Hoàngquang’s Blog

28/05/2010

Bội chi ngân sách 2009 là bao nhiêu?

Filed under: Chính trị- xã hội,Kinh tế,Văn hóa-Xã hội — hoangquang @ 2:24 chiều
Tags: ,

Bội chi ngân sách 2009 là bao nhiêu?Nguyễn Quang A

&Bàn thêm về khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam- GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
+Bộ trưởng Đầu tư: Làm đường sắt cao tốc là đúng lúc
*

Những phép toán khá đơn giản, cộng trừ nhân chia, xung quanh thu chi ngân sách năm 2009. Nhưng đáp số lại không rõ ràng. Người ta không thể dứt khoát con số bội chi ngân sách năm qua!

Nếu so với con số tổng chi 506,55 ngàn tỷ (theo báo cáo tháng 10-2009 của Chính phủ), thì thâm hụt ngân sách thực chỉ là 506,55 – 442,34 = 64,21 (ngàn tỷ đồng) (chỉ bằng 3,82 % GDP, thấp hơn mức thâm hụt khoảng 5% GDP của nhiều năm trước).
Vậy tại sao UBTV Quốc hội, trong phiên họp ngày 14-4-2010, lại chấp thuận thâm hụt ngân sách là 6,9 % GDP?

Nguyễn Quang A

Vượt thu?
Thiết nghĩ, Bộ Tài chính cần công khai số liệu và giải thích rõ các khoản thu, các khoản chi để nhân dân và các Đại biểu Quốc hội được biết; và cơ quan Nhà nước nên gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh luật.

Cách đây một năm, tháng 4-2009, trong kỳ họp thứ 5 khóa XII, Quốc hội bàn về bội chi ngân sách 2009. Khi đó Chính phủ đề xuất bội chi ngân sách 2009 là 8% GDP. Quốc hội cho là quá cao. Rồi Quốc hội ra Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19-6-2009. Điều 2 của nghị quyết đó quy định: “…Mức bội chi ngân sách nhà nước không quá 7% GDP”. Nghị quyết cũng quy định “Chính phủ sử dụng số bội chi ngân sách Nhà nước tăng thêm chỉ để bù đắp số hụt thu, bảo đảm nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước năm 2009 đã được Quốc hội quyết định”.

Kỳ họp thứ 6 khóa XII (20-10 đến 27-11-2009), Chính phủ báo cáo thực hiện ngân sách năm 2009 và dự trù ngân sách 2010. Khi đó, tổng thu ngân sách Nhà nước cả năm 2009 dự kiến là 390,65 ngàn tỷ đồng, bội chi ngân sách ở mức 6,9% GDP, tương đương với 115,9 ngàn tỷ đồng.

Nói cách khác, theo báo cáo của Chính phủ cho Quốc hội trong kỳ họp thứ sáu, tổng chi ngân sách năm 2009 sẽ là tổng thu + tổng bội chi, tức là: 390,65 + 115,9 = 506,55 (ngàn tỷ đồng).

Theo báo cáo của Chính phủ cho UBTV Quốc hội ngày 14-4-2010 về việc thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2009, thu ngân sách vượt 51.690 tỷ đồng so với dự kiến thu đã báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 6. Theo nghị quyết trên, số hụt thu đã giảm, nên số bội chi ngân sách cũng phải giảm tương ứng!

Chính phủ không nói rõ khoản vượt thu này là do thu thuế, phí thêm, hay tăng thu từ vay mượn thêm. Nhưng theo Luật Ngân sách, khoản vượt thu này không thể là khoản vay thêm. Nói cách khác, đó là khoản thu thêm được từ nền kinh tế. Nếu lập luận trên là đúng, đây là một thành tích rất xuất sắc của ngành thuế.

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, giá dầu giảm mạnh khiến nguồn thu từ tài nguyên giảm, doanh nghiệp và nhân dân được miễn giảm nhiều khoản thuế nhưng, bất chấp tình hình đó, thu ngân sách 2009 vẫn vượt 13,4% so với dự toán, vượt so với báo cáo của Chính phủ tháng 10-2009 là 51,7 ngàn tỷ đồng. Đấy là một thành tích rất xuất sắc.

Như thế tổng thu ngân sách 2009 thực sự là: 390,65 + 51,69 = 442,34 (ngàn tỷ đồng).

Theo Điểm 1, Điều 59, Luật Ngân sách Nhà nước (2002), “số tăng thu và tiết kiệm chi so với dự toán được giao, được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách”. Nói cách khác, phần vượt thu 51,69 ngàn tỷ đồng trước hết phải được sử dụng để giảm bội chi.

Thực sự thâm hụt bao nhiêu?

Theo tinh thần đó, hãy xem thực sự thâm hụt ngân sách 2009 là bao nhiêu. Nếu so với con số tổng chi 506,55 ngàn tỷ (theo báo cáo tháng 10-2009 của Chính phủ), thì thâm hụt ngân sách thực chỉ là 506,55 – 442,34 = 64,21 (ngàn tỷ đồng) (chỉ bằng 3,82 % GDP, thấp hơn mức thâm hụt khoảng 5% GDP của nhiều năm trước).

Vậy tại sao UBTV Quốc hội, trong phiên họp ngày 14-4-2010, lại chấp thuận thâm hụt ngân sách là 6,9 % GDP?

Chỉ có thể lý giải tình hình này rằng các cơ quan Nhà nước đã chưa thực hiện nghiêm ngặt Luật Ngân sách. Vẫn còn các khoản chi trước chưa được dự trù, chưa nằm trong danh mục chi ngân sách đã được Quốc hội thông qua.

Có lẽ đúng vậy, nên Bộ trưởng Bộ Tài chính mới phải giải trình rằng mức bội chi ngân sách nhà nước 115,9 ngàn tỷ đồng (là mức mà Bộ đề xuất tương đương với 6,9% GDP để cho không vượt quá mức 7% mà Quốc hội cho phép) “khiến cân đối ngân sách trung ương năm 2009 vẫn còn thiếu và phải xử lý tiếp trong quá trình điều hành ngân sách Nhà nước năm 2010, và các năm tiếp theo”.

Thành tích vượt thu ngân sách thật đáng trân trọng và khen ngợi, nhưng việc “cân đối ngân sách trung ương năm 2009 vẫn còn thiếu” chỉ có thể lý giải rằng có các khoản đã chi rồi nhưng chưa được dự trù, chưa có nguồn, và không thể quyết toán, nên phải xin hợp thức hóa nguồn bằng cách tăng bội chi lên 6,9% GDP thay vì 3,82% GDP như tính toán ở trên.

Rốt cuộc mọi khoản chi ngân sách là chi tiền của dân (thuế, thu từ tài nguyên hay từ nợ mà các thế hệ sau phải đóng thuế để trả). Bởi vậy, minh bạch thu chi ngân sách là đòi hỏi cấp bách và chính đáng của dân và cũng đã được luật hóa.

NQA

Nguồn: http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/500165/Boi-chi-ngan-sach-2009-la-bao-nhieu.html
http://www.boxitvn.net/bai/4600
________________

Bàn thêm về khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam
Tác giả: GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân

Khoảng cách giàu – nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội. Khoảng cách giàu – nghèo ắt sẽ nảy sinh. Nhưng sự bền vững của phát triển ở tất cả các nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng cách giàu – nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép.

Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế – xã hội năm 2009 và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010 của Chính phủ, cũng như báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung của Ủy ban Kinh tế tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội đề cập đến vấn đề giảm nghèo nhưng không có một thông tin nào về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Xin có vài số liệu bổ sung vào bức tranh kinh tế – xã hội của đất nước [1].

Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội được thể hiện bằng nhiều cách, thông qua thu nhập, qua các chi tiêu, qua việc hưởng thụ các tiện ích y tế, giáo dục, văn hóa. Đối với các quốc gia, các vùng và các tỉnh thành phố, qua chỉ số phát triển con người (HDI) hoặc thông qua chỉ số phát triển thiên niên kỷ (MDG). Số liệu mà bài viết này dẫn ra chủ yếu là về khoảng cách qua thu nhập.

(1) Theo số liệu thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với nhóm 20% thấp nhất trong cả nước năm 1990 là 4,1 lần, năm 1991 là 4,2 lần, năm 1993 là 6,2 lần, năm 1994 là 6,5 lần, năm 1995 là 7,0 lần, năm 1996 là 7,3 lần, năm 1999 là 7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần và năm 2004 là 8,4 lần. Trong 14 năm, hệ số chênh lệch tăng lên 2,05 lần.

(2) Một chỉ số khác về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội là tỷ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm 1 và nhóm 2) trong tổng thu nhập (của cả 5 nhóm). Theo quy ước mà Bộ Tài chính sử dụng, nếu tỷ trọng này nhỏ hơn hay bằng 12% thì bất bình đẳng là cao; nằm trong khoảng 12 – 17%, là bất bình đẳng vừa; nếu lớn hơn hay bằng 17% là tương đối bình đẳng.

Khoảng cách giàu – nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội. Ảnh minh họa: Saga

Số liệu thống kê cho kết quả: tỷ trọng này của Việt Nam năm 1995 là 21,1%; năm 1996 là 21%; năm 1999 là 18,7%; năm 2002 là 18%, năm 2004 là 17,4%. Trong 9 năm, sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ từ tương đối bình đẳng đang tiến dần về bất bình đẳng vừa.

(3) Hệ số Gini (G) là một chỉ số khác nữa thể hiện sự bình đẳng hay bất bình đẳng trong xã hội. Hệ số G có trị số nằm trong khoảng từ 0 đến 1. G = 0 là trường hợp bình đẳng hoàn hảo, trong khi đó G = 1 là bất bình đẳng hoàn hảo.

Các số liệu thống kê Việt Nam cho thấy, hệ số Gini năm 1994 là 0,350, năm 1995 là 0,357, năm 1996 là 0,362, năm 1999 là 0,390, năm 2002 là 0,420, năm 2004 là 0,423. Sự bình đẳng đang giảm dần, sự bất bình đẳng đang lớn dần.

(4) Hệ số chênh lệch thu nhập giữa các nhóm hộ có thu nhập cao nhất và thấp nhất trong cả nước và tại một số vùng, theo kết quả điều tra của TCTK, trong các năm 1996 và 1999 như sau:

Trong mười năm trở lại đây, không tìm thấy số liệu điều tra.

Các số liệu, tính toán theo các phương pháp khác nhau, tự chúng đã nói lên khá rõ về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội và động thái của nó trong thời gian qua ở nước ta. Rất tiếc không tìm được số liệu sau năm 2004 và nhất là những năm gần đây.

Khoảng cách giàu – nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội. Nói cách khác, nó là một chỉ số vừa của môi trường kinh tế vừa của môi trường xã hội.

Xã hội cần có đông lực để phát triển. Khoảng cách giàu – nghèo ắt sẽ nảy sinh. Nhưng sự bền vững của phát triển ở tất cả các nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng cách giàu – nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép.

Để cử tri cả nước có điều kiện theo dõi khía cạnh này, Quốc hội và Chính phủ nên bổ sung báo cáo của mình tại kỳ họp này [2], và trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế xã hội hàng năm từ nay về sau, một chỉ tiêu về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội nước ta.

___________________________
[1] Số liệu trong bài viết được tập hợp từ số liệu thống kê chính thức và một số tài liệu đã được công bố, đọc được qua mạng: (a) Số liệu của Tổng Cục Thống Kê, đặc biệt hai tài liệu Phân tích kết quả điều tra đời sống, kinh tế hộ gia đình năm 1999 và Điều tra mức sống hộ gia đình 2006. (b) Thực trạng giàu nghèo và những vấn đề đặt ra, 03.2006, TBTC 34 của Bộ Tài Chính. http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=31712.

[2] Có thể tại các phiên thảo luận và chất vấn tại kỳ họp.

http://www.tuanvietnam.net/2010-05-23-ban-them-ve-khoang-cach-giau-ngheo-o-viet-nam

________________

Bộ trưởng Đầu tư: Làm đường sắt cao tốc là đúng lúc
Cập nhật lúc 05:57, Thứ Hai, 24/05/2010 (GMT+7)
,
– Việt Nam không còn là nước nghèo, thu nhập đầu người 1.200 USD… VN đã xem kỹ điều kiện vay, khoản nào có khả năng trả nợ được thì mới vay – Bộ trưởng KH-ĐT Võ Hồng Phúc khẳng định bên lề Quốc hội.

Phù hợp thời điểm

Thưa Bộ trưởng, tại sao Việt Nam lại quyết tâm xây dựng tuyến đường sắt cao tốc khi chỉ có 11 nước sở hữu nó và đều là các nước rất phát triển?

Cần nhìn nhận lại cho rõ. Nhật Bản xây dựng đường sắt cao tốc vào lúc nào? Họ bắt đầu vào năm 1955, chỉ 10 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai. Khi đó kinh tế Nhật kiệt quệ, nhưng họ vẫn lo tính toán cho hàng chục năm tiếp theo.

“Trong buổi thảo luận tổ của QH, tôi đã phát biểu so sánh với các nước’ – Bộ trưởng Võ Hồng Phúc (trái) nói.

Hơn nữa, đường sắt cao tốc phải xây dựng trong 20-30 năm. Nước Nhật còn làm trong 40 năm và bây giờ vẫn đang làm các tuyến mới.

Chúng ta phải nhìn nhận khả năng phát triển trong dài hạn để đưa quyết định.

Đặt vấn đề xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam vào thời điểm này, khi Việt Nam vẫn còn nghèo, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009, phải đi vay nước ngoài 1,8 tỷ USD cho ngân sách, có phải là đúng thời điểm?

Đặt vấn đề lúc này là phù hợp thời điểm. Hiện Việt Nam không còn là nước nghèo, đã là nước thu nhập trung bình, dù là mức trung bình thấp.

Chúng ta cũng không khởi công dự án ngay, mà bắt đầu năm 2014 và chủ yếu thực hiện trong nửa cuối của chiến lược KT-XH 10 năm tới. Lúc đó, chúng ta cần một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ hơn, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế.

Trả được mới vay

Dư luận lo dự án khổng lồ với trị giá 56 tỷ USD sẽ mang lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ mai sau. Quan điểm của ông?

Không phải chúng ta vay nợ hết để đầu tư. Một phần vốn sẽ do Nhà nước đầu tư, một phần vay nợ và một phần huy động vốn của DN.

Khi xem xét các khoản vay, chúng ta đã xem kỹ điều kiện, khoản nào có khả năng trả nợ được thì mới vay.

Nếu thực hiện dự án, nợ quốc gia sẽ ra sao?

“Chúng ta đã ai tính đến bài học nợ của Hy Lạp chưa? Không thể quyết một dự án lớn mà không biết bao giờ mới trả nợ được”.

Chủ nhiệm UB Pháp luật Nguyễn Văn Thuận nói tại buổi thảo luận tổ chiều 21/5

Chưa nói được. Nó còn tùy thuộc vào tiến độ thực hiện và số vay nợ của từng năm. Thời gian vay nợ nhiều dự kiến là sau năm 2020.

Cần nhớ, lúc đó, nguồn lực kinh tế của ta sẽ khác. Bây giờ, bình quân thu nhập đầu người là 1.200 USD/ năm, 2020 là trên 3.000 USD, khi kinh tế phát triển ở mức 7-8% theo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Với đà tăng trưởng như vậy, việc xây dựng tuyến đường cao tốc Bắc – Nam trong giai đoạn từ 2014 đến 2035 là hợp lý.

Trong buổi thảo luận tại tổ của QH, tôi đã phát biểu so sánh với các nước. Nhật Bản khi khởi công hệ thống Sinkansen là năm 1955 và 1964 bắt đầu đưa vào vận hành đoạn Tokyo – Osaka. Lúc đó họ cũng không có tiền và đi vay Ngân hàng Thế giới. Họ đi vay từ năm 1955, đến 1995 mới trả hết phần nợ cho đoạn đường đầu tiên ấy.

Đặt so sánh như vậy để thấy tiềm năng kinh tế của ta đến 2035 để quyết định.

Có quá mạo hiểm không khi tính nhu cầu và hiệu quả của tuyến đường sắt cao tốc dựa trên giả định tăng trưởng kinh tế trong cả giai đoạn dài sắp tới là 7-8%, trong khi vài năm gần đây không đạt được mức này?

10 năm qua, tăng trưởng liên tục từ 7-8% và trên 8%. Chỉ 2 năm qua, do khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng chỉ ở mức 6,5% và 5,3%, năm nay trở lại là 6,5%. Các năm tới đây, tăng trưởng sẽ tăng trở lại. Khả năng tăng trưởng 7-8% trong các năm tới là hoàn toàn có khả năng.

Đã nghiên cứu kỹ

Để bấm nút thông qua chủ trương, QH cần nhiều chỉ số chi tiết để xem xét. Tại sao Chính phủ không đưa ra báo cáo khả thi?

Theo quy định, vì báo cáo QH để xin chủ trương đầu tư, nên chỉ cần báo cáo tiền khả thi thôi. Báo cáo khả thi cần thêm thời gian để phân tích chi tiết, sau khi đã được đồng ý về chủ trương đầu tư. Cần lưu ý, dự án này đầu tư toàn tuyến. Trong quá trình thực hiện, Chính phủ báo cáo QH từng đợt cụ thể.

Ngay các chuyên gia tư vấn của JICA cũng quan ngại về hiệu quả kinh tế, khả năng thu hồi vốn của dự án và khuyên Việt Nam nên tính lại ưu tiên đầu tư?

Nếu xét tổng thể toàn tuyến, chưa xét đầy đủ các thông số phát triển kinh tế của Việt Nam 25 năm sau, người ta chưa thể khẳng định về hiệu quả.

“Nhật Bản chưa từng có tai nạn đường sắt cao tốc, trong khi công nghệ châu Âu đã có tai nạn” – ông Phúc nói.

Chính vì vậy, Hội đồng thẩm định nhà nước kiến nghị Thủ tướng xem xét cho khởi công xây dựng 2 tuyến: Hà Nội – Vinh và TP.HCM – Nha Trang trước, vì 2 tuyến này trước đây được nghiên cứu kỹ.

Việc nối toàn tuyến, chúng ta nêu một lịch trình dài hạn để xem xét bổ sung sau này. Năm 2035, nhu cầu, điều kiện ở miền Trung khác đi, phân bố dân cư và dân số khác, nhu cầu kết nối miền Trung thay đổi mới tính. Bây giờ xin ý kiến chủ trương toàn tuyến nhằm tính tổng thể chung, xác định công nghệ, từ đó đồng bộ công nghệ, hạ tầng: công nghệ Sinkansen.

Lựa chọn công nghệ như vậy đồng nghĩa với việc chúng ta đã chọn đối tác Nhật?

Đúng vậy. Chúng ta xem xét hai yếu tố: đối tác công nghệ và đối tác vốn.

Chọn nhà cung cấp công nghệ Nhật Bản bởi từ khi vận hành đến nay, Nhật Bản chưa từng có tai nạn đường sắt cao tốc, trong khi công nghệ châu Âu đã có tai nạn. Nhật cũng là đối tác vốn tiềm năng: nước cung cấp ODA lớn, lại có khả năng huy động các DN cùng tham gia đầu tư.

Có lo ngại rằng dự án sẽ không dừng ở mức 56 tỷ USD đầu tư mà có thể lên tới 100 tỉ USD?

Không có chuyện đó. Tính toán của chúng ta dựa trên mức đầu tư trung bình các nước 30-40 triệu USD/km.

Thi công bao giờ cũng rủi ro

Sự kém hiệu quả của các dự án hàng tỷ USD trước đây như đội tàu Bắc – Nam của Vinashin vay vốn đầu tư hay tuyến đường Hồ Chí Minh… sẽ là bài học như thế nào cho việc quyết định và triển khai dự án đường sắt cao tốc?

Quyết định đầu tư đội tàu Bắc – Nam của Vinashin do DN tự quyết định và bỏ vốn đầu tư. Hiệu quả hay không do DN tự chịu trách nhiệm.

Với đường Hồ Chí Minh, việc xây dựng là một quyết định đúng đắn. Hầu hết tuyến đường được sử dụng có hiệu quả. Đơn cử, đoạn phía tây Thanh Hóa, đông miền Trung đang được sử dụng thay cho đường 1 rất nhiều, nhất là khi đường 1 bị tắc. Chỉ có tuyến phía tây Trường Sơn không hiệu quả.

Vừa qua, chúng ta gặp không ít các sự cố liên quan đến các công trình xây dựng giao thông: sự cố cầu Cần Thơ, nứt đốt hầm Thủ Thiêm… Rủi ro kỹ thuật với đường cao sắt cao tốc trải dài thì sao?

Phải nói trong thi công xây dựng bao giờ cũng có rủi ro, nhưng sự cố ở cầu Cần Thơ là hi hữu.

Xây dựng đường sắt cao tốc đòi hỏi kỹ thuật cao hơn, chắc chắn chúng ta phải lựa chọn nhà thầu có kinh nghiệm. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, trong quá trình xây dựng đường sắt cao tốc, chưa bao giờ có tai nạn.

Cả Quốc hội và Chính phủ đều sắp chuyển giao nhiệm kì, trong khi dự án này lại triển khai trong dài hạn. Tại sao không dành nhiều thời gian tính toán hơn, để lại cho Chính phủ và Quốc hội khóa sau xem xét quyết định?

Muốn năm 2014 khởi công thì ngay từ 2012 ta phải bắt tay chuẩn bị xây dựng. 2010 phải xây dựng báo cáo khả thi, mất 1 năm, còn thẩm định, thiết kế. Để có thời gian chuẩn bị, ta phải xúc tiến từ bây giờ.

Quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng tuyến đường này như thế nào?

Ta phải có tuyến đường này cho mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Trong quá trình chuẩn bị, Chính phủ xin ý kiến của QH và tùy vào ý kiến của QH để có lộ trình triển khai hợp lý.

Không phải chúng ta đồng khởi đồng loạt, mà làm từng bước, xây dựng từng đoạn có hiệu quả kinh tế, như TP.HCM – Nha Trang, HN – Vinh, sau đó tiếp tục nghiên cứu xem đoạn nào hiệu quả nữa thì làm.
Phương Loan ghi
http://vietnamnet.vn/chinhtri/201005/Bo-truong-Dau-tu-Lam-duong-sat-cao-toc-la-dung-luc-911859/

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: