Hoàngquang’s Blog

13/06/2010

HOA KỲ, TRUNG QUỐC, BIỂN ĐÔNG

Filed under: Hoa Kỳ- Trung Quốc-Biển Đông,HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM — hoangquang @ 3:49 sáng
Tags:

BBC

Giáo sư Carlyle Thayer từ Học viện Quốc phòng Hoàng gia Australia vừa có bài nghiên cứu về quan hệ Mỹ-Trung trong bối cảnh các mối quan tâm tại Biển Đông. BBCVietnamese.com xin trích giới thiệu cùng quý vị:

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và một số nước khác trong khu vực đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về quy mô và sự tăng trưởng của ngân sách quốc phòng Trung Quốc, cũng như sự thiếu minh bạch trong chi tiêu quốc phòng ở nước này.

Các quốc gia nói trên đều cho rằng Trung Quốc tăng ngân sách quân sự không chỉ nhằm mục tiêu tự vệ.

Chủ tịch hội đồng Tham mưu trưởng Mỹ, Đô đốc Mike Mullen, cho rằng ý định chiến lược đằng sau việc phát triển quân đội của Trung Quốc “dường như rất tập trung vào hải quân Hoa Kỳ và các căn cứ của chúng ta ở khu vực”.

Đô đốc Robert F. Willard, chỉ huy trưởng của quân đội Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương cũng nhận xét: ” Đặc biệt gây lo ngại là các yếu tố trong quá trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc dường như được đưa ra nhằm thách thức quyền tự do hành động của chúng ta ở khu vực.”

Ông Willard cũng cho rằng việc Trung Quốc cải tổ nhanh chóng lực lượng vũ trang đang “ảnh hưởng tới cân bằng quân sự khu vực và gây ra nhiều hậu quả vượt xa khỏi ranh giới châu Á-Thái Bình Dương”.

Quan hệ Mỹ-Trung không hoàn toàn là đối đầu mà trong đó có các yếu tố cạnh tranh, ganh đua và cả hợp tác.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với 80% diện tích Biển Đông, trong có các tuyến giao thông liên lạc quan trọng nhất. Sự mạnh bạo của Trung Quốc dẫn đến căng thẳng gia tăng với Việt Nam và ảnh hưởng tới các quyền lợi chiến lược và thương mại của Hoa Kỳ.
Căn cứ Tam Á và cán cân quyền lực

Năm 2007 các hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang xây cất căn cứ hải quân khổng lồ gần Tam Á trên đảo Hải Nam. Khi hoàn thành, căn cứ này sẽ mang tính chiến lược vô cùng quan trọng vì nó sẽ cho phép Trung Quốc nối dài “cánh tay quân sự” ra Biển Đông và Thái Bình Dương.

Các cầu cảng của căn cứ Tam Á có đủ chỗ cho nhiều tàu chiến cùng tàu ngầm, và đang được mở rộng để chứa thêm cả hàng không mẫu hạm trong tương lai.

Cùng lúc, Trung Quốc cho kéo dài đường băng trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, cải tạo cơ sở trên đảo Gạc Ma của Trường Sa và duy trì hiện diện tại đảo Vành Khăn ở phía tây bờ biển Philippines. Tóm lại, Trung Quốc đang tập trung cho việc thể hiện chủ quyền tại Biển Đông và bảo vệ các tuyến giao thông qua eo biển Malacca và Singapore. Từ những căn cứ nói trên việc triển khai hải quân ở Biển Đông sẽ nhanh chóng và dễ dàng hơn trước.

Mặt khác, Trung Quốc cũng sẽ có khả năng đe dọa các tuyến hàng hải quan trọng mà Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc đang dựa vào.

Có thể nói căn cứ hải quân Tam Á có ảnh hưởng tới cán cân quyền lực ở khu vực.

Nhiều phần của căn cứ này nằm dưới lòng đất và khó có thể theo dõi. Hình chụp từ vệ tinh cho thấy hiện diện của tàu ngầm Type 094 hạng Jin kể từ cuối năm 2007. Đây là tàu ngầm hạt nhân thế hệ thứ hai, vũ khí tấn công đáng gờm nhất mà Trung Quốc có trong tay.

Phân tích hoạt động xây dựng ở đây cho thấy căn cứ Tam Á có thể sẽ là nơi Trung Quốc giữ tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo xuyên lục địa.

Tàu ngầm hạt nhân hiện đại nhất của Trung Quốc hiện còn chưa được tung ra nhưng khi đi vào hoat động, loại này sẽ mang 12 quả hỏa tiễn đạn đạo bắn từ dưới biển lên. Nếu Trung Quốc thành công trong việc gắn nhiều đầu đạn vào hỏa tiễn thì sức hủy diệt của nó sẽ càng lớn.

Tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc sẽ có khả năng tuần tra và bắn phá từ những vị trí khó phát hiện dưới lòng biển.

Việc hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc là thách thức và đe dọa cho toàn thể Đông Nam Á và đặc biệt là Việt Nam. So với hải quân các nước khác, Trung Quốc có khả năng vượt trội và thống lĩnh. Trung Quốc đang giành ảnh hưởng với hải quân Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương.

Việc hoàn tất cơ sở Tam Á sẽ thay đổi đáng kể cán cân quyền lực ở Biển Đông.

Kể từ 2007, nhiều sự kiện diễn ra tại Biển Đông đã khiến cho tình hình an ninh ở đây ngày càng căng thẳng. Không những quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc gặp trở ngại, mà quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ cũng bụ đe dọa.
Mỹ-Trung còn nhiều bất đồng

Tuy không nộp hồ sơ chính thức về thềm lục địa mở rộng cho Ủy ban của Liên Hiệp Quốc hồi tháng Năm năm ngoái, Trung Quốc có gửi cho ủy ban này một tấm bản đồ với đường chín hình chữ U đoạn bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông để chứng thực cho chủ quyền của mình. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra bản đồ này, vì từ trước tới nay khi công bố các văn bản về chủ quyền của mình như Tuyên bố Chủ quyền Biển ( 1958), Tuyên bố về lãnh hải và Vùng phụ cận (1992), Tuyên bố về Đường cơ bản của lãnh hải (1996), và Luật nhà nước về Vùng Kinh tế đặc quyền và Thềm lục địa (1998), chưa ai thấy bản đồ này.

Hoa Kỳ đã cực lực bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong cuộc điều trần tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện về Đông Á và Thái Bình Dương, phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Scot Marciel đã bác các tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc vì không đi kèm với chủ quyền trên đất liền.

Ông Marciel gọi tuyên bố chủ quyền như vậy là “không phù hợp luật pháp quốc tế”.

Những năm gần đây Mỹ tỏ ra ngày càng quan tâm tới các cuộc tranh chấp chủ quyền ở Đông Nam Á chủ yếu vì hai lý do: quan ngại về tự do hàng hải và bảo vệ hoạt động của các công ty năng lượng Mỹ.

Ông Scot Marciel nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ có “quan tâm đặc biệt tới việc duy trì ổn định, quyền tự do đi lại và hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Đông Á”. Sau khi xem xét các trường hợp Trung Quốc đe dọa các công ty dầu khí Mỹ đang làm ăn với Việt Nam, ông Marciel tuyên bố: “Chúng tôi phản đối việc sách nhiễu các công ty Mỹ”.

Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, thì chỉ ra bốn chính sách: 1) biểu thị bằng cả lời nói và hành động rằng quân đội Mỹ tiếp tục hiện diện với tư cách lực lượng quân sự ưu việt ở trong khu vực.

2) khẳng định quyền tự do lưu thông của tàu chiến Mỹ tại nơi đây

3) xây dựng quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với các đối tác trong khu vực, nhất là trong an ninh hàng hải

Trung Quốc hồi tháng Ba năm nay đã liệt Biển Đông vào diện quan tâm chủ đạo, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng. Điều này có nghĩa Trung Quốc sẽ sẵn sàng bảo vệ quyền lợi của mình, kể cả bằng vũ lực.

và 4) củng cố cơ chế quốc phòng – ngoại giao với Trung Quốc để cải thiện đối thoại và giảm thiểu nguy cơ tính toán nhầm.

Quan hệ quân sự Mỹ-Trung còn nhiều điều phải cải thiện.

Phía Trung Quốc nêu ra bốn hạn chế cản trở quan hệ song phương, trước hết là chủ đề Đài Loan, là quan tâm chủ đạo của Trung Quốc.

Nếu Hoa Kỳ không giải quyết được vấn đề này thì quan hệ quân sự đôi bên sẽ không thể được.

Hạn chế thứ hai là Mỹ phải chấm dứt ngay việc vi phạm vùng kinh tế đặc quyền của Trung Quốc. Thứ ba, Mỹ phải sửa đổi các luật lệ như Luật Ủy quyền Quốc phòng 2000.

Cuối cùng, là việc Mỹ không có lòng tin vào Trung Quốc về mặt chiến lược.

Trong ba năm trở lại đây, tranh chấp Biển Đông từ chỗ chỉ là quan ngại an ninh âm ỉ giữa các nước Đông Nam Á nay trở nên nguy cơ bùng nổ nếu không được giải quyết khéo léo.

Trung Quốc hồi tháng Ba năm nay đã liệt Biển Đông vào diện quan tâm chủ đạo, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng. Điều này có nghĩa Trung Quốc sẽ sẵn sàng bảo vệ quyền lợi của mình, kể cả bằng vũ lực.
Phương hướng giải quyết

Các nước trong khu vực đều có liên quan trong quá trình trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc cũng như việc điều tiết quan hệ Trung-Mỹ. Trung Quốc và Hoa Kỳ cần được khuyến khích nối lại đối thoại quân sự và tổ chức đối thoại thường xuyên. Điều quan trọng nữa là hai bên cần đưa ra thỏa thuận giải quyết các vụ xung đột trên biển.

Hội nghị bộ trưởng quốc phòng Asean+ (ADMM+) lần đầu tiên sẽ được tổ chức tháng 10 năm nay tại Hà Nội, gồm 10 nước thành viên Asean và 8 đối tác (Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Nga, Hàn Quốc và Hoa Kỳ). ADMM+ cần được khuyến khích trở thành diễn đàn hiệu quả để đẩy mạnh minh bạch quốc phòng và giải quyết quan ngại trong khu vực về chương trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc.

Trung Quốc và các quốc gia có hạt nhân khác, nhất là các thành viên Hội đồng Bảo an, cần tham gia Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí hạt nhân Đông Nam Á.

Trung Quốc lâu nay đã lấy cớ bảo vệ nguồn cá để tăng cường hoạt động tại Biển Đông. Trung Quốc cần được khuyến khích hợp tác với các nước cùng bảo vệ và duy trì nguồn lợi thủy hải sản ở Biển Đông để không phải áp dụng lệnh cấm đánh bắt đơn phương nữa.

Asean cần thuyết phục Trung Quốc tham gia đàm phán ngoại giao hướng tới bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông.

Các nước trong khu vực cần có sáng kiến tổ chức họp bàn cấp cao về Luật Biển LHQ nhằm tháo gỡ tình trạng bế tắc trong tuyên bố chủ quyền về thềm lục địa mở rộng và quy định về việc tàu hải quân các nước có thể hoạt động thế nào trong vùng kinh tế đặc quyền của mỗi nước.

Các quốc gia trong khu vực cần tiếp tục đối thoại để tăng cường cấu trúc an ninh khu vực thông qua cơ chế mới bao gồm các cuộc gặp gỡ thường xuyên của các nguyên thủ để bàn về các vấn đề có thể ảnh hưởng tới an ninh khu vực.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/06/100603_us_china_sea.shtml

_____________________
VN trong Đối tác TBD của Hải quân Mỹ

Chỉ huy tàu USNS Mercy muốn các nước tham gia Đối tác Thái Bình Dương nhằm đối ứng và giảm nhẹ thiên tai.

Tàu quân y USNS Mercy của Hải quân Mỹ hiện đang đậu ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong chuyến thăm nhân đạo Việt Nam lần thứ hai.

Các bác sĩ của tàu cùng một số tổ chức thiện nguyện quốc tế đang tiến hành khám chữa bệnh cho người địa phương.

Hoạt động này nằm trong sáng Đối tác Thái Bình Dương nhằm giúp các nước Á châu chuẩn bị đối ứng với thảm họa thiên tai.

Chỉ huy tàu USNS Mercy, đại úy Lisa Franchetti đã dành cho BBC Việt Ngữ cuộc phỏng vấn qua điện thoại vào ngày 3/6.

Đầu tiên bà Franchetti nói đến sự ra đời của sáng kiến Đối tác Thái Bình Dương.

Capt. Lisa Franchetti: Năm nay là năm thứ 5 của kế hoạch Đối tác Thái Bình Dương. Mục đích của hoạt động này là hỗ trợ nhân đạo và giúp dân các nước vùng Tây Thái Bình Dương trong các chuẩn bị đối phó với thiên tai. Hoạt động này nằm trong các chuyến thăm hàng năm, tạo điều kiện o chúng tôi làm việc cùng một số quốc gia trong vùng. Chuyến đi có sự tham gia của một số đối tác từ thiện, chính phủ hoặc phi chính phủ, từ Mỹ và một số nước khác nhằm cung cấp trợ giúp nhân đạo. Cùng lúc chúng tôi xây dựng quan hệ với quốc gia chủ nhà, nhằm thực tập sự đối ứng một cách có hiệu quả thảm họa thiên tai, hay khủng hoảng nhân đạo.

Nằm trong sáng kiến Đối tác Thái Bình Dương, trong năm nay, ngoài Việt Nam tàu Mercy sẽ ghé Campuchia, Indonesia, và Đông Timor. Cạnh đó chúng tôi có hai sự kiện Pacific Partnership khác, đó là thủy thủ của một tàu chiến Mỹ sẽ thăm Lào và tàu đổ bộ Úc ghé thăm Papua New Guine.

BBC: Thưa bà chỉ huy, xin bà hãy nói đến chương trình hoạt động của tàu USNS Mercy trong chuyến thăm Việt Nam lần này?

Ngoài Việt Nam, tàu bệnh viện USNS Mercy còn đến Campuchia, Indonesia và Đông Timo.

Capt. Lisa Franchetti: Tại Việt Nam, kể từ mùa thu năm ngoái, chúng tôi đã làm việc cùng Bộ Y tế, và UBND tỉnh Bình Định để bàn về chương trình làm việc cho tàu Mercy.

Đi cùng với chúng tôi đến VN lần này có chiến hạm Kunasaki của Hải quân Nhật Bản, và một nhóm nhân viên y tế người Nhật. Được sự đồng ý của UBND tỉnh chúng tôi chọn ra sáu trường học, và biến chúng thành trạm xá tại Bình Định. Mỗi trạm xá như vậy có thể khám bệnh từ 350 đến 500 trong người một ngày. Các trạm xá này cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, răng miệng tổng quát, cũng như dịch vụ nhãn khoa. Cạnh đó chúng tôi có phòng giải phẫu đặt trên tàu Mercy. Các chuyên viên y tế của chúng tôi, qua sự phối hợp với UBND, bệnh viện tại địa phương, thực hiện các vụ giải phẫu cho bệnh nhân địa phương.

BBC: Thưa bà, bà có thể nói thêm về tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ cộng tác giữa Hải quân Mỹ và nước chủ nhà, trong trường hợp này là Việt Nam, nhằm chuẩn bị đối ứng với thảm họa thiên tai?

Capt. Lisa Franchetti: Mục đích của chương trình Đối tác Thái Bình Dương, Pacific Partnership là xây dựng quan hệ với một số nước trong vùng. Có được cơ hội cùng nhau làm việc, chia sẻ các quan tâm về công tác nhân đạo, và khi cần có thể tập hợp nhau để giảm nhẹ gánh nặng thiên tai là điều rất cần thiết. Tôi có dịp chứng kiến người Việt và người Mỹ làm việc cùng nhau, từ khám chữa bệnh cho đến sửa chữa nhà cửa, trạm xá. Cả công binh của Úc tham gia nữa. Hãy tưởng tượng sau một thiên tai nào đó, những người này lại làm việc cùng nhau để khôi phục đời sống của người dân một cách nhanh nhất. Tôi cho rằng hoạt động như vậy có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ, học cách làm việc cùng nhau. Nếu chúng ta được mời đến để giảm nhẹ hậu quả thảm họa thiên tai, các kỹ năng này sẽ được dùng tới và tôi tin là công việc sẽ được tiến hành tốt hơn.

BBC: Vậy có thể nói rằng nếu thiên tai xảy ra ở đâu đó gần bờ biển Việt Nam, khi ấy Hải quân Hoa Kỳ sẽ có nhiều khả năng tham gia hỗ trợ nhân đạo?

Capt. Lisa Franchetti: Vâng tôi nghĩ vậy. Nếu bất cứ thiên tai nào xuất hiện trong vùng Thái Bình Dương, chính phủ của nước gặp nạn, và chính phủ Hoa Kỳ đồng ý điều tàu Mercy đến, khi ấy chúng tôi sẽ đáp ứng nhu cầu một cách nhanh chóng. Cạnh đó, với các nước đối tác trong chương trình Pacific Partnership, chúng ta có thêm cơ hội cho các nước đối tác, và Hoa Kỳ nữa, có thể đến Việt Nam trợ giúp, mang đến các giải pháp giảm nhẹ thiên tai tốt hơn trong tương lai.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/06/100604_usnsmercy_quynhon.shtml

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: