Hoàngquang’s Blog

28/04/2010

Châu Á: Chiều dọc gắn với biển, chiều ngang gắn với đất liền

Filed under: Thế giới — hoangquang @ 4:27 chiều
Tags:

American Interest
Quốc Thái dịch từ tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010

24/04/2010

Gần đây, ngày càng nhiều người nói rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của châu Á, với việc quyền lực tất yếu chuyển từ phương Tây sang thực thể rộng lớn, và đối với nhiều người phương Tây vẫn còn mơ hồ, mang tên châu Á.

Nếu đúng như vậy, và có nhiều cơ sở để tin vào điều này, thì chúng ta cần làm rõ “châu Á” thực sự là gì. Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết 2 kỳ về vấn đề này trên tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010.

Châu Á theo chiều dọc và gắn với biển

Ngôn ngữ địa lý không thay đổi các đường ranh giới trên bản đồ, nhưng nó đã làm thay đổi các khái niệm và từ đó thay đổi cách ứng xử. Nghĩa của từ “châu Á” đã thay đổi cùng với các bối cảnh lịch sử và các tình huống của nó. Trong thời hoàng kim của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, “châu Á” bao gồm toàn bộ khu vực từ kênh Suez đến Thượng Hải, với hàm ý là những phần lãnh thổ sẵn sàng cho hải quân phương Tây và các chuyến tàu thương mại sử dụng. Nhưng đến nửa sau thế kỷ 20, một loạt các sự kiện – chiến tranh ở Thái Bình Dương, sự nổi lên của Cộng sản ở Trung Quốc, Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, sự nổi lên của nền kinh tế Nhật Bản và các con Hổ châu Á (Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore) – tất cả đã thay đổi cái mà người ta gọi là “châu Á” trước đó và nhấn mạnh đến tầm quan trọng ngày càng lớn hơn của châu lục này.

Vì nhiều mục đích, “châu Á” khi đó có nghĩa là khu vực ven biển và hải đảo kéo dài từ CHDCND Triều Tiên đến Indonesia. Việc tương tác chiến lược quan trọng của phương Tây với châu lục này chủ yếu thông qua sức mạnh hải quân Mỹ đã củng cố khái niệm theo chiều thẳng đứng và gắn với biển này về châu Á. Các nỗ lực hội nhập khu vực cuối thế kỷ 20 là một minh chứng. Khái niệm mang tính địa chiến lược về một “châu Á – Thái Bình Dương” đã để lại một số “di sản”: cơ chế ưu việt về kinh tế và chính trị của châu Á, APEC, bao gồm cả Chile nhưng không có Ấn Độ, cả Mexico nhưng không có Mông Cổ.

Ý tưởng về châu Á theo chiều dọc đến nay đã cho thấy những lợi ích của nó, song thay vì làm sáng tỏ hơn khái niệm về châu Á, nó lại khiến khái niệm này trở nên mù mờ hơn. Robert D.Kaplan thấy sự trở lại của một ý tưởng châu Á là “một châu lục được định dạng trong một tổng thể hữu cơ”, nhấn mạnh đến sự liên kết Đông – Tây của nó. Chuyên gia bình luận chiến lược hàng đầu của Ấn Độ, ông C. Raja Mohan, cũng nhắc tới một chính sách đối ngoại của Ấn Độ theo đó, nhìn châu Á trong khái niệm một châu lục tổng thể.

Dù các ý tưởng này cũng được chấp nhận rộng rãi, nhưng nó cũng chỉ có một nửa sự thật. Có thể cách hiểu phổ rộng nhất về chủ đề tái định hướng chiến lược của châu Á là tập trung vào Ấn Độ Dương. Kaplan gợi ra một sự cạnh tranh ở đây giữa các hạm đội hải quân của hai cường quốc mới nổi ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ. James Holmes và Toshi Yoshihara lập luận rằng sức mạnh hải quân ngày càng lớn của Trung Quốc báo trước rằng lời tiên đoán nổi tiếng về “chuỗi ngọc” đang thúc đẩy Trung Quốc tạo ra một chiếc vòng ngọc tại Ấn Độ Dương.

Châu Á theo chiều ngang và gắn với đất liền

Nhưng cách hiểu tập trung vào sức mạnh hải quân như vậy đã bỏ qua ý nghĩa ngày càng lớn về lãnh thổ châu Á rộng lớn. Nếu sự “qua mặt” Mỹ của Nhật Bản và các con Hổ châu Á, cũng như của tất cả các quốc gia duyên hải và hải đảo, đã khẳng định cách nhận dạng theo chiều dọc và duyên hải về châu Á, thì sự nổi lên của các nước lớn trong đất liền – Trung Quốc và Ấn Độ – cũng như vị trí và quyền lực của Nga, chắc chắn đang định dạng lại châu Á theo chiều ngang và mang tính lục địa hơn. Điều này sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với phương Tây. Tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ và Nga sẽ ngày càng lớn ở vùng Vịnh và Trung Á; và phần châu Á – biển nhỏ bé hiển nhiên sẽ để cho sức mạnh hải quân phương Tây bảo vệ.

Điều này khiến chúng ta thấy cần phải đọc thêm một chút Mahan và một chút Mackinder khi tiếp tục nghiên cứu trong nửa thế kỷ tới và lâu hơn nữa. Thách thức về khái niệm đối với phương Tây là phải xác định “châu Á” vượt ra ngoài những vùng duyên hải, các đảo và quần đảo quen thuộc, để nhìn thấy toàn bộ châu lục này trong một tổng thể của nó. Để làm vậy, chúng ta phải nắm được các xu hướng kinh tế, năng lượng và hạ tầng liên quan đang nổi lên trước mắt chúng ta.

Thương mại, năng lượng và hạ tầng cơ sở

Trong một phần lớn thế kỷ 20, các trao đổi kinh tế, hay nói đúng hơn là việc thiếu các trao đổi này, đã làm châu Á bị tách biệt khỏi thế giới. Liên Xô, Ấn Độ và Trung Quốc đã tỏ ra ít quan tâm tới thương mại quốc tế. Cuối những năm 1990, trao đổi thương mại chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc là không đáng kể, chỉ đạt 190 triệu USD. Vào năm 1978, Trung Quốc, với dân số chiếm 22,4% dân số thế giới, chỉ chiếm 0,8% xuất khẩu của thế giới (hiện giờ các con số này lần lượt là 19,7% và 9%). Từ đầu những năm 1990 trở về trước, lượng hàng hóa khổng lồ của thương mại viễn Đông của Nga vẫn chỉ được trao đổi trong biên giới nước này. Nhìn chung, cả ba nước này có đủ các nguồn lực cần thiết để đáp ứng các nền kinh tế kế hoạch hóa của mình. Hậu quả là làm tê liệt mọi hoạt động hội nhập kinh tế xuyên châu lục.

Tất cả những điều đó đã thay đổi khi châu Á trở lại gốc rễ địa chiến lược của mình bằng các mạng lưới kinh tế. Các quyết định của Bắc Kinh (trong những năm 1970) và New Delhi (những năm 1990), nhằm cắt đứt với chủ chương tự cấp tự túc của Mao Trạch Đông và Nehruv, đã giải phóng các lực lượng thị trường bị gông cùm từ lâu ở châu Á. Theo các con số thống kê của Trung Quốc, nước này hiện giờ là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, với kim ngạch trao đổi song phương đạt 51,8 tỷ USD năm 2008. Con số này nhiều hơn 30% so với năm 2007, và hơn 40% so với trao đổi giữa Ấn Độ với đối tác thương mại lớn thứ hai là Mỹ.

Quy mô của sự thay đổi này đã vượt ra khỏi câu chuyện giữa Trung Quốc – Ấn Độ. Theo các số liệu của IMF, trong những năm 1990 – 2006, trao đổi nội khu vực bao gồm “châu Á mới nổi” đã tăng gấp 5 lần; trong cùng thời kỳ, trao đổi giữa các nước châu Á với nhau tăng 8,5%. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa phản ánh toàn bộ thực tế, bởi IMF không tính Nga, Trung Á hay các nước vùng Vịnh vào thương mại nội châu Á. Từ năm 1992 – 2007, xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc tăng 6 lần và nhập khẩu tăng 15 lần.

Cùng thời gian này, nhập khẩu hằng năm của Trung Quốc từ các nước Trung Á đã tăng từ một con số rất nhỏ là 160 triệu USD lên tới gần 7 tỷ. Từ năm 1990 – 2007, nhập khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ từ các nước vùng Vịnh tăng lần lượt từ 500 triệu USD và 4 tỷ USD lên tới 44 tỷ và 13 tỷ USD. Trong khi đó, xuất khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ sang vùng Vịnh tăng từ khoảng 1 tỷ mỗi nước lên tới 35 tỷ (Trung Quốc) và 20 tỷ (Ấn Độ). Trung Quốc hiện là nhà xuất khẩu đơn lẻ lớn nhất ở Trung Đông.

Các con số trao đổi song phương cũng có ý nghĩa. Israel là nguồn cung cấp vũ khí từ bên ngoài lớn thứ ba cho Ấn Độ (và quan trọng nhất về mặt công nghệ), còn Arập Xêút trở thành nhà cung cấp dầu thô lớn nhất và thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Ấn Độ. Năm 2009, khoảng 62 công ty xây dựng của Trung Quốc làm việc tại vương quốc vùng Vịnh này, sử dụng hơn 16.000 nhân công Trung Quốc, trong khi công ty dầu khí quốc gia Arập Xêút ARAMCO, cùng Exxon Mobil và Sinopec đã hoàn thành dự án lọc dầu trị giá 5 tỷ USD ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Năm 1990, bốn trong năm thị trường xuất khẩu lớn nhất của Iran là các nước châu Âu, nhưng đến năm 2008, bốn trong số này là các nước châu Á.

Năng lượng là một nhân tố chìa khóa thắt chặt các quan hệ kinh tế ở châu Á. Trung Quốc và Ấn Độ đã cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ của vùng Vịnh, nơi hiện cung cấp 70 – 80% nhu cầu nhập khẩu của châu Á. Các nguồn năng lượng ở Trung Á và vùng viễn Đông Nga cũng trở thành các yếu tố ngày càng quan trọng trong mạng lưới năng lượng xuyên châu lục. Đặc biệt, Nga đang hướng tới các khu vực chưa phát huy được tiềm năng này ở Siberia để duy trì gia tăng thu ngân sách nhờ năng lượng trong tương lai.

Sự bấp bênh về năng lượng và tài nguyên đã trở thành nguồn cơn gây ra cạnh tranh quyền lực ở châu Á. Đặc biệt, ngoại giao năng lượng tích cực của Trung Quốc đã khiến các cường quốc châu Á khác noi gương. Chiến lược năng lượng quốc gia năm 2006 của Nhật Bản đặt mục tiêu đến năm 2030, 40% lượng dầu nhập khẩu phải do các công ty của Nhật Bản tiến hành khai thác. (Hiện, nguồn cung dầu do các công ty của Nhật Bản khai thác ở nước ngoài, gọi là “Hinomaru”, đã đáp ứng khoảng 15% nhu cầu về dầu trong nước). Vì vậy, Tokyo đã phát động các sáng kiến ngoại giao năng lượng mới như “đối thoại Trung Á cộng Nhật Bản”. Nga rất hài lòng khi cả Trung Quốc và Ấn Độ tìm cách tiếp cận với các nguồn cung cấp năng lượng của mình.

Các xu hướng năng lượng này cũng đã kéo theo những căng thẳng trong quan hệ giữa Nhật Bản với Mỹ. Nhật Bản từ lâu dựa vào sức mạnh của Mỹ để đảm bảo an ninh cho các nguồn cung dầu mỏ của mình, cộng với các khoản viện trợ hào phóng của họ cho Trung Đông. Nhưng quan hệ đồng minh Tokyo – Washington đứng trước nguy cơ khi Nhật Bản nỗ lực giành quyền khai thác các mỏ dầu ở miền Nam Azadegan của Iran, một dự án có thể tăng nguồn cung Hinomaru lên 60%. Sợ Mỹ phật ý, Nhật đã rút chân, và Iran hoãn dự án này, để cho Trung Quốc, Nga và Ấn Độ tranh quyền khai thác. Trung Quốc đã thắng. Thương vụ Azadegan là một góc nhỏ của một hiện tượng lớn hơn: năm 1990, Nhật Bản là nước châu Á duy nhất trong số 5 thị trường xuất khẩu của Iran, nhưng đến năm 2008, bên cạnh đất nước Mặt trời mọc còn có Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc nằm trong tốp 5 này.

Sự cạnh tranh giữa các cường quốc châu Á về năng lượng và nguồn tài nguyên thiên nhiên không chỉ diễn ra ở Tây Á. Còn có một cuộc cạnh tranh khác ở vùng biển của châu lục này. Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh hải quân và tìm cách tiếp cận với các hạ tầng cảng biển ở Ấn Độ Dương nhằm bù lại tính dễ bị tổn thương của các tuyến đường vận chuyển hàng hóa của mình trên biển từ vùng Vịnh Persic. Điều này gây ra tình trạng bất an toàn nhưng cũng tạo ra các dạng hợp tác an ninh mới ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Ấn Độ gần đây đã thay thế Trung Quốc trở thành nước nhận viện trợ nhiều nhất của Nhật Bản, đồng thời là nước thứ hai (sau Australia) ký tuyên bố chung về hợp tác an ninh với Nhật Bản. Chính phủ mới ở Nhật dường như, nếu không có gì thay đổi, đang thúc đẩy mục tiêu hướng tới một chính sách ngoại giao và an ninh độc lập. Ít khả năng một chính phủ Nhật Bản như hiện nay sẽ hoãn thương vụ mỏ dầu ở Azadegan chỉ vì Mỹ, như chính phủ tiền nhiệm từng làm.

Các quan hệ kinh tế và năng lượng ngày càng thắt chặt ở châu Á đang bị tác động và được củng cố trong một mạng lưới ngày càng mở rộng gồm đường sắt, đường bộ và các loại đường ống dẫn – được gọi là cơ sở hạ tầng vật chất của châu Á theo chiều ngang. 7.000 km đường ống dẫn nối các mỏ khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn của Turkmenistan tới Trung Quốc qua Kazakhstan và Uzbekistan đã được khai trương vào tháng 12/2009. Công ty Daewoo quốc tế của Hàn Quốc đứng đầu một siêu tập đoàn liên danh với các tập đoàn của Ấn Độ và Myanmar xây dựng một dự án LNG trị giá 5,6 tỷ USD và đường ống này sẽ cung cấp gần 600 triệu mét khối khí mỗi ngày từ miền Tây Myanmar tới miền Tây Trung Quốc vào năm 2013. Hồi tháng 2/2009, Nga và Trung Quốc đã nhất trí đầu tư 25 tỷ USD trong hai năm cho một đường ống dẫn dầu từ Nga sang Trung Quốc.

Các đường ống từ vùng Vịnh tới các nhà tiêu dùng năng lượng của châu Á cũng sắp hoàn thành. Đường ống dẫn khí đốt Iran – Pakistan – Ấn Độ được bàn thảo từ lâu nay có thể không bao giờ được xây dựng, nhưng đoạn từ Iran tới Pakistan đang được xây dựng, tạo ra một điểm khởi đầu, cho một phần đuôi có thể ở Trung Quốc thay vì ở Ấn Độ. Sự do dự của Trung Quốc trong việc tài trợ cho một đường ống đi qua tỉnh Baluchistan bất ổn của Pakistan đến cảng Gwadar trong năm 2009 có thể sẽ không kéo dài, tạo cơ hội để dự án này rút ngắn đáng kể chiều dài so với các đường ống qua biển của Trung Quốc nối từ Vịnh Persic.

Tác động của mạng lưới đường xá và đường ống nước trong đất liền có thể còn lớn hơn cả các đường ống. Năm 2006, thực hiện một tham vọng suốt nhiều thế kỷ qua, Trung Quốc đã hoàn thành tuyến đường sắt tới Lhasa ở Tây Tạng. Như một phần kế hoạch biến Tây Tạng thành một trung tâm thương mại Trung Quốc – Nam Á, Bắc Kinh đang tìm cách mở rộng mạng lưới tới Ấn Độ, Nepal, Bhutan và Bangladesh. Năm 2002, các kỹ sư dân sự đã nối mạng lưới đường ở Myamar tới một khu phức hợp cao tốc chính ở Trung Quốc, mạng lưới này nối trực tiếp thành phố Thượng Hải bằng đường bộ với Irrawaddy Delta của Myanmar. Nhiều kế hoạch cũng đang được thực thi nhằm nối đường cao tốc này với một cảng nước sâu mới ở Ấn Độ Dương do Trung Quốc tài trợ tại Kyaukpyu của Myanmar.

Trong khi đó, Ấn Độ đang tiến hành nhiều dự án đường cao tốc ở tỉnh biên giới Sikkim của mình như cách để giúp tỉnh nghèo khó này “bật lên”. Ấn Độ mới đây đã hoàn thành một dự án đường bộ lớn ở Afghanistan nối phần miền Nam nước này với cảng chủ chốt của Iran tại Chabahar. Con đường này, cộng với các mạng lưới đường xá ngày càng dày đặc nối Ấn Độ với Myanmar, đang dần trở thành huyết mạch giao thông quan trọng trong đất liền dẫn vào trong lòng Đông Nam Á.

Còn tiếp
Quốc Thái dịch từ tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-24-uy-luc-dia-chinh-tri-cua-chau-a

Uy lực địa chính trị của châu Á
Tác giả: American Interest
Quốc Thái dịch từ tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010.
Bài đã được xuất bản.: 25/04/2010 06:00 GMT+7

Một châu Á theo chiều ngang phản ánh không chỉ các mối liên kết tự nhiên trong lục địa giữa các nước châu Á, mà còn cho thấy các mối liên kết kinh tế và chính trị.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu phần 2 bài viết bàn về quyền lực của châu Á trong thế kỷ 21. Bài viết đã được đăng trên tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010.

Trên lục địa

Các mạng lưới kết nối thương mại, năng lượng và cơ sở hạ tầng vừa kể trên đã cho thấy rõ các thị trường châu Á, và đặc biệt là các nguồn năng lượng quan trọng của các thị trường này, đang ngày càng được tìm thấy ở bên trong lục địa, hơn là ở ngoài khơi. Các thị trường này phản ánh các lợi ích sống còn của các siêu cường châu Á – các nước ở trung tâm chuỗi kết nối này – sẽ tiếp tục gắn bó nhiều đến mức nào với đất liền dù họ phát triển trên biển.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc chúng ta phải bỏ qua sức mạnh và các lợi ích ngày càng lớn của Trung Quốc và Ấn Độ ở ngoài khơi, hay quên cường quốc hải quân Nga. Các chiến lược gia Ấn Độ đã không nhầm khi lo lắng về kịch bản đối đầu hải quân Trung – Ấn và chiến lược “chuỗi ngọc” giả định của Trung Quốc. Các chuyên gia phân tích chiến lược của Mỹ cũng không nhầm khi ghi nhận rằng các tuyến giao thông dài trên biển của Trung Quốc, đặc biệt để phục vụ nhập khẩu năng lượng, đang ngày càng dễ bị tổn thương, và trở thành một cái cớ để nước này tăng cường sức mạnh hải quân. Nhưng như đã nói ở trên, đây chỉ là một nửa câu chuyện, và dường như nửa sau còn quan trọng hơn.

Hải quân Trung Quốc trong một thời gian nào đó sẽ chưa được trang bị hoặc huấn luyện tốt cho các chiến dịch ngoài khơi. Các hàng không mẫu hạm được lên kế hoạch từ lâu của Trung Quốc có thể sẽ ra đời, nhưng việc hiện đại hóa hải quân của họ vẫn thiên về mục đích giữ cho các hàng không mẫu hạm của Mỹ tránh xa Đài Loan và bờ biển phía Đông của họ. Và trong khi vai trò của Trung Quốc trong việc giúp đỡ Pakistan phát triển cảng biển Gwadar được gọi là “viên ngọc” lớn nhất trong các kế hoạch Ấn Độ Dương của nước này, thì nó cũng được xem dưới một góc độ khác. Ý nghĩa hơn một cảng biển và các ứng dụng hàng hải chiến lược là hệ thống đường sắt, đường bộ và ống dẫn mà Trung Quốc đang lên kế hoạch sử dụng để nối Gwadar với miền Đông nước này.

Trung Quốc cũng tài trợ một đường sắt từ Gwadar tới Dalbadin ở trung tâm Pakistan, đường này sẽ nối với các tuyến đường đã có dẫn tới Iran. Sự kết nối trong lục địa này sẽ có thể giúp Trung Quốc ít phải dựa vào các cảng biển và các điểm kiểm soát trên Thái Bình Dương, thậm chí mạng lưới này mở ra nhiều lợi ích mới, cũng như kéo theo các quan hệ đồng minh và cả đối thủ mới trong đất liền.

Điều này đang diễn ra trên thực tế: các hạm đội của Trung Quốc và Ấn Độ có thể một ngày nào đó chĩa súng vào nhau ở Ấn Độ Dương, nhưng New Delhi và Bắc Kinh đã lao vào một cuộc cạnh tranh còn gay gắt hơn trên đất liền, đặc biệt là tranh giành ảnh hưởng tại các nước yếu hơn ở châu Á. Tại Myanmar chẳng hạn, Trung Quốc và Ấn Độ đang chi cả núi tiền để phát triển các tuyến đường thương mại và khai thác nguyên liệu đầu vào. Tại Afghanistan, Ấn Độ đã đầu tư rất nhiều vào cơ sở hạ tầng trong khi Trung Quốc trở thành nhà đầu tư nước ngoài đơn lẻ lớn nhất (trong việc khai thác mỏ, tất nhiên). Trong khi đó, điều mà một số người gọi là sự xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Nga có thể chỉ là để thêm vào chút chân thành cho cuộc cạnh tranh tất yếu của họ ở Siberia và Trung Á, nhất là khi người Nga lo sợ trước các xu hướng dân số ngày càng bất cân bằng Nga và Trung Quốc ở Siberia.

Thực vậy, chính trên đất liền là nơi sự ổn định, toàn vẹn lãnh thổ và các tham vọng của Trung Quốc, Ấn Độ và Nga trong vai trò là các cường quốc khu vực, được thể hiện rõ nhất. Từ Đại chiến thế giới II, cả ba nước đã chứng kiến các cuộc xung đột biên giới quy mô lớn với một trong hai nước còn lại ở các khu vực hiểm yếu của các quốc gia rộng lớn này (ví dụ, Trung Quốc và Ấn Độ tại dãy Himalayas, và Trung Quốc với Nga ở Amur). Đối với Bắc Kinh, phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng ở miền Tây Trung Quốc, khu vực chiếm hơn một nửa diện tích đất liền của nước này, có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo rằng các vùng nội địa sâu hơn không bị bỏ rơi đằng sau vùng duyên hải năng động về kinh tế của mình.

Ấn Độ cũng đối mặt với một thách thức mang tính quốc gia tương tự, trong khi phải đối phó với phong trào ly khai ở vùng Đông Bắc, họ còn phải đương đầu với Pakistan ở Tây Bắc. Đối với Nga, việc tiếp cận với các nguồn tài nguyên ở Siberia và Trung Á là rất quan trọng để duy trì vị thế siêu cường năng lượng của mình, nhất là khi họ không còn là siêu cường quân sự nữa. Vì tất cả các lý do này, trọng tâm chiến lược của châu Á đang chuyển vào lục địa, điều có ý nghĩa lớn với các quốc gia biển ở Đông Nam Á và nhiều nước khác nữa.

Tại các quốc gia biển Đông Nam Á, người ta lo ngại sự nổi lên về kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ (và cả Việt Nam) đang gạt họ ra ngoài lề về mặt kinh tế và chiến lược. Đáp lại, các quốc gia biển Đông Nam Á đang cùng lúc củng cố các quan hệ chiến lược và kinh tế với Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc và cả với các quốc gia vùng Vịnh. Vốn ban đầu khác nhau, song các chiến lược ngoại giao cơ bản của Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines giờ đã tương đối giống nhau.

Khác với các nước Đông Nam Á, Nhật Bản, trong vai trò là một cường quốc quân sự và kinh tế số một của châu Á – biển, dường như đang bị gạt ra ngoài lề, buộc họ phải có biện pháp đáp lại những thay đổi nền tảng chiến lược của châu Á. Hơn bất cứ quốc gia nào, Nhật Bản vừa tìm cách thắt chặt hơn nữa quan hệ với Trung Quốc và với cả các nước khác nhằm chống lại sự nổi lên của Trung Quốc. Đặc biệt, sự tăng trưởng nhanh chóng của các quan hệ chiến lược Nhật Bản – Ấn Độ là bằng chứng rõ nét cho thấy mối lo Trung Quốc đang khiến Nhật Bản tìm các đối tác chiến lược mới xuyên Á, chứ không phải là xuyên Thái Bình Dương. Cùng với thời gian, điều này có thể đẩy cuộc tranh cãi suốt một thế kỷ qua ở Nhật Bản về các bản sắc phương Tây và Á châu của họ theo hướng gắn bó với châu Á hơn.

Một thách thức đối với phương Tây

Nếu các hàm ý của khái niệm một châu Á theo chiều ngang có ý nghĩa với Đông Á, thì các hàm ý này còn có ý nghĩa lớn hơn đối với phương Tây. Nếu chúng ta hiểu rằng kỷ nguyên châu Á nhiều khả năng là một châu lục theo chiều ngang hơn là một châu lục theo chiều dọc gắn với yếu tố biển, thì sức mạnh hải quân phương Tây, vốn vẫn rất mạnh, có thể trở thành một “phế phẩm”. Ưu thế về hải quân sẽ chỉ khiến phương Tây có ít lực đẩy hơn tại châu lục này so với họ nghĩ, ngay cả khi nó đáp ứng được các thách thức mới trên biển.

Điều này là dễ thấy khi ta nhìn vào vai trò của năng lượng trong quá trình định hình một châu Á theo chiều ngang. Không có một sự sắp xếp lớn nào đằng sau các liên kết hữu cơ ngày càng gia tăng giữa các nước cung cấp và tiêu thụ năng lượng ở châu Á, nhưng nó lại đang diễn ra để ngăn chặn cả nhu cầu năng lượng cũng như tầm ảnh hưởng chiến lược của phương Tây.

Khả năng của Ấn Độ và Trung Quốc trong việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu năng lượng của mình thông qua các đường ống trong đất liền, đặc biệt từ Nga và Trung Á, và có thể từ vùng Vịnh Persic, có thể tạo làm ảnh hưởng tới khả năng các nhà tiêu dùng phương Tây tiếp cận với các nguồn tài nguyên này và tầm quan trọng của lực lượng hải quân phương Tây trong việc bảo vệ họ. Và ngay cả ở nơi mà sức mạnh hải quân phương Tây vẫn còn rất quan trọng (như trong việc bảo vệ các tuyến đường biển từ Vịnh Persic tới châu Á), tính hiệu quả của lực lượng này cũng đang bị giảm bớt.

Một châu Á theo chiều ngang phản ánh không chỉ các mối liên kết tự nhiên trong lục địa giữa các nước châu Á, mà còn cho thấy các mối liên kết kinh tế và chính trị. Trong quá khứ, các nhà cung cấp năng lượng đã rất hài lòng trước khả năng phương Tây bảo vệ lĩnh vực xuất khẩu vũ khí chủ lực của mình, nhưng các nhà cung cấp này cũng mong muốn các thị trường ổn định và giá cao. Lần đầu tiên, các thị trường tăng trưởng nhanh nhất của họ giờ lại là ở trên chính lục địa của mình, tạo điều kiện cho việc cung cấp dễ dàng hơn khi các đường ống được xây dựng theo kế hoạch.

Chính trị có ảnh hưởng đặc biệt. Đối với các nhà sản xuất ở vùng Vịnh, các nhà tiêu thụ năng lượng của châu Á ít đòi hỏi về chính trị hơn là các đối tác của họ ở phương Tây. Đối với Iran, việc chuyển từ các thị trường châu Âu sang châu Á tức là thay thế sự cao ngạo của phương Tây bằng quan điểm thiết thực của châu Á. Ngay cả với một nước thân phương Tây như Arập Xêút, việc mở rộng các mối quan hệ về kinh tế, chính trị và quân sự với Ấn Độ, Trung Quốc (những nước mà họ có thể một lần nữa mua các tên lửa đạn đạo tầm trung), và Nga nữa, là những hàng rào rõ rệt chống lại sự phụ thuộc vào Mỹ, đặc biệt khi Hoàng gia Arập Xêút bắt đầu cho rằng Mỹ vừa quá khinh suất vừa quá e dè trong cách sử dụng quyền lực để bảo vệ họ.

Đây chính là nơi mà yếu tố địa chính trị và vấn đề tế nhị về danh tiếng địa chính trị gặp nhau. Vị trí gần kề và tính bền vững của các cường quốc châu Á tạo ra đối trọng, những cam kết và lợi ích lâu dài hơn đến nỗi mà, ở Trung Á và vùng Caucasus chẳng hạn, cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc hầu như loại trừ phương Tây. Nga đòi cái mà họ xem là quyền tự nhiên và mang tính lịch sử của mình, ý nói mọi thứ từ sự đảm bảo an toàn nguồn cung khí đốt cho châu Âu tới tương lai của các căn cứ Mỹ tại khu vực. Trong một nỗ lực nhằm chống lại gọng kìm ngạt thở này, các quốc gia châu Á đang không hướng về phương Tây mà quay ra phía Trung Quốc, bằng chứng là việc thành lập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Thực vậy, việc Mỹ không sẵn lòng cung cấp cho Gruzia vũ khí và việc NATO “đứng ngoài” cuộc chiến Nga – Gruzia mùa Hè năm 2008 được khu vực này coi là bằng chứng cho thấy sự không đáng tin cậy của phương Tây.

Sự bất lực của Washington trong việc ngăn cản Iran làm giàu urani cũng vậy. Các nước trong khu vực thấy đây là một kết quả trực tiếp của các lợi ích ngày càng lớn dần về thương mại và năng lượng của Nga và Trung Quốc tại Iran – những lợi ích đã được tạo điều kiện bởi sự ghẻ lạnh về kinh tế và chính trị của Washington đối với Tehran suốt ba thập kỷ qua. Thực vậy, hầu hết các quan sát viên trong khu vực hiểu rằng tuyên bố của Moscow và Bắc Kinh phản đối cái mà Mỹ gọi là nguy cơ một nước Iran có vũ khí hạt nhân chỉ là một cách nói xã giao.

Tại Afghanistan và Pakistan, người dân nghi vấn cam kết lâu dài của Mỹ và các đồng minh vì nhiều lý do, nhất là khi nhìn vào kinh nghiệm và bối cảnh của chính họ. Trong khi mọi hành động của phương Tây chỉ để rút đi, thì Ấn Độ và Trung Quốc đang âm thầm tiếp tục tạo dựng ảnh hưởng của mình tại Afghanistan, và trong trường hợp Trung Quốc là tại cả Pakistan nữa. Họ sẽ được hưởng các lợi ích an ninh nếu các nỗ lực của phương Tây ở đây thành công, trong khi tránh bị dân địa phương phỉ báng nếu các nỗ lực này thất bại.

Afghanistan và Pakistan là những quốc gia mà tầm ảnh hưởng của phương Tây tương đối mạnh; vậy ảnh hưởng của họ có thể yếu ở đâu? Tại Myanmar, các hoạt động hạt nhân có thể có của chính quyền quân sự này đã thêm vào chuỗi lo ngại vốn rất dài của phương Tây về nhân quyền và buôn lậu ma túy. Mỹ đã cố gắng cô lập Myanmar nhưng không thành. Trong khi đó, Trung Quốc và Ấn Độ đang tranh giành ảnh hưởng tại đây. Giữa một bên là các nghị quyết suông của Liên hợp quốc và đôi khi là một vài đột phá về ngoại giao, với bên kia là đầu tư, các phái đoàn thương mại và các dự án lớn về cơ sở hạ tầng, không còn gì phải lăn tăn về việc cái nào sẽ có ảnh hưởng hơn.

Chủ nghĩa khu vực

Một điều đã cảnh báo chúng ta về tầm ảnh hưởng mang tính miễn cưỡng của phương Tây tại châu Á là các thể chế khu vực đang lên của châu lục này. Trong nhiều năm, các thể chế khu vực của “châu Á”, được thúc đẩy bởi Mỹ, Nhật Bản, Indonesia, Singapore và Australia, như ASEAN và APEC, đã ra đời trên cơ sở các trách nhiệm chiến lược trên biển. Khoảng 20 năm sau khi bùng nổ các thể chế khu vực Đông Á và châu Á – Thái Bình Dương, châu Á theo chiều ngang đang chứng kiến một sự đột phá tương tự. Dễ thấy nhất là SCO, thành lập năm 2001 với các thành viên sáng lập gồm Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan và Tajikistan, các quan sát viên gồm Ấn Độ, Pakistan, Iran và Mông Cổ, và các đối tác đối thoại như Sri Lanka và Belarus. Củng cố thêm cho tổ chức này là Đối thoại ba bên thường niên của các Ngoại trưởng Nga, Trung Quốc và Ấn Độ bắt đầu từ năm 2002.

Ngoài ra, có các nhóm ít phát triển hơn, trong đó có Sáng kiến Hợp tác kỹ thuật và công nghệ liên khu vực Vịnh Bengal do Ấn Độ đứng đầu (gồm Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Nepal, Sri Lanka, Myanmar và Thái Lan), Đối thoại châu Á – Trung Đông hai năm một lần do Singapore đứng đầu, mở ra với 49 quốc gia và chính quyền Palestine.

Một vài trong số những tổ chức này đang tỏ ra hiệu quả hơn các thể chế của châu Á hiện hành, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh. Điều thực sự giúp phân biệt chúng là, không giống như kinh nghiệm châu Á – Thái Bình Dương, hầu hết các tổ chức này đều được tổ chức bởi các cường quốc đang nổi của châu Á và đều không có sự tham gia của Mỹ. Ngay cả khi các tổ chức này hiện cùng chung sống vui vẻ với các thể chế có tổ chức vững chãi như APEC, vì chúng cũng phản ánh sự tái định hướng dần dần về địa chiến lược và kinh tế của châu Á, chúng có khả năng làm lu mờ các thể chế đang tồn tại, trừ phi các thể chế này thích nghi với thực tế mới.

Kết luận cuối cùng là chúng nên vẽ cho mình một bản đồ mới trong đầu về châu Á tránh đi lại ‘vết xe đổ’ của quan niệm về châu Á gắn với biển và mở rộng hơn tới một đại dương thứ hai. Chúng ta cần một khái niệm châu Á tổng thể từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, và cả khía cạnh kinh tế và địa chính trị của châu lục này.

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-24-uy-luc-dia-chinh-tri-cua-chau-a

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: