụng như thế thì giàu một cách bền vững, vì họ làm chủ “thụ dụng” (hưởng thụ và sử dụng đồng tiền mình làm ra).

Ngược lại, nếu sự giàu có của mình xâm phạm đến quyền lợi của người khác, đến môi trường, cào cấu vào thiên nhiên rồi trốn thuế, gian lận thương mại, rút ruột công trình để làm giàu cho mình, thì không có cách gì bền vững, không chóng thì chày sẽ đổ vỡ. Theo đúng thuyết nhân quả, gieo gì sẽ gặt nấy.

Là một doanh nhân, không cần phải là doanh nhân Phật tử, nếu ngay bây giờ không nghĩ đến chuyện gieo, nghĩ đến nhân duyên, coi chừng sẽ gặp ác báo. Vì thuyết nhân quả là quy luật khách quan do Đức Phật phát hiện ra, chứ không phải vấn đề tâm linh mơ hồ.

Ngoài những “hậu quả” về mặt vật chất, còn những hậu quả về mặt tinh thần thì sao?

– Tôi xin kể một trường hợp cụ thể của một người bạn mà tôi không muốn nhắc tên. Người bạn này có một chuỗi nhà hàng chuyên bán thịt thú rừng, giàu có lắm vì họ mua thú rừng của người dân tộc với giá rất rẻ, rồi bán lại với giá rất đắt. Họ có hai người con, một trai, một gái, 18 tuổi và 19 tuổi. Vậy mà cả hai con liên tục ra đi, một người tháng trước xe đụng chết, người con còn lại tháng sau xe đụng chết. Hai vợ chồng nhận ra ngay vấn đề, dẹp ngay chuỗi hàng quán đó, tức thì sám hối. Đó là nhân quả đồng thời.

Tôi có đọc những lá thư của những người tử tù là cán bộ rất lớn bên Trung Quốc. Họ kể rằng khi chỉ một chữ ký của họ để uốn một con đường từ hướng Tây qua hướng Nam là họ có được cả chục triệu đô la, do đó họ không kềm lòng được. Họ cũng có ý trách luật pháp không giúp cho họ ngăn chặn việc làm giàu quá dễ dàng như vậy. Họ có nói giá luật pháp chặt chẽ hơn, họ được giám sát nghiêm ngặt hơn, giá họ không kiếm tiền dễ như thế, thì họ đâu đến nỗi?

Khi họ có được đồng tiền dễ dàng như vậy, thì vợ của họ theo trai, con của họ thấy tiền nhiều quá thì xài phí phạm, ăn chơi sa đọa, dẫn đến đứa thì nhiễm bệnh thời đại, đứa thì làm gái… Chính bản thân họ liên tục thấy cô đơn, họ mới đi tìm những người tình nhỏ ở Đài Loan.

Để giữ những người tình nhỏ đó họ phải dùng những đồng tiền tham nhũng kiếm được, cho đến một ngày những người tình nhỏ quỵt hết những đồng tiền đó, rồi họ bị bắt, và bây giờ thì bị tử hình. Họ kết luận, những đồng tiền kiếm được không trong sạch làm cho lương tâm luôn bị day dứt, không bao giờ có được một giờ vui thật sự trong đời.

Họ ao ước nếu cuộc đời còn rộng tay với họ, nhà nước hãy cho họ đến một vùng nào đó xa xôi hiểm trở cũng được, để họ có điều kiện cày cuốc kiếm ra từng mẩu khoai, miếng ăn, để có thời gian họ sám hối. Nhưng một mưu cầu nhỏ nhoi như thế không còn kịp nữa vì vay thì phải trả, đó là luật nhân quả.

Vậy thì doanh nhân hãy kinh doanh theo văn hóa Phật giáo, hãy gieo những hạt giống tốt lành, để thu hoạch nhiều quả ngọt.

Trên thế giới đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp, với họ mục tiêu quan trọng nhất là phụng sự xã hội, dường như giống triết lý của đạo Phật. Người Việt mình thường tự nhận là theo đạo Phật, nhưng trong kinh doanh lại chưa theo được văn hóa Phật giáo. Vì sao vậy?

– Tôi nghĩ rằng hiện nay một số doanh nhân đang gặp khủng hoảng về triết lý sống, vì vậy họ sống theo bản năng, nặng về phần xác, nhẹ về phần hồn. Đã thế pháp luật hiện nay chưa đủ chặt chẽ để buộc những người này phải sống, làm việc và kinh doanh theo pháp luật.

Quan sát xã hội tôi thấy không chỉ một số doanh nhân mà đại bộ phận người dân cũng gặp khủng hoảng về triết lý sống. Tại sao xã hội ta hiện nay có quá nhiều người bị khủng hoảng về triết lý sống? Đây là một câu hỏi lớn mà những người có trách nhiệm phải cùng tìm câu trả lời.

(Mời độc giả cùng tham gia tranh luận với doanh nhân Tạ Thị Ngọc Thảo về ý tưởng có thể gây tranh cãi này)

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-22-kinh-doanh-la-dan-than-thuong-truong-la-coi-phat-

Advertisements

1 Phản hồi »

  1. kinh goi dao huu dong tu ta thi ngoc thao .
    trong cai goi la dot pha tu duy(CHUA CO THE LAM KINH TE TRONG PHAM VI,TAI SAO KHONG), toi thiet nghi chi la mot cau noi cho vui khong dung cho,con neu ba nghi rang day la mot dot pha ve tu duy,THI XIN BA HAY TIM HIEU THEM VE THUONG TOA GIAM DOC CONG TY IN PHAT QUANG THICH CHAN QUANG NUI DINH BA VIA VUNG TAU,THI BA SE BIET THAY ROI DAO PHAP SE DI VE DAU NEU NGUOI XUAT GIA LAM KINH TE?va noi ton nghiem thanh tinh chon gia lam co dung voi su dot pha sieu tai hai khi(THUONG TRUONG LA COI PHAT),coi phat la noi tich tinh,dut han moi uu bi phien nao ngu truoc ac the TUC LA COI VO LAU ,vi long tu bi lan man chu bo tat chu phat khong so gian kho cua the gian san sang thi hien hoang phap do sinh dem loi lac den muon loai,va noi coi phat khong co hon thua duoc mat,tranh danh doat loi,ay vay duoi con mat cua ba thuong truong la coi phat,ba da pham vao voi cam, neu khong suy nghi tu sam hoi thi se doa vao dia nguc vo gian VI VONG NGU HUY PHAT BAN TANG,
    ba hay nghi xem mot nha su lam giam doc dieu hanh mot don vi kinh doanh hay san xuat,co chuyen hoa duoc noi tam hay khong?trong hinh anh dau tron ao vuong,nhung than tam van con day uu bi phien nao,boi duoc mat thanh bai muon thich get bo…hinh anh trang nghiem thanh tinh chon gia lam coi tinh do cua nhan gian khac nao nhung khu cho chon hom moc len nhu nam trong thanh pho sai gon nay khong?.la dao huu dong tu hoc phat,toi khong dam noi la ba thieu hieu biet ve giao ly,nhung toi tin rang ba nen tham khao kinh sach va gioi luat nha phat nhieu hon,de co nhung dot pha tu duy dung voi chanh phap de lam cho loi doi tot dao.chu dot pha suy tu theo kieu THUONG TRUONG LA COI PHAT?thi dao phat se duoc goi la dao gi cho dunh nghia the gian?khi nguoi xuat gia khong duoc mo nghi ve qua khu,khong toan tinh den tuong lai,chi biet hien tai song bang com ao cua ba tanh TAM Y NHAT BAT,khong duoc tich luy,tinh tan hanh tri thien niem de chuyen hoa duc vong thanh niet ban THI MOI DEN DUOC COI PHAI,con ba thi cho rang THUONG TRUONG LA COI PHAT,lay troi suy tu dot pha kieu ba noi thi dua dao phat den voi THUONG TRUONG CUA MA QUI THI DUNG HON THUA BA PHAT TU NGOC THAO? nhu ba viet thi dung duc phat luon luon mong muon moi nguoi con phat dieu duoc no com ao am tich luy du thua tai san,nhung phai biet THIEU DUC TRI TUC loi minh loi, nguoi, cung la con phat,nhung nguoi cu si tai gia la nguoi HOC PHAT TU NHAN KHONG THUOC HANH XUAT THE DE LAM THIEN NHAN SU, nhung san sang chia se vat chat tien cua de giup doi,san sang hy sinh than mang va tai san de ho tri chanh phap voi tam vo cau, TU THOI BON SU CON TAI THE DA CO, cac ngai cu si tai gia nhu. NGAI DUY MA CAT,NGAI CAP CO DOC,NGAI DIEU NGUYET.V.V…
    la mot phat tu thieu hoc kem tai vi tren den bon on lon, vi trach nhiem gin giu va bao ve chanh phap cua moi nguoi con phat,xin duoc goi den ba doi dieu suy tu va tran tro khi doc qua CHUA CO THE LAM KINH TE TRONG PHAM VI,TAI SAO KHONG?va rat la dau long khi ba cho rang THUONG TRUONG LA COI PHAT,chinh ba la mot doanh nhan ba da hieu duoc thuong truong la chien truong thi bat buoc phai co HON THUA DUOC MAT,
    THI PHI NHAN NGA,THI XIN THUA VOI BA RANG NOI AY KHONG PHAI LA COI PHAT,doi loi chia se quan diem cung ba,neu co lam mat long mong ba hoan hy tha thu,cuoi cung xin goi den ba loi cau chuc SO NGUYEN TUNG TAM SO CAU NHU Y ,than tam thuong lac phat hoc phat dao vien tron ,tran trong kinh chao./.pt MINH TANH.

    Phản hồi bởi thangkhosaigon — 04/07/2010 @ 6:26 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: