Hoàngquang’s Blog

21/05/2010

Chủ tịch Hồ Chí Minh -điểm tựa cho tinh thần dân tộc của chúng ta

Filed under: Chính trị- xã hội — hoangquang @ 9:20 sáng
Tags: ,

Nguyễn Trung

Tâm tư và suy nghĩ nhân kỷ niệm 120 năm ngày 19 Tháng Năm

& VÌ SAO HỒ CHÍ MINH
ĐẶT DÂN CHỦ TRƯỚC GIÀU MẠNH?-Tống văn Công

***

Từ nhìn nhận thế giới để định rõ công việc của nước ta là việc xưa nay vẫn phải làm, thời chiến cũng như thời bình. Thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 này trên thế giới xuất hiện nhiều vấn đề mới, báo hiệu một thời kỳ phát triển khác trước, và đồng thời cũng đặt ra cho nước ta nhiều vấn đề mới. Trong bài viết “Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21”[i] tôi sưu tầm thông tin trong khả năng có thể của mình, cố đưa ra bức tranh thế giới theo cách tôi nhận thức được. Tất cả với mục đích tìm hiểu xem nước ta định vị ở đâu, sẽ phải đối mặt với những vấn đề gì trong bối cảnh mới ấy của thế giới?.. Hơn thế nữa, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang đến gần, tất cả những vấn đề của đất nước đặt ra cho Đại hội này thực chất là những vấn đề của đất nước trong thập kỷ thứ hai này.

Trong bài viết trên tôi đi tới nhận định: Toàn bộ sự vận động của thế giới trong những năm gần đây đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh – trong đó siêu cường Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối, để chuyển mạnh hơn nữa sang thời kỳ một siêu đa cường, với đặc điểm: Mỹ sa sút nhanh, Trung Quốc nổi lên nhanh, tiếng nói của các nước lớn khác như Nga, Ấn Độ… cũng ngày càng có trọng lượng hơn.

Nhiều biến động lớn về chính trị và kinh tế trên thế giới trong những năm đầu của thế kỷ này, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009 nổ ra từ Mỹ đã biến thành khủng hoảng kinh tế của cả thế giới, đang làm cho thế giới phương Tây từ lâu vốn đã có có nhiều vấn đề, trong tình hình này lại càng xuống dốc nhanh hơn. Sau cơn sóng dữ làm chao đảo kinh tế nước Mỹ năm 2009, bây giờ nổi lên “căn bệnh Hy Lạp” đang uy hiếp Cộng đồng Châu Âu (EU) và đồng Euro. Trong tình hình như vậy, Trung Quốc là nước được lợi nhất và càng đi lên nhanh hơn trên con đường trở thành siêu cường kinh tế, chính trị, quân sự với nhiều câu hỏi để ngỏ cho cả thế giới…

Hơn nữa, kinh tế Mỹ, EU và Nhật đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải thực hiện nhiều thay đổi mang tính cơ cấu, sẽ tác động sâu sắc đến tất cả các nền kinh tế khác trên trái đất. Châu Á và Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng nổi lên là khu vực phát triển năng động nhất thế giới. Toàn cầu hóa của kinh tế thế giới do đó sẽ xuất hiện nhiều vấn đề mới. Chưa ai nói được gì nhiều về xu thế diễn biến này, song cơ cấu mặt hàng sẽ có nhiều thay đổi, dịch vụ cũng phải thay đổi, cạnh tranh quyết liệt hơn, tính bảo hộ ngày càng cao. Đặc biệt là mặt trận tài chính tiền tệ trên thế giới tiềm tàng những biến động mới khó lường.

Trên thế giới chưa bao giờ trong ngôn ngữ của giới báo chí và giới nghiên cứu lại có nhiều tiếng nói như ngày nay về về siêu cường Trung Quốc đang xuất hiện, về “chủ nghĩa tư bản toàn trị đặc sắc Khổng giáo”.., đòi hỏi cả thế giới phải tìm cách tiếp cận mới. Đã xuất hiện những kiểu quan hệ mới: quan hệ Mỹ-Nga ấm hẳn lên do hai bên càng cần nhau hơn trong tình thế mới; Nhật và EU dịu giọng với Trung Quốc và thi nhau có mặt ở Expo Thượng Hải – bất chấp các chuyện Tân Cương, Tây Tạng còn đang nóng hổi…; đồng USD sau khi có tiếng nói cứng rắn đã quay sang thương lượng với đồng nhân dân tệ; Trung Quốc tăng cường “quan hệ chiến lược” với Bắc Triều Tiên, bắt tay chặt hơn nữa với Iran, Sudan, Congo, với một số lưc lượng cánh tả ở Mỹ Latinh… Đã xuất hiện những tiếng nói không thể làm ngơ về mối lo trong tình thế nào đó – trước hết là do thế đang tiếp tục suy yếu đi của Mỹ – sẽ có nguy cơ xảy ra thoả hiệp Mỹ – Trung bắt tay nhau chi phối thế giới, trước mắt là trong dáng dấp của G2…

Tất cả nói lên thế giới đang chuyển dần sang một cục diện mới, với những biến động thường khó lường hoặc rất nhạy cảm, tranh tối tranh sáng (twilight), của thời kỳ chuyển đoạn[ii]. Nhạy cảm nhất đối với nước ta hiện nay là an ninh quốc gia, tiền đồ phát triển, vấn đề Biển Đông và hoà bình trong khu vực. Để cho cái “tranh tối tranh sáng” hiện nay trở thành mối nguy làm chìm đắm tiền đồ đất nước, hay biến nó thành cơ hội bứt lên khai phá một con đường mới cho đất nước? Đấy là vấn đề sống còn đặt ra cho nước ta trong cái thế giới đầy bất trắc mới.

Nhìn vào trong nước, chặng đường 25 năm đầu tiên của đổi mới mô hình phát triển theo chiều rộng đã làm xong chức năng của nó, đất nước ta nhất thiết phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi phải có những thay đổi sâu sắc và toàn diện: Từ phát triển theo chiều rộng, phải chuyển sang phát triển theo chiều sâu, đó là sự phát triển chủ yếu dựa trên thế mạnh của nguồn lực con người – về nhiều mặt, thực chất đây là sự phát triển dựa trên thế mạnh của dân chủ.

Bản thân những thành tựu đã giành được trong 35 năm đầu tiên kiến thiết đất nước tự nó cũng đặt ra ngày càng nhiều đòi hỏi mới gay gắt của phát triển. Nói đơn giản, ngày nay quản lý đất nước của một nền kinh tế mở, giao lưu với cả thế giới, với GDP theo đầu người khoảng trên 1000 USD và sẽ còn phải tăng lên nhiều nữa, hiển nhiên khác hẳn so với thời kỳ quản lý một đất nước của nền kinh tế bao cấp với thu nhập khoảng 100 USD/1người trước đây. Đổi mới đã làm nên rất nhiều thay đổi, được cả thế giới thừa nhận và đánh giá cao, tuy nhiên vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước. Tụt hậu trong cải cách thể chế chính trị – thực chất là sự tụt hậu của thể chế phát huy sức mạnh con người – đang kìm hãm sự phát triển năng động của đất nước.

Ngày nay nước ta đi tới một thực tế mới chưa từng xảy ra trước đây một vài thập kỷ: Càng phát triển như phương thức hiện tại, càng tích tụ thêm trong nội tại đất nước những bất cập mới, ách tắc mới, tha hoá mới. Lý do cơ bản là mô hình phát triện hiện hành đã làm xong chức năng của nó, đồng thời năng lực quản lý quốc gia của mô hình này ngày càng không theo kịp cuộc sống.

Trong khi đó xuất hiện ngày càng nhiều các sức ép đối với nước ta – từ cạnh tranh kinh tế với bên ngoài, từ những vấn đề căng thẳng trên Biển Đông, từ nhiều vấn đề khu vực và toàn cầu khác, từ cục diện quốc tế đang thay đổi khó lường… Ngay trước mắt, trong khi cả thế giới còn đang loay hoay chưa biết nên ứng xử ra sao với siêu cường Trung Quốc đang lên này, nước ta đứng ngay sát vách “cái công xưởng của thế giới”, với tất cả những cái “nóng” và bao điều phiền toái khác ngày đêm nó phả ra chung quanh!

Hãy xem qua một vài ví dụ: Trung Quốc tháng 4-2010 vừa qua quyết định loại bỏ sản xuất khoảng 25 triệu tấn sắt và thép và khoảng 3 triệu tấn nhôm của các xí nghiệp có công nghệ lạc hậu. Thị trường toàn cầu thông xuốt, rút dây động rừng, mỏ sắt Thạch Khê và quặng bauxite Tây Nguyên của ta sẽ chịu tác động ra sao trước tình hình này? Trong khi đó hầu như không có cách gì ngăn cản nổi hàng nhập lậu từ Trung Quốc vào ta! Tầu chiến của Trung Quốc và tầu chiến của ta thoả thuận cùng nhau hợp tác tuần tra biển, song Trung Quốc ngày 29-04-2010 lại ban hành lệnh mới cấm đánh bắt cá bao gồm cả vùng biển của nước ta, tính sao đây? Song song với ngôn ngữ hữu nghị của chính giới Trung Quốc, báo chí nước này thô bạo bác bỏ đàm phán đa phương cho tranh chấp biển đảo, không lúc nào dứt lời đe doạ hành động cứng rắn trên Biển Đông. Những vụ việc như thế xảy ra ngay giữa lúc những người lãnh đạo có thẩm quyền của nước ta nhiều lần khẳng định dứt khoát quan điểm trước sau như một của Việt Nam là kiên trì quan hệ hữu nghị láng giềng tốt với Trung Quốc.

Rồi còn bao nhiêu hoạt động khác của quyền lực mềm…

Tình hình trên thế giới và trong khu vực diễn biến cấp bách đến mức có thể nói: Những yếu kém nội tại của đất nước, khoảng cách tụt hậu quá lớn, và những thách thức mọi mặt từ bên ngoài, tất cả đang gián tiếp hoặc trực tiếp đe doạ độc lập chủ quyền và an ninh của ta, uy hiếp tiền đồ phát triển của nước ta.

Cục diện mới hiện nay trên thế giới và trong khu vực đặt nước ta trước tình huống: Bê đất nước ta đến một góc trời nào đó hiền hoà hơn trên trái này đất là điều không thể. Đứng lại tại chỗ oán trách số phận hay kêu gọi thiên hạ rủ lòng thương hại cũng chẳng khác gì đầu hàng trước mọi thách thức. Ta dẫu không muốn thế, nhưng tình thế cứ áp đặt cho ta như thế!

Tóm lại, sau 35 năm đất nước độc lập thống nhất, cục diện hiện tại của quốc tế và khu vực lựa chọn cho nước ta phải sắm vai anh hàng xóm của siêu cường Trung Quốc đang lên, lại nằm ngay cửa ngõ phía Nam của siêu cường đang lên này, trong một thế giới siêu cường Mỹ đang đi xuống với nhiều biến động lớn trên thế giới, đặt ra cho nước ta nhiều vấn đề mới. Tình huống như thế tự nó chơi khăm với nước ta, không cần quan tâm đến việc ta chấp nhận hay từ chối sự lựa chọn của nó.

Tình huống mới này quyết liệt đến mức có thể nói: Lịch sử đã sang trang, trước hết với ý nghĩa dân tộc ta phải bước vào một chiến trường mới, một giai đoạn phấn đấu hoàn toàn khác so với khi còn 2 phe và khi ta và Trung Quốc nhiều lúc đã cùng nhau từng là một phe trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Nước ta đang bước vào một đấu trường hoàn toàn khác so với thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm, một thời kỳ mới hoàn toàn khác so với thời kỳ hậu chiến tranh lạnh… Phải, ngày nay dân tộc ta đang bước vào một chiến trường mới đa diện và hoàn toàn khác trước, một giai đoạn phấn đấu mới trong cục diện thế giới đã kết thúc thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, thời kỳ thế giới mở đường đi vào cục diện đa cực với siêu cường đương ngự trị là Mỹ và siêu cường đang ngoi lên là Trụng Quốc.

Tình huống hiện nay chỉ cho phép nước ta lựa chọn cách ứng xử như thế nào mà thôi:

Kịch bản 1: Hoặc là dấn thân đi vào hướng phát triển phồn vinh của dân chủ tự do, để có thực lực, có nhân cách và có tư cách trở thành một đối tác được tôn trọng của Trung Quốc và của cả thế giới?

Kịch bản 2: Hay là chịu thúc thủ buông xuôi, mặc cho số phận đưa đẩy vào con đường của đổ vỡ do tham nhũng tha hoá bên trong, của quỳ gối lệ thuộc do bị o ép từ bên ngoài, như quá khứ mất nước của chính ta và như kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra?! Trong tình huống này, nếu được ban phát hoà bình và hữu nghị, thì đó sẽ chỉ là thứ hoà bình – hữu nghị dành cho thằng hầu hay kẻ làm đĩ!

Không có kịch bản thứ ba! Càng không có một phép trời hay liên minh ý thức hệ nào có thể đẻ ra cho nước ta kịch bản thứ ba. Ta có ngậm miệng hay nhắm mắt, có van xin hay cố giữ hoà hiếu đến đâu đi nữa, cuộc sống khách quan chỉ dành cho nước ta hai kịch bản nói trên để lựa chọn mà thôi!

Việt Nam ta không phải là quốc gia đầu tiên bị diễn biến cục diện thế giới ăn hiếp đẩy vào tình huống như vậy. Trên thế giới, hầu như nước nhỏ yếu không bao giờ hay khó lòng có quyền lựa chọn tình huống! Thời nào cũng thế! Đừng than vãn làm gì cho tốn thời giờ và mất nhuệ khí. Lựa chọn tình huống hầu như luôn luôn chỉ là đặc quyền của kẻ mạnh. Làm thế nào được? Cuộc sống là như thế, sống thì phải chấp nhận như thế!

Cho đến nay, trời đất chỉ cho các nước nhỏ yếu quyền duy nhất là lựa chọn cách ứng xử nào đối với tình huống áp đặt cho mình mà thôi! Trên thế giới quả thực có nhiều nước nhỏ yếu đã có sự lựa chọn xứng đáng. Thuỵ Sỹ, Monaco, Lichtenstein, Israel, Singapore… là những nước như thế. Họ đã lựa chọn được cách ứng xử cho phép ngự trị được tình huống áp đặt lên họ!

Việt Nam ta đâu có tự lựa chọn cho mình tình huống phải chống lại những kẻ ngoại xâm mạnh hơn mình gấp bội! Đời nào nước ta lại tự lựa chọn cho mình những tình huống đầy máu và nước mắt như vậy! Song đúng nước ta chỉ được phép lựa chọn cách ứng xử như thế nào với tình huống xảy ra đối với nước ta. Và cách ứng xử của nước ta, của dân tộc ta đã thắng, ta đã làm chủ được tình huống: giành lại được non sông đất nước! Lịch sử nước ta nói lên rõ ràng điều này.

Dù Việt Nam ta có muốn hay không, giờ đây, sau 35 năm độc lập thống nhất đất nước, cục diện thế giới và yêu cầu phát triển của đất nước lại đặt ra cho dân tộc ta tình huống: Phải quyết đứng lên làm chủ tình huống. Nhưng lần này là tình huống của một cuộc chiến có lẽ ít bom đạn hơn nhiều lần, song gian khổ đạo đức, gian khổ trí não, gian khổ nghị lực chắc chắn sẽ gấp rất nhiều lần! Thời gian cũng trường kỳ hơn nhiều lần, thậm chí là mãi mãi!.. Lần này phải là Nguyễn Trãi gấp nhiều lần của toàn dân tộc: Lấy cái thiện, lấy cái đẹp, lấy chữ nhân, lấy chữ nghĩa, lấy chữ nhẫn và lấy ý chí chân cứng đá mềm, trước hết để chiến thắng những yếu kém của chính mình, để làm nên thực lực, để có thực lực vật chất và tinh thần chiến thắng tất cả, để chính nghĩa và nhân nghĩa thu phục lòng người trong nước và cả thế giới, để chiến thắng tất cả cường bạo và đen tối đang uy hiếp sự sống còn và danh dự của Tổ quốc! Lần này phải là Nguyễn Trãi gấp nhiều lần trong tinh thần mỗi người sinh ra là con của dân tộc này! Dân chủ đích thực là như vậy.

Sự tồn vong của dân tộc, danh dự của đất nước và nhân phẩm của mỗi người Việt chúng ta đòi hỏi phải như thế. Sinh ra là Việt Nam thì như thế, phải như thế, quyết như thế! Việt Nam sinh ra không có sự lựa chọn tình huống cho mảnh đất chữ S của mình trên lục địa này, mà chỉ có mỗi quyền: Phải làm chủ tình huống đặt ra cho quốc gia mình bằng cách như thế! Làm chủ đất nước là như thế!

Nói một cách cụ thể, muốn làm chủ tình huống như thế, nhất thiết trong khoảng thời gian ngắn nhất phải làm bằng được ba nhiệm vụ:

(1) Đưa đất nước chuyển sang một thời kỳ phát triển mới trong một thế giới đang thay đổi sâu sắc.

(2) Phải tìm ra lời giải thành công cho bài toán đối ngoại khó nhất của quốc gia là vấn đề Trung Quốc – đây cũng là vấn đề của cả thế giới.

(3) Phải đổi mới xây dựng Đảng để cải cách thành công thể chế chính trị của đất nước có khả năng phát huy thế mạnh con người – một đòi hỏi trở thành điều kiện tiên quyết để giải quyết được hai vấn đề lớn nêu trên.

Đó là 3 nhiệm vụ vô tiền khoáng hậu, để sớm mở ra một thời kỳ phát triển mới của nước ta sau khi đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước: Thời kỳ bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giầu mạnh. Hồ Chí Minh là như vậy!

Cội nguồn sức mạnh của một quốc gia như vậy chỉ có thể là tinh thần dân tộc và dân chủ. 35 năm qua mới chỉ là khúc dạo đầu của thời kỳ này.

Đó cũng là 3 nhiệm vụ vô tiền khoáng hậu của Đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ khi thành lập: Đảng phải trở thành đảng của dân tộc, để lựa chọn chiến trường mới cho mình là chiến trường của dân tộc do tình huống mới đặt ra, để chiến đấu trên chiến trường mới của dân tộc, để xây dựng Đảng trở thành người lãnh đạo và quân tiên phong của dân tộc trên chiến trường mới này.

Dân tộc ta sẽ làm chủ được tình huống mới này?

Câu hỏi này quyết liệt bao nhiêu, tôi càng tin cậy vào lịch sử dân tộc mình bấy nhiêu.

Nhiều người đã nói với tôi, một nghìn năm Bắc thuộc không mất nước thì bây giờ càng không thể mất nước. Tôi cũng tin sắt son như vậy.

Không ai dám nói giữ nước là dễ, nhưng bây giờ làm cho đất nước trở thành một đối tác được Trung Quốc – và như thế cũng có nghĩa là được cả thế giới tôn trọng, chắc chắn sẽ khó hơn nhiều. Tôi ý thức được điều này, và càng ra sức đào bới lịch sử nước mình, nhất là lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám đến nay. Tôi nhớ đến những năm tháng, những tình huống vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc…

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước…”

“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”

“Không có gì quý hơn độc lập tự do!”..

Đấy là những lời hào hùng của non sông, là ý chí, là tinh thần bất khuất dẫn dắt dân tộc ta suốt cuộc trường chinh làm nên sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước hôm nay, thật là từ tay không chân đất mà nên!

Càng nghĩ, tôi càng tin: Giác ngộ quyền làm chủ bản thân mình, giác ngộ quyền làm chủ đất nước, nhân dân ta sẽ làm nên tất cả! Thành công của dân tộc ta từ Cách mạng Tháng Tám đến nay chính là thành công của tinh thần dân tộc và dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhen nhóm lên trong lòng dân tộc ta thời đại ngày nay.

Ngay hôm qua thôi, khi đất nước đứng bên bờ vực thẳm của sụp đổ do duy ý chí thời kinh tế bao cấp – nguyên nhân chủ yếu là vi phạm tinh thần dân tộc và dân chủ, đổi mới đã vực dậy đất nước, giành lại cho đất nước vị thế như hôm nay, trước hết chính là tôn trọng, là phát huy tinh thần dân tộc và dân chủ.

Vì thế, trước tình huống mới đất nước đang đối mặt, hơn bao giờ hết tinh thần dân tộc và dân chủ phải là nguồn sáng tạo vô tận và là sức mạnh bất khả kháng của Tổ quốc Việt Nam ta. Ai có thể bác bỏ được điều này? Ai không tin vào điều này?

Điều cần lưu ý ở đây, thời phải chiến đấu giành lại đất nước, bằng sự hy sinh phấn đấu và với tất cả phẩm chất trong sáng của mình, Đảng đã xây dựng nên một một chế độ chính trị đồng nghĩa với người bảo vệ tổ quốc, được nhân dân yêu mến và được nhân dân đồng nghĩa nó gần như với tổ quốc. Chế độ chính trị ấy đã phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc để làm nên toàn thắng trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước. Ngày nay trong tình huống mới, đòi hỏi này càng trở nên vô cùng quan trọng. Một chế độ chính trị được nhân dân ngày nay đồng nghĩa nó gần như với tổ quốc phải có nghĩa là: Nhân dân của quốc gia độc lập phải là người chủ chế độ chính trị của đất nước. Đây là sự khác biệt cơ bản, một bước tiến quan trọng phải đạt được trong tình huống mới, đó chính là dân chủ trong một nhà nước pháp quyền!

___________
Ngày nay chỉ có giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ mới có thể tạo ra nền tảng thực hiện được đoàn kết, hòa hợp và hòa giải dân tộc. Đấy chính là con đường mở mang dân trí, phát huy con người Việt Nam, là nguồn sức mạnh và sáng tạo vô tận, để làm nên một Việt Nam hạnh phúc, phồn vinh. Đó chính là phương hướng xây dựng một chế độ chính trị mà người dân có thể cảm nhận nó gần như đồng nghĩa với Tổ quốc, tạo dựng một nền nội trị vững chãi bất khả xâm phạm của đất nước, khơi dậy hào khí dân tộc. Chỉ một khi người dân cảm nhận được chế độ chính trị này là của mình, vì mình, là lực hậu thuẫn vô song cho sự phấn đấu của mình, là người gắn kết toàn dân tộc và khơi dậy mọi tinh hoa gìn giữ và làm rạng rỡ giang sơn gấm vóc, là người đưa đất nước dấn thân vào trào lưu tiến bộ chung của nhân loại, là niềm tự hào vì nó mà mình phấn đấu, là điều thiêng liêng vì nó mà mình sẵn sàng xả thân gìn giữ, là niềm tự hào của nước Việt Nam… – chỉ khi xây dựng được một chế độ chính trị làm nên những giá trị như thế nó mới hòa nhập được vào làm một với tổ quốc, nó mới được người dân cảm nhận gần như đồng nghĩa với tổ quốc. Một quốc gia có chế độ chính trị và tổ quốc là một, quốc gia ấy là vô địch! Không một chủ nghĩa nào có thể thay thế được sức sống của sự hòa nhập làm một như vậy của chế độ chính trị và tổ quốc! Một chế độ chính trị như thế sẽ giải phóng mạnh mẽ nhất trí tuệ và nghị lực Việt Nam. Một chế độ chính trị như thế – đến lượt nó – sẽ nâng lên giá trị và sự thiêng liêng của tổ quốc, nâng lên vị thế của quốc gia trong cộng đồng thế giới. Hơn lúc nào hết dân tộc Việt Nam ta cần có sức sống này! Tinh thần yêu nước của người Việt Nam ta ngày nay phải được xây dựng từ lẽ sống này! Văn hóa và giáo dục Việt Nam cần hướng vào xây dựng cái đích này. Ngày nay kho tàng trí tuệ của nhân loại và của dân tộc mình hoàn toàn cho phép chúng ta khai phá con đường xây dựng cho đất nước một chế độ chính trị như thế. Rất đáng để thế hệ này sang thế hệ khác ngay từ bây giờ tiếp nối nhau xây dựng nên cho tổ quốc của chúng ta một chế độ chính trị như thế…

Xem: Việt Nam Trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21”

________________

Nhiệm vụ xây đựng một chế độ chính trị gần như đồng nghĩa với tổ quốc như thế mà tình huống mới này nay đòi hỏi có khả thi không?

Nhân dân ta, trước hết là đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền là Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhận thức được, giác ngộ được nhiệm vụ này, nhất định sẽ thực hiện được nhiệm vụ này. Đây thực sự là nhiệm vụ khó khăn gian khổ nhất, phức tạp nhất trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nước ta từ trước đến nay – nhiệm vụ đổi đời số phận đất nước, nhiệm vụ chuyển đổi đất nước ta từ nước đang phát triển chậm tiến trở thành một nước phát triển tiên tiến. Nhiệm vụ này còn phải đi trước cả nhiệm vụ công nghiệp hoá, là tiền đề cho thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá.

Điều chắc chắn là Đảng và nhân dân ta ngày nay bắt tay vào nhiệm vụ trọng đại này không phải từ con số không. Những thành tựu về cải cách dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền tuy còn rất khiêm tốn của 25 năm đổi mới là sự khởi đầu vô cùng quý báu. Song vốn quý nhất đất nước đang có trong tay là Hiến pháp năm 1946 do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo. Nguồn cảm hứng chính của tuyệt tác này của Người có thể là Tuyên ngôn nhân quyền Mỹ 1776, Hiến pháp Mỹ 1787, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1789 và những kiến thức khác Người lĩnh hội được trong kho tàng văn minh nhân loại. Điều ngạc nhiên và đáng kính phục vô cùng là Hiến pháp năm 1946 ngắn, đầy đủ, khúc chiết, rất dễ hiểu. Anh Nguyễn Sỹ Dũng đã nhấn mạnh rất đúng: Hiến pháp năm 1946 trực tiếp bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, được đặt ở vị trí thượng tôn đứng trên Nhà nước, quyền năng được phân chia rõ ràng, cân bằng và giám sát lẫn nhau[iii]. Tính pháp quyền rất cao như vậy là điều kiện không thể thiếu để ngăn ngừa lạm dụng quyền lực, là nền tảng pháp lý của dân chủ.

Mỗi quốc gia có đặc thù riêng, khó mà nói thế nào là một Hiến pháp hoàn hảo. Tuy nhiên, khi so sánh Hiến pháp của ta năm 1946 với Hiến pháp Mỹ năm 1787, Hiến pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức năm 1949, Hiến pháp nước Pháp do tướng de Gaulle đề xướng sửa đổi năm 1958… Không thể kết luận khác: Hiến pháp 1946 cùng đi chung trong một dòng tư duy tiến bộ của văn minh nhân loại: quyền của người dân là tối thượng, Hiến pháp đứng trên nhà nước, thực hiện sự phân quyền cân bằng và giám sát lẫn nhau. Tình huống mới đặt ra cho đất nước đòi hỏi phải có một nhà nước pháp quyền như thế làm giường cột cho một chế độ chính trị mà người dân có thể cảm nhận nó gần như đồng nghĩa với Tổ quốc! Đi theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta sẽ thực hiện được.

Trong tình huống mới đặt ra cho đất nước, điều trăn trở lớn nhất, cũng là điều gần như thu hút hết tâm trí tôi, đó là những suy nghĩ về Đảng. Đó là nghĩa vụ tự nhiên của người đảng viên: Vì Đảng bây giờ phải chiến đấu trên chiến trường mới của dân tộc, của đất nước. Là đảng lãnh đạo đất nước, Đảng không thể và không có quyền lựa chọn cho mình chiến trường riêng của mình.

Tôi nhớ lại, trong tình hình ngặt nghèo nhất của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 11-1945 tuyên bố trước Quốc hội đầu tiên của nước ta: “Tôi chỉ có một Đảng – đảng Việt Nam!”. Trong Di chúc, Người dặn dò sau kháng chiến kết thúc “việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Lời dặn dò không thể khác được của một người vô cùng từng trải, lo trước nỗi lo của thiên hạ.

Có lẽ như nhiều đảng viên khác, trong suy nghĩ tôi không biết bao nhiêu lần đã tự hỏi mình: Cốt cách tinh thần người cộng sản Hồ Chí Minh trước hết là gì? Càng được biết những đoạn trường cách mạng gian truân Người đã trải qua, những thử thách Người phải đương đầu, những việc Người phải xử lý trong những tình huống chính trị cực kỳ nhậy cảm và tế nhị.., câu hỏi này cứ lớn mãi lên, lớn mãi lên theo cả sự trưởng thành của chính tôi, công việc tìm kiếm câu trả lời cứ thế gần như vô tận. Đến hôm nay vẫn là vô tận.

Mãi cho đến khi tôi đọc đi đọc lại trong Di chúc của Người trong những hoàn cảnh khác nhau “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”, tôi dần dần mỗi ngày tin thêm một chút, và cuối cùng là dám cả quyết, cốt lõi trong tư tưởng của người cộng sản Hồ Chí Minh: Đảng phải là đảng của dân tộc! Có rất nhiều sự việc, nhiều giai thoại trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người tạo ra cho tôi niềm tin này. Cái kiên định đến kiên cường của Người dĩ bất biến ứng vạn biến càng khiến tôi tin như vậy. Bởi vì suy cho cùng, tất cả đều nhằm phục vụ cho sự nghiệp của dân tộc, sự nghiệp Người đã lựa chọn, sự nghiệp mà vì nó Người đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình. Đảng phải là đảng của dân tộc nghĩa là như vậy! Dĩ bất biến này mới không là nô lệ cho bất kỳ ý thức hệ hay định kiến nào. Dĩ bất biến này mới là bất khuất trước bất kỳ uy vũ hay quyến rũ nào. Dĩ bất biến này mới không thoả hiệp trước bất kỳ tha hoá nào. Dĩ bất biến này phá tan mọi giáo điều và can đảm khai phá cái mới, sáng tạo cái mới. Dĩ bất biến này mới là khát vọng đến cháy bỏng và chiến đấu đến cùng cho một Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Dĩ bất biến này mới là đời đời đi với dân tộc, mãi mãi phục vụ dân tộc.

Đứng trước tình huống mới đặt ra cho đất nước, Đảng phải tìm câu trả lời dứt khoát: Tuân thủ hay chối bỏ dĩ bất biến này mà Chủ tịch Hồ Chí đã nhất mực trung thành!

Cục diện thế giới “tranh tối tranh sáng” hiện nay tạo ra cho nước ta điều kiện có thể đóng vai trò tích cực trong nhiều vấn đề “nóng” của thế giới, mang lại cơ hội cho phép nước ta không phải lệ thuộc vào một ai để khẳng định mình, vừa là thời cơ vừa là đòi hỏi Đảng phải rũ bỏ mọi yếu kém của mình để tự thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ từ trên xuống và từ trong Đảng ra: Đổi mới thể chế chính trị của đất nước, phát huy sức mạnh dân tộc của đất nước. Đây chính là chiến trường mới vô tiền khoáng hậu của Đảng. Đất nước không có kịch bản thứ ba, nên Đảng cũng không có kịch bản thứ ba!

Song việc tìm kiếm câu trả lời về cốt cách người cộng sản Hồ Chí Minh của tôi vẫn tiếp tục, để học hỏi, để suy nghĩ đạo làm người… Điều chắc chắn, tinh thần cốt cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là điểm tựa cho tinh thần dân tộc của chúng ta trước tình huống mới ngày nay của đất nước./.

Hà Nội, tháng 5- 2010

[i] Bài viết tháng 11 và 12-2009, đã được trích đăng làm nhiều kỳ trên Tuanvietnam.net và đăng toàn văn trên nhiều báo mạng khác trong các tháng đầu năm 2010. Gần đây tôi được biết Tài liệu tham khảo đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã ngày 29-04 và ngày 03-05-2010 đã đăng một số chương của bài này. Tìm xem toàn văn trên: http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www_de.cgi/http://www.tapchithoidai.org/201018_NguyenTrung.htm hoặc là http://www.viet-studies.info/kinhte/NguyenTrung_TDM_201018.pdf

[ii] Thời kỳ thường xảy ra do tình trạng tranh tối tranh sáng giao thời từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mới. Lịch sử quan hệ quốc tế thường chứng kiện những hiện tượng bất thường trong thời kỳ chuyển đoạn này: Sau đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 kinh tế thế giới đi vào một bước ngoặt mới, xuất hiện Đức Quốc xã, rồi đi vào Chiến tranh thế giới II; sau Chiến tranh thế giới II xuất hiện 2 phe, phong trào giải phóng dân tộc và chiến tranh lạnh. Khi các nước LXĐÂ cũ sụp đổ, tình hình dấn đến thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, siêu cường Mỹ trở nên mạnh áp đảo. Hiện nay thời kỳ hậu chiến tranh lạnh kết thúc, với đặc điểm Mỹ suy yếu nhanh chóng đến mức phải chấp nhận những thay đổi chiến lược, xuất hiện nhiều đảo lộn mới trên bàncờ thế giới…

[iii] Nguyễn Sỹ Dũng, “Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền”, tuanvietnam.net 08-05-2010.

http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_HoChiMinh.htm

________________

VÌ SAO HỒ CHÍ MINH
ĐẶT DÂN CHỦ TRƯỚC GIÀU MẠNH?

Tống văn Công

I. MỘT TƯ TƯỞNG TỰ DO DÂN CHỦ XUYÊN SUỐT

Tháng 12 năm 2008, tại cuộc Hội thảo Việt Nam học tại Hà Nội, giáo sư Yoshiharu Tsuboi, đại học Waseda, Nhật Bản, đã thu hút sự chú ý của hàng trăm nhà nghiên cứu Việt Nam và nhiều nước với bài thuyết trình nhận định Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa cộng hòa chứ không phải cộng sản. Giáo sư cho rằng: “Có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền cộng hòa”, “cơ sở lý luận là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Tóm lược bài thuyết trình: Hồ Chí Minh coi mục tiêu cao nhất là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước; không chỉ xây dựng chế độ Dân chủ Cộng hòa mà còn xây dựng những con người đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập; không chỉ đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền, mà phải thực hiện thứ tự do của mỗi người dân. Người dân phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền cộng hòa. Từng cá nhân suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao. Hồ Chí Minh cho rằng mỗi người dân đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc.

Giáo sư khẳng định: ” Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền cộng hòa và ông đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam “. Cuối cùng giáo sư tỏ ý tiếc rằng “Thông điệp của Hồ Chí Minh hầu như không được truyền bá và lý giải một cách đầy đủ và đúng đắn “.

Nhân kỷ niệm lần thứ 120 năm sinh của người, xin được khơi lại vấn đề trọng đại này, bắt đầu từ “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” mà Nguyễn Ái Quốc đứng tên gửi tới Hội nghị Versailles tháng 1 năm 1919 gồm 8 điều:

1 – Tổng ân xá tất cả người bản xứ bị án tù chính trị.

2 – Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách để cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo pháp lý như người châu Âu. Xóa bỏ hoàn toàn những tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực trong người dân An Nam.

3 – Tự do báo chí và tự do ngôn luận.

4 – Tự do lập hội và hội họp.

5 – Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.

6 – Tự do học tập. Thành lập các trường kỹ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ.

7 – Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.

8 – Có đại biểu thường trực của người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp,để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ.

Năm 1922, cảnh sát Pháp thu được nhiều truyền đơn diễn ca nội dung 8 điều của bản yêu sách nói trên theo thể thơ lục bát mang tựa đề Việt Nam yêu cầu ca (Tuyển tập văn học Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn Học,1995,Tập 3). Xin trích 16 câu (toàn bài 56 câu) diễn ca 8 điều yêu cầu :

“Một xin tha kẻ đồng bào,

“Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.

“Hai xin pháp luật sửa sang,

“Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.

“Những tòa đặc biệt bất công,

“Dám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.

“Ba xin rộng phép học hành,

“Mở mang kỹ nghệ tập tành công thương.

“Bốn xin được phép hội đoàn,

“Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.

“Sáu xin được phép lịch du,

“Bốn phương mặc sức năm châu mặc tình.

“Bảy xin Hiến pháp ban hành,

“Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

“Tám xin được cử nghị viên,

“Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân”.

Cũng trong năm 1919, Hồ Chí Minh viết nhiều bài đòi Tự do Dân chủ cho nhân dân Việt Nam, như bài viết trên báo Nhân đạo của Đảng xã hội Pháp, ngày 2 tháng 8 năm 1919, có đoạn:

“Rất ôn hòa cả về nội dung và hình thức,các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi và nhằm vào những quyền TỰ DO mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn. Không ai có thể phủ nhận rằng nếu không có các quyền TỰ DO ấy, thiết yếu cho việc truyền bá những tư tưởng và kiến thức mà đời sống hiện đại đòi hỏi, thì không thể trông mong tiến hành bất cứ một công cuộc giáo hóa nghiêm chỉnh nào cả”.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc Bản Tuyên ngôn độc lập do chính người viết, mở đầu bằng những đoạn văn trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của quốc hội Pháp năm 1789, với lời khẳng định rằng “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”

Ông Archimedes L.A. Patti, người chỉ huy công tác tình báo bí mật của cơ quan mật vụ Hoa Kỳ đã thuật lại việc ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho nghe bản thảo Tuyên ngôn Độc lập khi người vừa mới viết xong. Ông Patti kinh ngạc hỏi có thực Chủ tịch định trích Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ? “Với nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại tôi một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập, lúng túng. “Tất nhiên”, tôi trả lời “Tại sao lại không?”… “Cố sức nhớ lại, tôi mới thấy các các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Ông Hồ nắm ngay lấy và nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”… (Why Vietnam?, NXB Đà Nẳng, 1995, trang 230).

Ba năm sau, mùa xuân 1948 trong rừng Việt Bắc kháng chiến với bút danh Trần Dân Tiên, người viết Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, cho biết “Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng”, bởi “trong đời cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Và nhận định: “Thật vậy bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản yêu cầu gửi cho Hội nghị Versailles mà cụ Hồ đã viết năm 1919…” (trang 112).

Từ đó cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh rất nhiều lần nói về Tự do, Dân chủ. Xin được nhắc lại những câu nói của người về dân chủ mà chúng ta cần phải nghiền ngẫm một cách nghiêm túc để hiểu đúng quan điểm của người.

1 – ĐỊA VỊ CỦA NHÂN DÂN:

– “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” (Toàn tập, NXB Sự thật 1987, tập 7, trang 544).

– “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Toàn tập, Sự thật,1987, tập 7, trang 544).

– “Nước ta là nước dân chủ,địa vị cao nhất là dân,vì dân là chủ” (TT, ST, 1986, t.6, trang 286).

– “Có người nói rằng: Mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì Dân mà làm các việc và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ (tôi tô đậm – TVC) (Như trên, tập 5, trang 294, 295).

– “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” (Sửa đổi lề lối làm việc ).

2 – CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ.

– “Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra” (Toàn tập, NXB ST, 1985, t..5, trang 299).

– “Bao giờ ở nông thôn nông dân thực sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới là dân chủ thực sự” (Toàn tập, ST,1986, t.6, trang 356).

– “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ” (TT, ST, 1987, T7, trang 50).

– “Từ chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân thì dân không cần đến nữa” (TT, ST, 1986, T6, trang 121).

– “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” (TT, ST, 1984, T4, trang 283)

– “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (TT, ST, 1985, T5, trang 299).

– “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân” ( TT, ST,1985,T5,trang 299)

– “Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” (TT, ST, 1985,T5, trang 299).

– “Công việc đổi mới,xây dựng là trách nhiệm của dân” (TT, ST, 1985, T5, trang 299).

4 – QUYỀN LẬP HỘI ĐOÀN.

– “Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên” (Bài nói về Dân vận viết năm 1949).

– “Phải để cho công nhân chọn người mình tín nhiệm bầu vào ban chấp hành công đoàn” (Nói với lãnh đạo Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trước khi qua đời. Sách Hồ Chí Minh nói về công nhân và công đoàn. NXB Lao Động).

– “Hội hè, tín ngưỡng báo chương. Họp hành đi lại có quyền tự do”. (TT, ST, 1983, t 3, trang 152)

4 – CÁC QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ.

– “Thực hành dân chủ để cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do” (TT, ST,

– “Chế độ ta là chế độ dân chủ,tư tưởng phải được tự do…Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”.( TT,ST,1987,t7, trang 482).

– “Quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền phục tùng chân lý “(TT,ST, 1987,t.7, trang 482).

– “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm” (TT,ST, 1989, T10, trang 508).

– “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (TT,ST, T4, trang 35).

– “Dân chủ là người dân được mở miệng” (Tham luận của Giáo sư Tương Lai ở Mặt trận Tổ quốc.)

3 – PHÁP QUYỀN DÂN CHỦ

– “Hiến pháp đảm bảo được quyền tự do dân chủ cho các từng lớp nhân dân…” (TT, ST, 1987, T7, trang 594).

– “Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động (Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, NXB Pháp lý,1985, trang 85).

– “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” (TT, ST, 1985, T5, trang 245).

6 – “CHỐNG THAM NHŨNG QUAN LIÊU LÀ DÂN CHỦ “

– “Chống tham ô lãng phí quan liêu là dân chủ. Phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công” (TT, ST, 1986, T6, trang 271).

– “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng” (TT,ST, 1986, T6, trang 112 ).

– “Tham ô lãng phí quan liêu là kẻ thù của nhân dân” (TT,ST, 1986,T6, trang 266).

– ” Nguyên nhân của bệnh ấy (quan liêu) là xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không yêu thương nhân dân” (TT,ST, 1986,T6, trang 112).

7 – ĐẢNG VÀ NỀN DÂN CHỦ :

– “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (TT, ST, 1984,T6, trang 493).

– “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch,phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.” (TT, ST, 1989, T10, trang 835).

– “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thực thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho rằng không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa” (TT,ST,T5, trang 297).

– “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (như trên, tập 5, trang 261).

– “Chúng ta phải yêu dân kính dân thì dân mới yêu ta kính ta” (Về Đảng cầm quyền, ST, trang 115).

Đã hơn một năm, các nhà lý luận Việt Nam không có có ai bác bỏ kiến giải của giáo sư Yoshiharu Tsuboi, cũng không có ai tỏ ý kiến tán đồng. Chẳng lẽ một vấn đề lý luận vô cùng lớn lao như vậy không được giới học thuật nước ta quan tâm? Mới đây, giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp, nguyên Viện phó Viện Triết học, nguyên Tổng thư ký Hội Đồng lý luận Trung ương cho rằng: “Nếu ai cũng sợ chụp mũ, nếu chỉ có một trung tâm độc quyền phát ra chân lý, nếu cấp dưới chưa có thói quen tranh luận với cấp trên, không dám suy nghĩ bằng cái đầu của mình vì sợ mất đầu, thì tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận ở nước ta sẽ còn kéo dài” (Tuần Việt Nam.net ngày 3 tháng 3 -2010 ). Tôi nghĩ, sự lạc hậu về lý luận sẽ kéo theo sự lạc hậu của Đảng lãnh đạo, vậy là sẽ kéo theo sự lạc hậu của đất nước, tức nhiên kéo theo sự an nguy của Tổ quốc! Tôi không là nhà lý luận, nhưng từng là anh bộ đội Cụ Hồ 10 tuổi quân, tôi xin thẳng thắn nói rằng mình rất tâm đắc kiến giải của giáo sư Yoshiharu Tsuboi. Trong mấy bài viết trước đây, tôi từng cho rằng Cụ Hồ chỉ coi chủ nghĩa Lê nin như là một trong những phương tiện để giành độc lập dân tộc. Chính các thế lực đế quốc buộc Cụ phải dựa hẳn vào phe xã hội chủ nghĩa. Tìm đọc một số tác giả khác, thấy nhiều người cũng có ý kiến tương tự giáo sư Yoshiharu Tsuboi.

Tác giả Williams J. Duiker trong cuốn “Hồ Chí Minh: A Life” có những đoạn viết: “Nhiều người quen biết ngoại quốc của ông nhấn mạnh ông là một nhà yêu nước hơn là một người Mác xít. Có vẻ ông Hồ thừa nhận quan điểm này năm 1961, khi ông tuyên bố công khai là vì mong muốn cứu đồng bào của mình đã dẫn ông đến với chủ thuyết Lênin. Trong khi ông bày tỏ điều này trong nhiều trường hợp khác thì không gì rõ ràng hơn là ý kiến ông nói với viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ Charles Fenn vào năm 1945 rằng ông coi chủ nghĩa cộng sản như là phương tiện để đạt được mục đích quốc gia”.

Nhận xét quyển “Hồ Chí Minh: A Life”, ông Stanley Kutler cho rằng: “Trong tác phẩm của mình Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với Lênin”.

Pierre Brocheux, giáosư diễn giảng danh dự Đại học Denis-Diderot, Paris VII trả lời phỏng vấn đài RFI về công trình nghiên cứu Hồ Chí Minh của mình: “Thật ra tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò mà tôi gọi là “người chuyển tải giữa phương tây và phương Đông”. Ông Hồ Chí Minh đã ứng dụng các học thuyết của phương Tây vào Việt Nam, nhưng vẫn giữ tính chất rất là châu Á, rất là Việt Nam”.

Hồ Chí Minh chấp nhận nhiều tư tưởng khác nhau, người nói: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách thích hợp với điều kiện nước ta… Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên, chẳng đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” (Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, NXBKHXH 1993, trang 84).

Chắc chắn vì những lý do nói trên mà Stalin với cương vị lãnh tụ Quốc tế 3 cộng sản đã dị ứng đối với Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện và ghi nhận điều ấy. Sử gia Alain Ruscio trích dẫn một tài liệu lấy từ văn khố của Liên Xô cũ phổ biến năm 1990: “Năm 1934, ông Hồ trở lại Moscou. Lúc này Stalin đã nắm chắc quyền lực và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu từ năm 1937. Có vẻ như con người sẽ trở thành Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou ông không được tin cậy, không được giao một nhiệm vụ nào. Không còn nghi ngờ gì nữa, người ta đã trách cứ ông ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì phải có tinh thần cách mạng vô sản “.

v v…

Hồ Chí Minh không viết riêng một tác phẩm bàn về dân chủ, do đó chưa cung cấp cho chúng ta các bước cụ thể để thực hiện tiến trình dân chủ. Tuy nhiên nghiền ngẫm lại những lời tâm huyết suốt đời của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy ông chỉ có một tư tưởng tự do dân chủ xuyên suốt. Đó là tư tưởng giải phóng con người về mặt tinh thần trong dòng chảy của nền văn minh nhân loại. Từ chủ nghĩa Nhân văn thời Phục hưng lấy con người làm trung tâm thay cho thượng đế, với những tên tuổi khổng lồ như Dante, Leonardo de Vinci, Rabelais, Montaigne, Cervantes, Shakespeare…Chủ nghĩa Nhân văn sau đó, được bổ sung chủ nghĩa duy lý của Isaac Newton, Descartes, J. Locke với nhận thức: Mọi người có khả năng bẩm sinh như nhau trước tạo hóa thì phải có quyền bình đẳng như nhau trong đời sống. Đó là cơ sở ra đời chủ nghĩa dân chủ. Các nhà triết học và khoa học Thế kỷ Khai sáng Pháp, với Voltaire, Montesquieu, La Mettrie, Diderot, Helvetius, Holbach, Rousseau… không ngừng đề cao Tự do, Bình đẳng, Bác ái, không ngừng phát triển chủ nghĩa dân chủ, đòi thay thế xã hội thần dân bằng xã hội công dân, đòi thay thế nhà nước áp đặt quyền lực vô hạn bằng nhà nước pháp quyền, đòi thay thế chế độ thần dân phục tùng nhà nước bằng chế độ nhà nước phục tùng ý chí của công dân.

Khi nghe câu nói của Hồ Chí Minh: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì “, chúng ta sẽ liên tưởng đến một câu trong tuyên bố của Hội nghị nhân quyền thế giới họp ở Vienna (thủ đô nước Áo ), ngày 25 tháng 6 năm 1993:

“5- Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập,không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau. Cộng đồng thế giới phải xử lý các quyền con người theo phạm vi toàn cầu một cách công bằng và bình đẳng và được coi trọng như nhau …” (Các văn kiện quốc tế về Nhân quyền, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997, trang 40).

Khi nghe câu nói của Hồ Chí Minh: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” hoặc “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”, chúng ta liên tưởng ngay đến câu:

“8 – ….Dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng ý chí bày tỏ tự do của nhân dân về sự lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa của mình và sự tham gia đầy đủ của họ vào mọi lãnh vực đời sống.” (cũng trong tài liệu trên).

Tôi vô cùng kính phục một người suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, đã có câu nói nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, lại chính là người đặt nhân quyền và các quyền tự do của nhân dân còn cao hơn cả chủ quyền đất nước. Tôi càng tin rằng tư tưởng Tự do, Dân chủ của Hồ Chí Minh thuộc những giá trị phổ biến của toàn nhân loại, chứ đâu phải của riêng phương Tây. Nếu không xác định rõ điều này chúng ta chẳng những phạm lỗi rất lớn đối với Hồ Chí Minh và còn có lỗi rất lớn đối với dân tộc, bởi vì điều ấy sẽ hạn chế tới nỗi không thể tìm thấy “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh” như mong ước của Hồ Chí Minh và cả dân tộc!

II
CHÚNG TA ĐANG Ở ĐÂU TRÊN LỘ TRÌNH DÂN CHỦ?

A – THÀNH TỰU NỔI BẬT NHẤT CỦA 25 NĂM ĐỔI MỚI: DÂN CHỦ!

Trong bài viết “Việt Nam trong thế giới của thập kỷ 2011-2020”, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung nhận định: “Có thể nói, dân chủ dù là ở mức độ khiêm tốn, ấy là thành tựu bậc nhất của 25 năm đổi mới “.

Rất đúng! Đổi mới thực chất là dân chủ hóa!

Nhớ lại, lần học Nghị quyết Đại hội 4 của Đảng năm 1976 chúng tôi có rất nhiều điều băn khoăn trăn trở: Vì sao phải thay từ Dân chủ trong tên nước bằng từ Xã hội chủ nghĩa? Nghị quyết Đại hội ghi: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”… Điều ấy liệu có trái với Marx: “Phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”? Có trái với Hồ Chí Minh: “Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình,góp phần tìm ra chân lý”?

Tôi nhớ buổi nói chuyện của ông Trần Quỳnh ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng . Ông đặt ra cho chúng tôi câu hỏi, vì sao Lê nin nói “Chủ nghĩa xã hội là chế độ dân chủ gấp triệu lần hơn dân chủ tư sản”? Và ông dẫn giải rằng, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sẽ biến toàn xã hội cuối cùng chỉ còn một giai cấp là giai cấp công nhân đã trí thức hóa, xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, cũng tức là xóa bỏ vĩnh viễn mầm mống của chế độ người bóc lột người. Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mà công nhân sẽ trở thành dân tộc, vì vậy Đảng đại diện công nhân thì cũng đại diện cho cả dân tộc. Nhà nước xã hội chủ nghĩa có kế hoạch phát triển kinh tế, quản lý từ công ăn việc làm đến phân phối sản phẩm cho nhân dân. Mậu dịch quốc doanh cung ứng cho nhân dân từ hạt gạo, hạt muối, đến cọng rau, viên thuốc… Xin hỏi các đồng chí: Có nhà nước dân chủ tư sản nào dám nhận tất cả mọi việc chăm lo cho nhân dân chi li đến như vậy?

Làm sao có thể nghi ngờ một nhà nước đặt cho mình mục tiêu cao cả vì con người như thế là không dân chủ? Nhưng lạ lùng thay, một nhà nước gánh vác mọi việc cho dân như vậy mà sao sản xuất xã hội cứ mỗi ngày một ách tắc, đời sống nhân dân càng ngày càng khó khăn? Hóa ra chỉ vì người dân đã không còn được quyền tự do kinh tế của cá nhân.

Xin kể hai chuyện đau lòng xảy ra trong thời kỳ được gọi là “quan liêu bao cấp” ấy.

1- Ở thành phố Hồ Chí Minh: Bà Tuyết Minh giám đốc Công ty Giày Sài gòn tận dụng phế liệu sản xuất ngoài kế hoạch chia thêm cho công nhân đủ sống. Bởi vì tiền lương một ngày của công nhân chỉ đủ trả tiền vá hai lổ thủng săm xe đạp. Bà huy động vốn tư nhân từ những sĩ quan quân đội nhân dân, bạn của chồng bà, chính vì việc này bà bị bắt và bị kết tội đi theo con đường tư bản, xâm phạm lợi ích quốc gia. Mặc dù giữa phiên tòa xử bà đã có hằng trăm công nhân đến cổng tòa án hô vang: “Giám đốc Tuyết Minh của chúng tôi vô tội!” Bà Tuyết Minh bị bệnh nặng trong tù, được thả về ít lâu thì chết trong nỗi dằn vặt không hiểu vì sao mình bị kết tội!

2- Ở Hà Nội: Ông Nguyễn văn Chẩn có sáng kiến đắp cao su lên lốp xe vận tải đã mòn lòi bố đạt phẩm chất bằng 80% lốp mới, giải quyết cho hằng trăm xe bỏ xó vì không có lốp thay. Ông được anh em lái xe kính phục gọi là “vua lốp”, nhưng không lâu sau ông đã bị bắt và bị kết tội dám cả gan tổ chức sản xuất tư nhân theo lối kinh doanh tư bản chủ nghiã! “Vua lốp” bị tịch thu nhà cửa, sản nghiệp và bị xử tù!

Những năm đó, ở thành phố Hồ Chí Minh, ông bí thư thành ủy Võ văn Kiệt đã dám chọn “xé rào” (tức là xé bỏ các quy định của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa) thay vì đóng cửa xí nghiệp. Ông che chắn cho việc làm trên bằng khẩu hiệu “Đảm bảo hài hòa Ba lợi ích” (tức là lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể xí nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động). Lợi ích cá nhân người lao động là vấn đề đang bị kiêng kỵ, bởi ai cũng sợ nó trái với chủ nghĩa tập thể xã hội chủ nghĩa! Xé rào, Ba lợi ích, chính là những tín hiệu đưa tới công cuộc Đổi mới.

Đại hội 6, Đại hội Đổi mới, với tinh thần “Nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, với quan điểm “Lấy dân làm gốc”, với khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. “Đổi mới tư duy bắt đầu là tư duy kinh tế”. Tất cả chính là trở về với tư tưởng tự do dân chủ của Hồ Chí Minh. Qua 25 năm nhìn lại cứ tưởng như mơ bởi nhiều chân lý của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa được suy tôn ngày đó nay đã bị đảo ngược. Anh hùng lao động của thời kỳ đổi mới hiện nay chính là những con người mang ý chí của ông “vua lốp” trước kia: Tự do sáng tạo, làm giàu bằng bàn tay khối óc của mình, tạo ra của cải, việc làm cho xã hội.

Chúng ta cùng điểm lại những thành tựu của Đổi mới trong xây dựng kinh tế:

– Cả thế giới nhìn vào Việt Nam với những chúc tụng: Một nền kinh tế đang trỗi dậy, Con hổ tương lai… Bởi chúng ta đạt tốc độ phát triển cao từ thập niên 90 do chính sách mở cửa hội nhập quốc tế, kêu gọi thu hút đầu tư từ nhiều nước.

– Từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ hai thế giới. Động lực từ đâu vậy? Ngày 24 tháng 4 năm 1957, Hồ Chủ tịch nói ở Nam Định: “Làm kinh tế thì phải khoán. Khoán là ích chung, lợi riêng thì mới khuyến khích được sản xuất”. Mười năm sau, năm 1967, ông Kim Ngọc là người đầu tiên làm theo Hồ Chi Minh và bị kỷ luật. Nay “đổi mới tư duy”, động lực được tạo ra là khi trở về Hồ Chí Minh!

– Từ con số không bởi bị đánh phá tan tành trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh chóng tạo 90% việc làm trong công nghiệp và 70% sản lượng công nghiệp. Tỉ trọng lao động trong nông lâm ngư nghiệp đã giảm xuống dưới 50%.

– Tốc độ tăng trưởng hằng năm từ 8 đến 10% , thu nhập bình quân từ 300 USD tăng lên hơn 1000 USD và năm 2010 được coi là nước có thu nhập trung bình.

*Là thành viên của tổ chức WTO. Nhiều cường quốc kinh tế mong muốn là đối tác kinh tế của Việt Nam.

– Tỷ lệ giảm nghèo đói được Liên Hiệp Quốc đánh giá cao: Từ 58% năm 1993 xuống 20% năm 2004.

– Đô thị hóa nhanh chóng, đưa dân số thành thị từ dưới 15% lên 29%, theo dự đoán sẽ trên 40% vào đầu thập niên 2040.

– Cả nước hướng tới mục tiêu Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp.

Dân chủ hóa trong kinh tế cũng đã kéo theo dân chủ hóa nhiều mặt của đất nước:

– Quốc hội Việt Nam từ ngót 100% là đảng viên, đến nay có 92 % đảng viên. Từ khóa 10 các kỳ họp đều có chất vấn tranh luận đôi khi khá căng thẳng giữa đại biểu quốc hội và Chính phủ. Đại biểu Quốc hội định kỳ lắng nghe ý kiến cử tri và can thiệp xử lý có hiệu quả nhiều trường hợp. Việc xây dựng luật pháp được Quốc hội tiến hành khẩn trương và tương đối hiệu quả.

– Thủ tướng và nhiều Bộ trưởng thực hiện đối thoại trực tuyến với nhân dân. Dù có còn nặng hình thức, nhưng hình thức đòi hỏi sẽ phải tăng dần thực chất .

– Cũng từ Đổi mới đã giảm dần việc bắt giam giữ,cải tạo không qua xét xử. Đến nay gần như tất cả những người bị bắt đều có lệnh bắt và qua xét xử.

– Từ sau Đại hội 6 của Đảng, báo chí,truyền thông đã có nhiều cải tiến về nội dung và hình thức đáng ghi nhận. Chống tiêu cực mạnh mẽ trên báo, đài. Lần đầu tiên Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa 6 đã ra Thông báo kết luận và xử lý vụ báo Lao Động đưa liên tục 54 tin bài “Cây cao su kêu cứu”, kỷ luật cảnh cáo và cho nghỉ hưu Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục cao su. Nhiều tờ báo thoát khỏi bao cấp, thu lãi lớn, cải thiện đời sống phóng viên, tự trang bị công cụ nghề nghiệp hiện đại. Khẩu hiệu “báo chí vừa là công cụ của Đảng vừa là diễn đàn của nhân dân” đã bước đầu thực hiện thông tin hai chiều. So với thập kỷ 1980 trở về trước, tất cả các báo chỉ được phép sử dụng bản tin của Thông tấn xã Việt Nam đối với những sự kiện như Đại hội Đảng, Kỳ họp Quốc hội, họp Hội đồng chính phủ… thì báo chí ngày nay tự do hơn nhiều.

– Năm 2009 có sự kiện lớn rất đáng ghi nhận về tự do phản biện. Đó là tồn tại của trang mạng Bauxite Việt Nam. Sau khi tổ chức nhiều đợt lấy chữ ký của hơn 3000 trí thức trong ngoài nước, kiến nghị Nhà nước dừng các dự án hợp tác với Trung quốc khai thác Bauxite Tây nguyên, giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng chủ trương lập mạng Bauxite Việt Nam tiếp tục phản biện về vấn đề này. Trang mạng tập hợp hằng trăm bài viết có giá trị khoa học, tràn đầy tinh thần yêu nước, thu hút hằng chục triệu người truy cập. Dù bị đánh phá tàn bạo trang mạng vẫn được giữ vững. Giáo sư Huệ Chi bị tạm giữ ổ cứng máy tính và mời làm việc nhiều tuần, cuối cùng cơ quan an ninh đã công nhận đây là một trang mạng yêu nước. Điều này một mặt ghi nhận tính chính đáng của những người chủ trương và quần chúng yêu nước tập hợp quanh trang mạng Bauxite Việt Nam. Đồng thời cũng phải ghi nhận rằng Nhà nước Việt Nam đã có một bước tiến rất đáng hoan nghênh, trên tiến trình dân chủ.

Nhìn lại thành tựu lớn lao của 25 năm đổi mới đã giúp chúng ta hiểu vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt dân chủ trước giàu mạnh.

B – DÂN CHỦ CÒN ÁCH TẮC Ở ĐÂU?

Từ Đại hội 6 đến nay, Nghị quyết nào của Đảng cũng nhấn mạnh “dân chủ”. Văn kiện Đại hội 10 ghi rằng: “Ở đâu có dân chủ, ở đó có đoàn kết, đồng thuận và phát triển” (trang 344). Nghị định, thông tư nào của Chính phủ cũng nhắc nhở việc tiến hành phải “dân chủ”. Tuy nhiên, nhiều việc, nhiều nơi, đều phản ảnh đã xảy ra những hậu quả xấu bởi thiếu dân chủ.

1- SỨC KHỎE CỦA NỀN KINH TẾ

– Đài Loan suốt 20 năm phát triển liên tục họ chỉ cần một nửa số vốn của Việt Nam để làm thêm một đơn vị tăng trưởng! Có rất nhiều bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước “khám sức khỏe” cho nền kinh tế Việt Nam đều thống nhất nhận định rằng: Chỉ số ICOR (tức là số đồng vốn đầu tư để tăng thêm một đồng GDP) của Việt Nam cao từ gấp rưởi đến gấp đôi các nước trong khu vực! Do đó hàng hóa Việt Nam không nâng được sức cạnh tranh. Năm 2006 Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) xếp năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam hạng 64, năm 2007 xếp hạng 68, năm 2008 xếp hạng 70.

Nguyên nhân bởi đâu? Mọi chẩn đoán đều quy cho bệnh tham nhũng, bòn rút và chuyển mục đích sử dụng quỹ đầu tư công. Bệnh kéo dài là do không dùng thuốc đặc trị đã được Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ”!

– Chế độ đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân là sự tiếp tục không công nhận quyền sở hữu của người dân, tạo điều kiện cho nạn tham nhũng đất đai lan tràn không ngăn chặn nổi. Có thể ghi một danh sách đen bất tận, từ vụ án ăn đất ở Đồ Sơn, đến Phú Quốc, lòng hồ Trị An, đất rừng Long An…

– Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung cho rằng 25 năm qua chúng ta phát triển kinh tế theo chiều rộng: khai thác khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên; phát triển sản phẩm thô, duy trì công nghệ lạc hậu, sử dụng lao động cơ bắp giá rẻ, giá trị gia tăng rất thấp; cái giá phải trả cho hủy hoại môi trường tự nhiên và môi trường xã hội rất cao; tích tụ nhiều ách tắc, mất cân đối. Phát triển không bền vững, càng ngày càng tụt hậu so với các nước trong vùng.

– Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần doanh nghiệp dân doanh nhưng doanh số trung bình của một công nhân tạo ra ở doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 44% so với doanh nghiệp dân doanh. Trong khi đó các doanh nghiệp nhà nước luôn luôn được ưu tiên chăm sóc, được bảo hộ và ưu đãi về vốn, đất đai… so với doanh nghiệp dân doanh.

– Về nông nghiệp: Từ tháng 7 năm 2008 Hội nghị Trung ương 3 đã có Nghị quyết về nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Tuy nhiên đến cuối năm 2009, giáo sư, tiến sĩ nông học Đào Thế Tuấn có bài viết vạch ra nhiều điều bất công đối với nông dân, làm cho họ không thể thoát nghèo.

Đầu năm 2010, giáo sư tiến sĩ nông học Võ Tòng Xuân có bài viết đặt câu hỏi: Bao giờ nông dân mới giàu? Ông gợi ra những bất cập từ chính sách, đến điều hành sản xuất và xuất khẩu, người đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra hạt gạo là người thua thiệt đủ đường. Vùng trọng điểm làm ra hat gạo xuất khẩu của quốc gia là vùng nghèo nhất, học vấn thấp nhất.

Do đó mà xảy ra tình trạng đau lòng: Hằng ngàn em gái vị thành niên sang Campuchia bán thân, hằng trăm cô gái đẹp chen chúc chờ một anh Hàn Quốc già nua, khuyết tật xem mặt. Phải chăng vì lời Chủ tịch Hồ Chí Minh “ở nông thôn nông dân thực sự nắm chính quyền” chưa trở thành sự thật?

Nhiều dự án lấy đất mà không đền bù thỏa đáng cho nông dân để xảy ra tình trạng khiếu kiện vượt cấp liên miên.

Trong lần góp ý với Hội đồng lý luận Trung ương, ông Đặng Quốc Bảo có nhận xét: “Đã có những dấu hiệu đổi mới cải cách đang trượt dài sang không phải chủ nghiã tư bản hiện đại mà là chủ nghĩa tư bản xấu xí, chủ nghĩa tư bản sơ khai với những đặc trưng cực kỳ man rợ, có 2 đặc trưng: (a) Kinh tế ngầm lộng hành, mafia cộng với thoái hóa, (b) bộ máy công quyền hư hỏng, vô cảm, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, thiếu chuyên nghiệp, ít hiểu biết, xa rời nhân dân, dị ứng với dân chủ”.

Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài cũng có nhận xét tương tự. Họ cho rằng đã xuất hiện ở Việt Nam “Chủ nghĩa tư bản thân chủ “. Đó là những kẻ có các mối quan hệ trong hệ thống nhà nước, họ nắm được thông tin, không cần chất xám, không cần vốn liếng, vẫn nhanh chóng trở thành đại gia. Tức là làm giàu nhờ môi trường xã hội không minh bạch, không công khai, không dân chủ.

Qua 25 năm đổi mới, mặc dù mức thu nhập của nước ta còn kém xa Hàn quốc, Đài Loan, nhưng phân phối thu nhập giữa người nghèo và người giàu chênh lệch hơn nước họ. Trong bài báo có tựa là Công bằng đăng trên báo Lao Động, ông Đan Tâm nguyên hiệu trưởng Trường Đại học Công đoàn cho rằng khoảng cách giàu nghèo ở nước ta hiện nay là 13/1 và đã có những trường hợp phân phối thu nhập chênh lệch nhau hằng trăm lần.

2 – CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ KHÔNG THEO KỊP ĐÒI HỎI CỦA PHÁT TRIỂN

Từ Đại hội 6 đến nay, các kỳ Đại hội đều thừa nhận cải cách chính trị không theo kịp đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội. Xin điểm qua đôi nét hiện trạng của vấn đề này trước thềm Đại hội 11.

A – Vai trò của Quốc hội

Trong hai ngày 8 và 9 tháng 10 năm 2009, Viện nghiên cứu lập pháp của Quốc hội phối hợp với Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo “Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước khi Việt Nam là thành viên của WTO” tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đây là một số ý kiến của các đại biểu tại hội nghị.

Ông Trần Văn Đa nguyên đại biểu HĐND TP HCM từ khóa 1 đến khóa 5 cho rằng, hiện nay HĐND và Quốc hội đã có nhiều cải tiến nhưng thực tế các đại biểu HĐND cũng như đại biểu Quốc hội vẫn là ” Nghị gật, Nghị ừ!”. Mỗi người dân có đến 4-5 ông đại diện (HĐND xã, phường, quận, huyện, tỉnh, Quốc hội). Nhưng nhiều chuyện của dân vẫn không giải quyết được, kiện thưa hoài không ai xử. Cho nên phải làm rõ quyền lực của Quốc hội tới đâu và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội tới đâu”.

Ông Phó giáo sư tiến sĩ Đặng Văn Thanh chuyên gia cao cấp của Quốc hội nói: “Không ít quyết định của Quốc hội không được thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không nghiêm túc, khiến cho vai trò của Quốc hội ít nhiều mang tính hình thức.”

Nhà sử học Dương Trung Quốc đại biểu Quốc hội đồng ý với ông Thanh và bổ sung: “Quốc hội có tới 92% là đảng viên mà đã là đảng viên thì khi quyết định các vấn đề phải tuân thủ theo định hướng của tổ chức.Vì thế Quốc hội của chúng ta chưa chuyên nghiệp.”

Ông Đinh Xuân Thảo Viện trưởng Viện nghiên cứu Lập pháp nói: “Ở các nước thông qua gói kích cấu phải mấy vòng mới quyết định được, ở ta thì không! Quy định chuyển mục đích sử dụng rừng từ 1000 ha phải xin ý kiến Quốc hội, nhưng nhiều nơi chuyển đổi 100.000ha cũng chẳng báo cáo Quốc hội!”.

Giáo sư tiến sĩ Trần Ngọc Đường,Viện Nghiên cứu Lập pháp cho rằng: Hiện nay nhiều vấn đề mang tầm cỡ của quốc gia đều do Bộ chính trị quyết định trước, nhờ đó Quốc hội thông qua nhanh chóng, nhưng nhược điểm của cách làm như vậy là thiếu dân chủ. Ông nhấn mạnh “Để quyết định của Nhà nước dân chủ hơn thì phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đây là vấn đề có ý nghĩa tiên quyết. Phương thức lãnh đạo của Đảng phải đổi mới một cách căn bản mới phát huy được sức mạnh của Nhà nước. Bản thân Đảng cũng nhờ đó sẽ mạnh lên”.

Vai trò của Quốc hội chỉ có tính hình thức như các đại biểu miêu tả ở trên đã thành nếp, cho nên ông Trần Đình Đàn trong cuộc họp báo 2 ngày trước khi khai mạc kỳ họp Quốc hội đã có thể phát biểu chắc như đinh đóng rằng:

“Quốc hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương lớn này. (Ông nói chủ trương khai thác Bauxite đang có kiến nghị phản biện của các bậc lão thành cách mạng và hằng ngàn trí thức.) Như tôi đã nói từ đầu, chủ trương này đã được Đảng và Nhà nước ta nói ngay từ Đại hội 9, Đại hội 10 cuả Đảng…Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ”.

Câu nói của ông Đàn được dư luận xã hội xem là một trong những câu nói ấn tượng nhất trong năm 2009! Thực ra ông Đàn chỉ sai về “nguyên tắc”, vì “cầm đèn chạy trước ô tô”, làm lộ rõ vai trò “nghị gật” của Quốc hội gây bất lợi trong dư luận, chứ ông đã cho trước rất chính xác kết quả cuối cùng!

B – Bầu cử và tổ chức cán bộ

Ở phần trên nhiều ý kiến cho thấy việc bầu cử đại biểu Quốc hội chưa thực sự là chọn lựa của nhân dân.

– Trong nhân dân lưu truyền “tục ngữ” mới với ý không đồng thuận cái cách “Đảng cử dân bầu”.

– Khi ở Cà Mau xảy ra chuyện chạy chức, dư luận xã hội cho rằng Cà Mau không phải là cá biệt. Trả lời báo chí, nhiều cán bộ có trách nhiệm xác nhận dư luận xã hội là đúng. Ông Nguyễn Đình Hương nguyên Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, nói: “Vụ chạy chức ở Cà Mau không phải là cá biệt. Có thể nói cái sự “chạy” nơi nào cũng có, cấp nào cũng có, Trung ương cũng có, tỉnh có, huyện có, các bộ ngành đều có…. Và chạy ở mức 100 triệu đồng chưa là cái gì! Tôi biết có trường hợp chạy lớn hơn nhiều” (Báo Tuổi Trẻ ngày 27 tháng 4 năm 2008).

Sở dĩ có tình trạng trên là vì “Công tác cán bộ nằm trong tay 1 người hoặc 1 nhóm người và tiến hành trong vòng bí mật” (Ông Nguyễn Đình Hương, trên Tuần Việt Nam 28 tháng 7 năm 2009).

Ông Nguyễn Đình Hương còn cho rằng cần có biện pháp để chống “chạy chức, chạy quyền, khắc phục tệ thân quen cánh hẩu, cục bộ địa phương, cha làm quan đưa con vào lãnh đạo, dẫn đến sử dụng cán bộ không đủ tiêu chuẩn, uy tín thấp, làm việc kém hiệu quả,dân mất niềm tin”

– Ngày 6-10- 2009, qua Tuần Việt Nam (Tuanvietnam.net), ông Đặng Tiến gửi thư cho Ban chấp hành Trung ương Đảng hưởng ứng ý kiến của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh “Phải đánh giá đúng hạn chế yếu kém, tình hình tổ chức cán bộ”. Ông Tiến viết: “Sắp xếp cán bộ theo kiểu cứ có chân trong đảng ủy, trong Ban chấp hành thì có thể làm bất cứ lãnh đạo gì, bất cứ ngành nào”. Ông Tiến nhắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về cách làm đó: “Chẳng khác gì thợ rèn bảo đi đóng tủ, thợ mộc bảo đi rèn dao”.

C. Pháp quyền

– Vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2009 cho thấy chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu “Tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.”

– Tháng 6 – 2009 Phó chủ tịch UBND Hà Nội ban hành văn bản với nội dung “Có biện pháp xử lý nghiêm đối với văn phòng luật sư Tạ Định” vì “đã gây cản trở việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án Khu đô thị mới Tây -Nam hồ Linh Đàm.” Ông Phó chủ tịch gọi là “gây cản trở ” chỉ vì Văn phòng luật sư này đã hỗ trợ pháp lý cho 200 hộ dân bị ép buộc giao đất với giá bồi thường không đúng luật pháp. Tình trạng o ép người dân như thế này có tính phổ biến chứ không phải chỉ ở Hà Nội.

– Nhiều vụ án tham nhũng, tòa xét xử đã chiếu cố giảm án bởi “nhân thân tốt” (tức là cán bộ đảng viên có công) đã gây bất bình trong nhân dân.

– Thành ủy Thành phố Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra về nội dung khởi tố, về tổ chức họp báo công khai đối với vụ án bà Ba Sương ở Nông trường Sông Hậu. Trước khi qua đời cố Thủ tướng Võ văn Kiệt đã có thư góp ý: “Việc này phải do cơ quan điều tra, hoặc Viện kiểm sát tiến hành.Tôi không rõ có lý do gì bên trong để các đồng chí giải thích cho việc này: Cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố án?”

– Một số vụ công dân bị gọi đến đồn công an rồi được đưa đến bệnh viện với nhiều thương tích, có người đã chết.

– Một số vụ côn đồ đánh đập nạn nhân trước mặt công an mà công an không ngăn chặn. Nhiều vụ nhà báo đang hành nghề bị hành hung mà cơ quan hữu trách không khởi tố những kẻ hành hung đó. Vụ chó bẹc giê cắn chết người ở Lâm Đồng cơ quan điều tra đã đe dọa những người làm chứng trung thực.

– Nhiều vụ án tham nhũng kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc. Các vụ án tham nhũng có liên quan với nước ngoài, phía người ta đã xử xong, nhưng bên chúng ta vẫn còn ngâm đó: Vụ Đại lộ Đông Tây (PCI) tư pháp Nhật đã xử tù những người hối lộ Huỳnh Ngọc Sĩ. Vụ tiền in Polymer ở Úc, người ta đã khởi tố Công ty Securency của Úc hối lộ các quan chức Việt Nam. Bản tin ABC News đưa tin Hãng xe hơi Daimler hối lộ quan chức một số nước trong đó có Việt Nam. Mới đây Hoa Kỳ khởi tố 3 doanh nhân Mỹ gốc Việt của Công ty Nexus hối lộ quan chức Việt Nam để có hợp đồng mua bán v.v…

Tổ chức Tư vấn rủi ro chính trị kinh tế (PERC) xếp Việt Nam đứng thứ 3 về tham nhũng ở Châu Á (sau Indonêxia, Campuchia.)

D. Tổ chức hội đoàn

Nghị quyết 8b-NQ của Hội nghị Trung ương 6 (khóa 6) có ghi: “Trong giai đoạn mới cần thành lập các Hội đáp ứng yêu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức này thành lập theo nguyên tắc tự nguyện và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”.

Đối chiếu yêu cầu đó với thực tế hoạt động của các đoàn thể hiện nay, tức là sau 20 năm, vẫn còn một khoảng cách quá xa!

– Đoàn thể quan trọng nhất là Công đoàn nếu làm đúng như Nghị quyết 8b-NQ (cũng là làm đúng ý kiến Hồ Chí Minh) thì đã không có tình trạng hơn 2500 cuộc đình công (tính tới giữa năm 2008) không có sự chỉ đạo của Công đoàn theo Luật định! Khi tôi viết đến đây thì có tin “ngày 7 tháng 4 -2010, 18.000 công nhân Công ty Pouchen VN ở Thành phố Biên Hòa đã tự tổ chức đình công đến ngày thứ 5 đòi tăng lương và cải thiện bữa ăn, không có sự chỉ đạo của công đoàn. Năm 2008, tôi có viết một loạt 3 bài báo về tình trạng yếu kém của công đoàn đăng trên báo Lao Động nêu ra 3 vấn đề: (1) Không nên đưa cán bộ vào “ba cùng” với công nhân rồi giới thiệu để họ bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở. Công đoàn cơ sở phải từ trong lòng công nhân sinh ra. (2) Không nên bao cấp tiền lương cho chủ tịch công đoàn cơ sở mà để ăn lương của chủ doanh nghiệp như mọi công nhân. (3) Phải để cho công nhân tự chọn người họ tin cậy bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở (như ý kiến của Hồ Chí Minh), chứ không nên thay họ chọn người làm chủ tịch công đoàn. Chừng nào chưa khắc phục 3 điều trên thì công đoàn cơ sở chưa được công nhân xem là đại diện của mình.

– Hội LH Phụ nữ thì sao? Cả nước còn nhớ chuyện cháu Bình bị chủ cửa hàng phở hành hạ tàn nhẫn nhiều năm ròng mà Chi hội Phụ nữ khu phố không hay biết. Năm ngoái,ở Hà Giang có vụ án cưỡng bức các cháu nữ học sinh bán trinh kéo dài, Hội Phụ nữ cũng không biết. Gần đây, có vụ bà Chắn ở Tây nguyên bị chó bẹc giê cắn chết; những người phụ nữ đứng ra làm chứng đã bị đe dọa,cũng không thấy Hội Phụ nữ lên tiếng!

– Ông Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng giao cho nhiệm vụ vận động nhân dân phản biện các chính sách của Đảng, nhưng suốt mấy năm vẫn không làm được tốt.

– Hội Nhà báo,tổ chức của những nhà ngôn luận của đất nước, có một hội viên là phóng viên nhiếp ảnh của cơ quan truyền thông lớn nhất nước là Thông tấn xã Việt Nam đã bị con rể một đại gia đánh vào mặt giữa tiệc mừng thắng lợi cuộc thi Hoa hậu thế giới trước mặt quan khách trong và ngoài nước. Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam có công văn (đã đăng trên các báo trung ương và địa phương) đòi phải nghiêm trị kẻ phạm pháp để bảo vệ hội viên. Nay đã qua 2 năm sự việc coi như đã chìm xuồng.

Đ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí

– Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí quy định trong luật pháp Việt Nam so với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc mà chính phủ chúng ta đã gia nhập từ ngày 24 – 9 -1982 và cam kết thực hiện còn nhiều hạn chế, chưa được các cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc hoan nghênh. Năm nào chúng ta cũng bị các tổ chức quốc tế xếp ở gần cuối bảng xếp hạng!

– Dư luận trong và ngoài nước không hoan nghênh ý kiến chỉ đạo của ông Bộ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông là báo chí phải đi đúng “lề phải” sẽ được tự do.

– Nghị định 97 / CP của Thủ tướng chính phủ đối với IDS bị dư luận coi là một bước lùi so với ý kiến của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tuyên bố ngày 24 tháng 1 năm 2009 “Tôn trọng những ý kiến khác biệt”. Nghị định này đã gây phản ứng tiêu cực trong giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm việc IDS tự giải thể. Cuối cùng ý kiến chỉ đạo xử lý nghiêm của Thủ tướng không được chấp hành, cũng không rút lại, làm cho uy tín của Thủ tướng bị giảm sút mà tự do phản biện cũng không vì thế mà được phục hồi!

– So với hai thập niên 80, 90 thì báo chí chúng ta hiện nay có vẻ thụ động hơn nhiều. Xin nêu 2 chuyện:

Năm 2009 có cuộc Hội thảo về Biển Đảo được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều tham luận rất bổ ích cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước, nhưng có lẽ do quen chờ chỉ đạo cho nên chỉ duy nhất tờ báo của tỉnh Bình Dương đưa tin.

Nhiều đài báo nước ngoài đưa tin nguyên Thủ tướng Võ văn Kiệt đã qua đời, các cơ quan báo chí Việt Nam đã biết nhưng còn chờ chỉ đạo! (Bởi vì trước đây có một tờ báo đưa tin nguyên tổng bí thư Trường Chinh qua đời khi chưa được chỉ đạo đã bị phê bình).

Đổi mới đã đưa đất nước ta vượt qua hơn nửa chặng đường dân chủ, có đủ cơ sở để không bao giờ bị đảo ngược. Tình trạng khiếm khuyết kể trên là do hệ thống chính trị vẫn còn giữ gần như y nguyên mô hình xô viết như từ trước khi đổi mới: Đảng trên nhà nước; Các đoàn thể là công cụ chính trị của Đảng tập hợp quần chúng; Hồng (là ý thức hệ) trên Chuyên… Xét cho cùng là do chưa thấm nhuần và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh! Sau khi bài Học hay không học Trung quốc, trong đó đề cao tư tưởng tự do dân chủ Hồ Chí Minh đăng trên Tuần Việt Nam (tuanvietnam.net), nhiều bạn đọc đã hỏi tôi, vì sao tư tưởng Hồ Chí Minh không được thực hiện. Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân chỉ vì hệ thống chính trị theo mô hình xô viết chỉ thích hợp cho yêu cầu cải tạo xã hội tiến tới còn một giai cấp, chứ không thể dung nạp được tư tưởng cộng hòa đề cao tự do cá nhân công dân, coi uy quyền nhà nước là do xã hội công dân trao cho.

Rất nhiều trí thức trong ngoài nước nhất trí cho rằng, tiếp tục đổi mới phải là cải cách chính trị. Trong bài viết có tựa đề Niềm tin vào tương lai giáo sư Trần Văn Thọ, kiều bào ở Nhật, đã tán thành ý kiến của giaó sư Nguyễn Lân Dũng trong nước: Chúng ta có những tiềm năng to lớn không kém các nước đã giàu có, sở dĩ chúng ta nghèo, ngày càng tụt hậu là do chưa có thể chế phát huy được tiềm năng dân tộc. Giải quyết vấn đề này, vai trò quan trọng nhất phải là của những nhà lãnh đạo chính trị.

III

DÂN CHỦ – LÀ Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN?

1 – KHÓ CƯỠI NHẤT LÀ CON NGỰA DÂN CHỦ

Các Nghị quyết của Đảng, bài nói của lãnh đạo đều nhấn mạnh phải thực hiện dân chủ. Nhiều nhà nghiên cứu lý luận ,cán bộ và nhân dân đều nói đến sự cấp bách phải thực hiện dân chủ. Như vậy dân chủ là nơi ý Đảng gặp lòng dân? Vậy thì tại sao tiến trình dân chủ của nước ta cứ ngập ngừng và nhiều lúc như dẫm chân tại chỗ?

Giáo sư Đinh Xuân Lâm nói “Trong Di chúc Bác vẫn để chữ dân chủ trước chữ giàu mạnh. Không dân chủ thì cũng khó mà giàu mạnh được”. Giáo sư giải thích “Càng mở rộng dân chủ thì càng tăng sức mạnh của Đảng”. “Phát huy dân chủ thì chúng ta mới tạo điều kiện cho mọi từng lớp nhân dân đóng góp ý kiến rộng rãi cho xây dựng và phát triển đất nước”. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nói “Dân chủ là dân chủ thật, chứ không phải hỏi cho có vẻ ta đây cũng đã hỏi ý kiến”. Văn kiện Đại hội 10 ghi nhận: “Ở đâu có dân chủ ở đó có đoàn kết, đồng thuận và phát triển.”

Tất cả những điều ấy đều là cái ngọn của dân chủ, tức là sự vận dụng dân chủ vào các hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị. Nếu dân chủ chỉ là những việc như vậy thì ông Đặng Quốc Bảo (nguyên ủy viên Trung ương Đảng) đã không phải dè chừng: “Khó cưỡi nhất là con ngựa dân chủ hóa xã hội, không phải vì thiếu hiểu biết – Nhân loại đã tích lũy được rất nhiều kiến thức bổ ích – mà là vì nó rất “tế nhị” và “nhạy cảm”. Và ông nhận định: “Nếu không dám cưỡi cũng như cưỡi thiếu bản lĩnh, tôi ngại sớm muộn sẽ gặp phải tai họa không lường được”.

Vì sao mà “không dám cưỡi”, vì sao mà “gặp phải tai họa”? Đó là vì ông Đặng Quốc Bảo muốn nói đến cái gốc, cái cốt lõi của dân chủ mà Hồ Chí Minh đã nói là “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra” và “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” hoặc “Dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng ý chí bày tỏ tự do của nhân dân về sự lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mình và sự tham gia đầy đủ của họ vào mọi lĩnh vực đời sống” (Tuyên bố Vienna và chương trình hành động của Hội nghị Nhân quyền thế giới, 25-6-1993).

Dân chủ là thể chế lập nên nhà nước bởi quyền lực của nhân dân. Nhân dân đặt ra các nghi thức (trong Hiến pháp),để bầu chọn cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và người lãnh đạo cao nhất, đồng thời có thể chế bãi miễn khi họ sai phạm xâm hại quyền lợi nhân dân. Trong chế độ dân chủ, quyền quyết định là của đa số, quyền bình đẳng là của mọi công dân và pháp luật được thượng tôn. Bầu cử dân chủ phải có tính định kỳ (tức là theo quy định mấy năm sẽ bầu lại), phải có tính phổ thông (tức là không phân biệt giai cấp,giới tính, chủng tộc, chỉ cần đủ tuổi trưởng thành), và có tính cạnh tranh giữa các ứng viên (về quan điểm, chương trình xây dựng và bảo vệ đất nước). Thiết chế dân chủ quy định ba cơ quan cấu thành nhà nước pháp quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp để kiểm soát nhau, hạn chế lạm dụng quyền lực, đảm bảo cho đất nước không bao giờ có thể nãy sinh những Mao Trạch Đông, Pôn pốt, hoặc những nguyên thủ quốc gia pháp luật không thể chạm tới và đảm bảo cho thiểu số người phản biện xã hội được tôn trọng, bảo lưu ý kiến và tiếp tục tranh biện.

Chính vì dân chủ là “con ngựa khó cưỡi nhất” và có thể gây ra “tai họa”, cho nên có rất nhiều người góp lời bàn về cách thực hiện, điều kiện và thời điểm thực hiện… Các tác giả ngoài nước nặng chỉ trích thể chế Việt Nam, còn các tác giả trong nước thì thường nhấn mạnh về ý nghĩa và tầm quan trọng mà ít nói cụ thể. Có một tác giả trong nước viết liền hai bài Con đường dân chủ Việt Nam và Tính tất yếu của dân chủ, gợi ra những điều bổ ích. Trên cơ sở các khái niệm Huntington, tác giả này cho rằng Trung Quốc và Việt Nam thuộc chế độ độc tài một Đảng, lãnh tụ suốt đời, đã được cải tiến thành chế độ một Đảng, lãnh tụ hai nhiệm kỳ. Từ đó, ông “hình dung về một chặng đường dài mang tính chu trình, không ngừng tự tiến hóa và va đập với các xu hướng khu vực lẫn toàn cầu”.

Tuy nhiên có hai điều đáng bàn lại :

Ông cho rằng ý tưởng chia Đảng cầm quyền tại Việt Nam thành hai Đảng của luật sư Trần Lâm là “không mới và về bản chất, do yếu tố căn cước vùng miền rất nặng nề trong cơ cấu chính trị, đảng cầm quyền tại Việt Nam có thể nói là đã bao gồm ít nhất ba phân nhánh (bắc,trung,nam ).”

Nếu căn cước vùng miền nghiêm trọng đến mức đó thì Nguyễn Ái Quốc không dễ thống nhất các tổ chức cộng sản vùng miền thành một Đảng. Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cho thấy những cuộc đấu tranh nội bộ đều là về quan điểm chính trị chứ không có tính chất vùng miền. Đảng bộ Nam kỳ trong nhiều giai đoạn đứng đầu Ban lãnh đạo là người miền Bắc, miền Trung. Hiện nay, cơ cấu Ban chấp hành Trung ương và Bộ chính trị chia đều các vùng miền, vừa là để nhân dân thấy có người của địa phương mình, nhưng quan trọng hơn là để Ban lãnh đạo dễ dàng bao quát được thực tiễn cả nước.

Những khi Việt Nam xảy ra tranh chấp vùng miền là do Nhà nước trung ương thoái hóa suy nhược, hoặc do sự can thiệp của ngoại bang. Điều ấy cũng từng xảy ra ở nhiều quốc gia. Cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn là bắt nguồn từ tranh chấp quyền lực giữa anh rể với em vợ. Ranh giới phân chia là từ thế đất với lời sấm “Hoành sơn nhất đái… “, chứ không phải chia rẽ bởi lòng dân. Cuộc phân chia ở vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương là từ áp lực bên ngoài. Chính quyền Sài gòn nhằm chỗ yếu của miền Bắc là ý thức hệ. Hà Nội đánh lại bằng thế mạnh của nguyện vọng Độc lập dân tộc, chống ngoại bang. Đã có một cố vấn Mỹ thắc mắc: “Tại sao cũng là người Việt Nam mà phía cộng quân chiến đấu kiên cường hơn?” Nếu cuộc chiến do căn cước vùng miền thì không có câu hỏi đó! Trong quyển “Khi đồng minh tháo chạy”, tác giả Nguyễn Tiến Hưng rút ra bài học thứ nhất cho Việt Nam Cộng hòa là quá lệ thuộc Mỹ cho nên thua. Theo tôi, đó chỉ là bài học thứ 2. Bài học thứ nhất là: Từ 1945 sau cuộc Cách mạng Tháng 8, dân tộc đã đứng về phía cộng sản. Việt Nam Cộng hòa không chứng tỏ được mình là “quốc gia”, cho nên không có sức thuyết phục dân tộc, do đó mất Sài gòn thì không có đường nào khác là phải sang Mỹ!

Thực dân Pháp đã không hiểu lòng dân Nam Kỳ cho nên đã xúi Nguyễn Văn Thinh đòi: “Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ!”. Lập tức, Sài gòn và cả Nam Bộ nổi lên phong trào Thống nhất, khiến Nguyễn Văn Thinh phải tự tử. Sau đó, Nam Bộ đón hằng ngàn chiến sĩ Nam tiến từ Bắc vào và chăm sóc như con em ruột thịt. Rồi năm 1954, hằng triệu người miền Nam tập kết ra Bắc và hằng triệu người Bắc di cư vào Nam. Họ có ý thức hệ và tín ngưỡng khác nhau, bị những tác động trái chiều nhau, nhưng không hề bị chia rẽ bởi “căn cước vùng miền sâu đậm”.

Do đó,nếu lấy yếu tố căn cước vùng miền để cho rằng “khả năng một cuộc nội chiến nồi da xáo thịt tiếp bước “cách mạng dân chủ đẻ non” e rằng không có cơ sở. Chỉ có thể đồng ý với tác giả là “đẻ non” thì không tốt!

Bài “Tính tất yếu của dân chủ”, cho rằng, “ở Việt Nam, tranh cãi về dân chủ nhiều khi bỏ qua yếu tố văn minh đô thị. Nó thu nhỏ trong sự xung đột giữa ý chí thị dân và sức ỳ của nền văn hóa nông nghiệp thượng phong”. Và “nói vụ án Nhân văn là một phong trào dân chủ không sai, song thiếu đầy đủ. Phe dân chủ dường như đã tự bịt mắt để vào trận quyết đấu sống còn cho một cái bánh dân chủ mà 90% người dân bắc Việt đói rách khi ấy chưa thể tiêu hóa nó”. Chỗ này tác giả nói quá, những đòi hỏi của nhóm chủ trương Nhân văn không thể gọi là “vào trận quyết đấu sống còn” mà rất khiêm tốn, chỉ là thực hiện phần ngọn của dân chủ, hoặc theo cách nói của tác giả ở cả hai bài viết này: “Chỉ có ngòi bút là vũ khí”, “để thảo luận một cách thành thật và cầu thị”. Trình độ đô thị hóa của bắc Việt năm 1956 và cả nước năm 1986 cũng không cách xa nhau nhiều lắm? Vậy thì yếu tố đô thị hóa dù rất quan trọng đấy, nhưng chưa hẳn đã là tất yếu mà quyết sách của chính đảng cầm quyền có khi lại rất quyết định? Năm 1921,Thụy Điển là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp, nhưng Đảng xã hội dân chủ đã thực hiện phổ thông đầu phiếu dân chủ và các quyền tự do. Nhờ đó mà Thụy Điển nhanh chóng trở thành nước phát triển. Ở Việt Nam, Đổi mới năm 1986, cũng là một quyết sách sáng suốt của Đảng cầm quyền dù rằng có áp lực của nhân dân.

“Nhại một kiểu nói văn hoa của quan chức, tôi tự hỏi có thể đi tắt, đón đầu dân chủ hay không? Chả có gì là không thể!Nhưng nó đòi hỏi phải thoát ly dân tộc tính. Khi nào? Khi trên diễn đàn hướng đến tri thức của những trí thức và cả trên truyền thông chính thống, không còn những cây bút tự khoe sự yếu đuối của mình bằng võ chửi, bằng con bài tẩy chụp mũ đầy cảm tính, ngụy biện, mị dân và lôi kéo bầy đàn “.

Tác giả đặt ra câu hỏi và trả lời như trên. Có lẽ do bị những ẩn ức nào đó mà ông quy tật xấu của một số người là dân tộc tính Việt Nam?

Nói chung các tác giả trong, ngoài nước đều nhất trí rằng dân chủ là con đường tất yếu sẽ phải đến. Nhưng đến vào lúc nào, cần có điều kiện gì thì còn tranh cãi. Người thì răn đe hiểm họa cho người vụng cưỡi, kẻ thì răn đe cạm bẫy đang giăng dưới chân những con ngựa chạy vội. Ở vị thế của Đảng cầm quyền chắc chắn rằng,chủ động, có bản lĩnh thì con đường dân chủ sẽ xuôi thuận, sớm tới đích, còn nếu chần chừ, cưỡng lại thì rất có thể lâm vào thế bị động, đối đầu với rất nhiều hiểm họa!

2 – ĐẢNG PHẢI THUẦN PHỤC CON NGỰA DÂN CHỦ

Muốn giàu mạnh thì phải dân chủ đã được xem là một chân lý hiển nhiên không phải bàn cãi.

Nhà kinh tế Daron Acemoglu, được Huy chương Clark của Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) đặt câu hỏi: “Nếu bạn là nhà lãnh đạo và muốn đất nước mình trở nên giàu có thì bạn phải làm gì? ” Và ông trả lời: “Có một giải pháp đơn giản: Đó là bầu cử tự do.” Ông chứng minh điều này bằng dẫn chứng hết sức đơn giản: Thành phố Nogales bị chia đôi bởi biên giới Mexico và Hoa Kỳ. Hai bên có mọi điều kiện giống y nhau: chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, thời tiết, gió mưa, các thứ bệnh tật… Nhưng bên phía Hoa Kỳ có thu nhập bình quân là 30.000 USD/ năm còn phía Mexico là 10.000 USD/năm. Điều gì gây ra sự khác nhau đó? Ấy là thể chế, một bên tôn trọng các quyền tự do, khuyến khích minh bạch, còn bên kia dung túng độc đoán, hối lộ, tội ác…

Nước ta cũng không thiếu những thức giả chiêm nghiệm sâu sắc về dân chủ. Ông Nguyễn Trung cho rằng dân chủ hóa sẽ làm cho nhân dân nhận thấy “Chế độ chính trị và Tổ quốc là một, quốc gia ấy là vô địch”. Ông Nguyễn Trần Bạt, trong buổi làm việc với Hội đồng lý luận Trung ương đã cho rằng: ” Nếu khóa 11 này Đảng thừa nhận và bắt đầu tổ chức quy trình cải cách chính trị theo hướng dân chủ hóa xã hội thì sau 10-15 năm nữa Việt Nam sẽ phát triển một cách không ai ngăn chặn được. Và chúng ta ở cạnh Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cách tốt nhất để đối phó với sự lấn át của một nước lớn là chúng ta phải trở thành một quốc gia phát triển.”

Vậy điều gì cản ngại việc thực hiện dân chủ? Ông Đặng Quốc Bảo cho rằng không phải vì thiếu kiến thức mà vì vấn đề “tế nhị” và “nhạy cảm “. Ông Nguyễn Trung cho rằng thách thức lớn nhất của dân chủ hóa là “cám dỗ chính trị rất lớn của quyền lực và lợi ích cá nhân, lịch sử hiếm hoi ghi lại được các chiến công đánh bại cám dỗ này”!

Như vậy thách thức khó vượt qua không phải vì lực lượng thù địch nào cả mà là “quyền lực và lợi ích cá nhân, phe nhóm. Trước hết tôi muốn nhắc không phải ý kiến của một nhà cách mạng mà là một chính trị gia phương Tây, J.F. Kennedy, khi ông trình bày cương lĩnh mới cho Hoa Kỳ hồi năm 1960: “Đất nước chúng ta phải lựa chọn, đây không phải lựa chọn giữa hai con người hay hai Đảng phái, mà là sự lựa chon giữa quyền lợi chung và tiện ích riêng, giữa sự dấn thân kiên quyết và sự tầm thường thấp kém”.

Chẳng lẽ, những cháu con Hồ Chí Minh lại không đủ dũng khí để “dấn thân kiên quyết” vì quyền lợi chung của nhân dân và Tổ quốc? Một lần nữa xin lại viện dẫn Hồ Chí Minh để bồi đắp thêm ý chí và trí tuệ đủ sức thúc ngựa dân chủ phi nhanh khắc phục ngay những khiếm quyết đã nhìn thấy và kể ở phần trên.

1. Hồ Chí Minh cho rằng dân tộc đã sinh ra Đảng, cho nên Đảng phải đặt dân tộc, Tổ quốc lên trên: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (TT, ST, 1984, trang 463). “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo là người đày tớ thật trung thành của nhân đân” (TT, ST,1989,T.10,trang 835).

2. Nhân dân là người thầy lớn có trí tuệ siêu việt, cho nên: “Đảng phải gần dân, hiểu biết dân, học hỏi dân” (TT, ST, T5 trang 420). “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết” (TT, ST, T,4, trang 521). “Có nhiều việc những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra, nhưng quần chúng biết cách giải quyết rất dễ dàng”. “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ, tổ chức của ta”. (TT, ST, T.5, trang 298).

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ các nội dung của dân chủ, lại chỉ rõ phải dựa vào dân để thực hiện. Trung thành vô hạn với tư tưởng của người, nhất định Đảng cộng sản Việt Nam sẽ ghi vào lịch sử một trường hợp hiếm hoi chiến thắng “cám dỗ chính trị rất lớn của quyền lực và lợi ích cá nhân” để đưa sự nghiệp dân chủ hóa đất nước tới đích, như đã từng chiến thắng những thế lực đế quốc to nhất của thời đại.

Tống Văn Công

Bài tác giả gửi cho viet-studies ngày 17-5-2010

Những bài khác của Tống Văn Công (Thiện Ý):

Đổi mới Đảng, tránh nguy cơ sụp đổ! (9/2009)

Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải (6/2009)
http://www.viet-studies.info/kinhte/TongVanCong_HoChiMinh.htm

http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_HoChiMinh.htm

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. kính gởi các vị trí thức VN thân mến !
    Cái mà các vị biết là do những nhóm phản động tuyên truyền dựng lên nhằm chia rẻ khối đại đoàn kết dân tộc , chia rẻ tình hữu nghị cao quí giữa hai nhà nước VN và TQ mà các thế hệ lãnh đạo tiền bối đã cố công xây dựng lên.Chúng ta là một công dân sống trong chế độ XHCN phải biết ơn Đáng, Đảng đã tài tình lãnh đạo ND ta vượt qua bao khó khăn đánh đuổi bao kẻ thù để có được như ngày hôm nay. TQ là một người bạn tốt của dân tộc ta, ND ta và nhất là các vị trí thức phải tin tưởng vào tình hữu nghị này. Các vị hãy tin tưởng vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đừng nghe những luận điệu tuyên tuyền phản động của các thế lực thù địch, chúng đang âm mưu diễn biến hòa bình, kích động ND chống Đảng … Trong tình hình hiện nay, Đảng CS phải là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước đưa dân tộc ta tiến lên CNXH cùng Người bạn tốt T Hoa là đều hợp lý nhất, rồi đây các vị sẻ thấy VN ta dưới sự lãnh đạo của Đảng sẻ sánh vai cùng với các cường quốc khác trên TG, cả TG sẻ ngưỡng mộ Đảng CSVN như một ánh hào quan chói lọi, chủ tịch HỒ CHÍ MINH như là một vị thánh để cho cả TG phải tôn thờ …..
    Chúc các vị sáng suốt đánh giá đúng tài năng lãnh đao của Đảng để đặt trọn niềm tin.

    Bình luận bởi công lý — 21/05/2010 @ 5:38 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: