Hoàngquang’s Blog

25/04/2010

“Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”:Sự thức tỉnh muộn màng

Filed under: văn học- nghệ thuật — hoangquang @ 2:52 sáng
Tags:

Phạm Đình Trọng

21/04/2010

Súng AR-15 – Made in USA Súng AK – Made in China

“…Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức…”
Viết về cuộc chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm đòi hỏi phải có cái nhìn công bằng, khách quan, lý trí, thoát khỏi thân phận công cụ tuyên truyền. Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn đã có được cái nhìn đó trong trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”, tập trường ca vừa được Nhà xuất bản Văn Học phát hành cuối năm 2009.

Những năm sáu mươi, bảy mươi thế kỷ hai mươi, hầu hết đàn ông Việt Nam đã trưởng thành đều mặc áo lính của cả hai bên chiến tuyến, đều là lính của hai đội quân đang đối đầu tiêu diệt nhau, lính Quân đội Việt Nam Cộng hòa và lính Quân đội Nhân dân Việt Nam khi còn ở miền Bắc, lính quân giải phóng khi vào chiến đấu ở miền Nam. Không là lính, họ là đồng bào, nhiều người còn là họ hàng, anh em ruột thịt. Nhưng chiến tranh hút họ vào lính, đẩy họ thành kẻ thù đối kháng của nhau:
“Bộ đội nghĩa vụ quân sự
Chọi nhau với lính quân dịch Cộng hòa!”

Bộ đội Quân đội Nhân Dân Việt Nam Lính Quân đội Việt Nam Cộng Hòa

Những học trò vừa tốt nghiệp trung học, những sinh viên đang học dở đại học bị động viên vào lính cầm súng ra trận. Những người lính có chữ đó, nhiều người có năng khiếu văn chương và tâm hồn nhạy cảm đã cầm bút viết về cuộc chiến, viết về thân phận con người, thân phận quê hương đất nước trong chiến tranh và họ đã làm nên đội ngũ nhà văn, nhà thơ quân đội của cuộc chiến tranh đó. Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Văn Lê, Thái Thăng Long, Chu Lai, Thái Bá Lợi, Trần Nhương, Nguyễn Thái Sơn… Họ đều là bầu bạn thân thiết cùng thế hệ với tôi và tôi đã đọc đầy đủ trường ca của họ viết về cuộc chiến tranh mà chúng tôi là người lính ngoài mặt trận. Phải đến trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” thì cuộc chiến tranh vẫn được gọi là chống Mỹ cứu nước mới được nhận ra bản chất thực là cuộc nội chiến tương tàn, là bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam, là sự tái diễn thảm cảnh đau thương người Việt giết người Việt đã từng xảy ra ở thời những vương triều suy vong:
“Lính họ Trịnh Đàng Ngoài
Đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong
Lính Tây Sơn Nguyễn Huệ
Chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long”.

Thời công nghiệp, điện tử, chiến tranh không còn chỉ là động tác của cơ bắp chém, đánh như thời Trịnh, Nguyễn, thời Tây Sơn nữa mà là ấn nút, nhấn cò, động tác nhẹ nhàng cuối cùng sau chuỗi những thu nạp dữ liệu, phân tích, tính toán điện tử:
Lọat hỏa tiễn rời bệ phóng
Nổ tung trong căn hầm bên trại giặc chen chúc người”.

… ấn nút, nhấn cò, động tác nhẹ nhàng và… hủy diệt, chết chóc của động tác nhẹ nhàng ấy


Hiệu quả hủy diệt, chết chóc của động tác nhẹ nhàng ấn nút ấy không còn tính bằng hàng đơn vị mà phải tính bằng hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn nhân mạng:
“Người Việt miền Bắc
Người Việt miền Nam
Mỗi ngày
Bao nhiêu bom đạn
Mấy ngàn người chết!”

Trước đó, trường ca viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo… chỉ mới soi rọi vào góc khuất trong đời sống tâm hồn tình cảm của người lính, người mẹ, người vợ, mới khám phá những hoàn cảnh nghiệt ngã, những tâm thế chênh vênh của con người cá thể trong xoáy lốc chiến tranh:
Vắng anh, chị bị thừa ra
Trong giỗ tết họ hàng nội ngoại
(Hữu Thỉnh – Trường ca “Đường tới thành phố”)
Thử thách với người chồng ngoài mặt trận là bom đạn, còn thử thách với người vợ ở quê lại chính là nhan sắc của chị:
“Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì chị còn nhan sắc!”
(Hữu Thỉnh – Trường ca “Đường tới thành phố”)
Trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh mang rõ dấu ấn của ngòi bút tài hoa và bộc lộ tấm lòng hồn hậu nhân văn của người viết và sự hồn hậu nhân văn ấy dành cho những thân phận cá thể. “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” của Nguyễn Thái Sơn là nỗi bận tâm, nỗi đau đáu cho số phận dân tộc bị xô đẩy vào cuộc nội chiến thảm khốc, lâu dài!

Vì mối quan tâm là số phận cả dân tộc, “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” không có nhân vật cụ thể mà chỉ có hai nhân vật ước lệ: Người đàn ông ra trận và người đàn bà ở lại làng quê. Hai nhân vật ấy như hai cá thể ước lệ cho thủy tổ loài người, ông Adam và bà Eva, như hai ông bà ước lệ cho tổ tiên dân tộc Việt Nam, ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ. Những tâm trạng sâu kín, những tình cảnh quẫn bách được nhắc đến trong trường ca là cuộc sống không bình thường, trái tự nhiên mà người đàn ông và đàn bà ước lệ phải chịu đựng do họ phải sống thiếu nhau vì chiến tranh. Người đàn ông ngoài mặt trận không phải chỉ khổ vì nằm gai nếm mật, sốt rét, bom đạn mà còn khổ vì:
“Chúng tôi
Những người lính đàn ông con trai
Mười chín, ba mươi tuổi
… Chúng tôi không e ngại bất kể điều gì
Chỉ khổ vì dư thừa năng lực đàn ông!”

Nỗi khổ của người đàn bà ở làng quê vắng bóng đàn ông càng âm ỉ thiêu đốt:
“Những người đàn bà khao khát tình yêu
Da thịt có gai, có lửa
… Những người đàn bà sung mãn
Đêm uống “nước sông”
Ngày ăn “cơm nhạt”!”

Khao khát mà chỉ có “nước lã”, “cơm nhạt”, chỉ có cuộc sống chay tịnh! Họ phải khỏa lấp sự trống vắng, thiếu thốn, xả nỗi khát khao vào những công việc bất thường, nặng nhọc:
Gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn
Xay vài thúng thóc
Giã nửa nong ngô!”

Bom đạn khốc liệt! Cái chết đến từng phút từng giây:
Không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
Dễ như người lính
Nhanh như người lính
Nhiều như người lính
Đương nhiên, mặc nhiên, tất nhiên, hồn nhiên như người lính!”

chúng tôi. . . tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ

chúng tôi. . . tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ(giày của anh bộ đội QNDVN) chúng tôi. . . ẩn trong giọt sương, tiêu dao trên ngọn sóng! (giày của anh lính VNCH)


Chết chóc như thế nên người đàn ông trở thành hồn ma cũng là lẽ đương nhiên:
“Chúng tôi sống bình thường rồi chết
Chưa xấu cũng chưa kịp tốt
Không thành ma quỉ, chẳng hóa thánh thần
Không phải xuống địa ngục
Không được lên Thiên Đàng
Tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ
Ẩn trong giọt sương, tiêu dao trên ngọn sóng!”

Người đàn bà lấy chồng ở với chồng được hai đêm:
“Mười chín năm con gái
Làm đàn bà hai đêm!”

Người đàn ông thành hồn ma rồi thì người đàn bà đành sống cô quả:
“Có chồng hai đêm
Chị chỉ là người đàn bà tập sự
Mười năm
Mười lăm năm
Hai mươi mốt năm
Vẫn chỉ sống như thời con gái!”

Cuộc nội chiến đau lòng như vậy thì đâu có gì để ồn ào khoe khoang, để lỉnh kỉnh huân chương, xênh xang mũ áo phô trương nhỉ?

Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau. Cái chết đến từ khẩu AR15:

Súng AR-15 – Made in USA Súng AK – Made in China

“Chùm đạn AR15 bắn gần khoan vào trán
Găm giữa ngực
Những người lính đội mũ tai bèo đổ gục!”

Cái chết đến từ khẩu AK:
“Tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi
Hứng trọn những lọat đạn AK vào đầu, vào ngực!”

Người giết và người bị giết đều là người Việt:
“Người Việt thắng trận huy hoàng
Bại trận
Cũng là người Việt!”

Người bị giết dù ở phía nào thì người Mẹ Việt Nam vẫn phải nhận lấy nỗi đau chết chóc:
“Năm Nhâm Tý – bảy hai
Máu binh sĩ Sài Gòn
Máu quân giải phóng
Đỏ sông Thạch Hãn
Ướt sũng gạch vụn Cổ Thành!”

Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức.

“Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” là sự thức tỉnh đó. Sự thức tỉnh cần thiết mà muộn màng!

Phạm Đình Trọng
© Thông Luận 2010

Advertisements

3 phản hồi »

  1. Tôi gởi bài thơ nhặt được ở khu” mả ngụy” Phan Thiết nắm 1995
    Tôi thuông binh Giải Phóng .
    Anh tử sỹ Công Hòa.
    Giờ đây thống nhất nước nhà,
    Gặp nhau ở bãi tha ma.
    Vì sao mà lại ra nông nỗi này?
    Suối vàng anh hỡi có hay ,
    Dương gian tôi sống những ngày khổ đau,
    .
    Chiến tranh ý thức hệ …gì đâu ,
    Chiến tranh chống Mỹ cũng sầu ,cũng bi.
    Anh em ta dại dột nên phải chia ly,
    Kẻ chết ,người phế được gì anh ơi .’
    bài thơ này được để trên mộ người lính Cộng Hòa

    Bình luận bởi Bùi Đức Tuyến — 25/04/2010 @ 11:20 sáng | Phản hồi

  2. nguoi linh vnch phai hy sinh mang song de bao ve tu do dan chu cho mien nam viet nam,trong nam khong co tham vong bac tien.
    nguoi linh bo doi bac viet phai hy sinh than mang cua minh,chi vi tham vong cua gioi lanh dao cong san bac viet,ho da loi dung nhan dan va che day moi y do ma qui,bang nhung cum tu hoa my (DANH MY XAM LUOC VA NGUY QUYEN BAN NUOC)
    ho da loi dung su co mat cua quan doi hoa ky va dong minh o mien nam,gat gam va du khi nhung nguoi mien nam dung len chong chien tranh,va xui duc ho thanh lap luc luong giai phong mien nam,mtgpmn chi la cong cu cua mien bac,nen sau khi cuong chiem mien nam (it nhieu cung nho hoa ky),cong san bac viet nhanh chong khai tu mtgpmn,mat du nhung ke lanh dao luc luong dang con song,khi nhan ra chan tuong that gia cua cong san bac viet,nhung nguoi mien nam (AN COM QUOC GIA MA THO CON MA CONG SAN)te ngua va an han den luc chet con tuc tuoi khong nham mat.(nguyen huu tho,tran van tra,nguyen thi dinh,tran van giau,)la nhung nhan to uu tu cua mat tran giai phong mien nam,da lam duoc gi de co loi cho dan cho nuoc?,trong so ho co nhung ke da chet vi gia yeu,om an han vi dai kho nghe theo loi du khi cua cong san,dien hinh nhu nhung bai viet cua (nguyen ho) noi len su day kho cua ban than,tu ke co cong tro thanh nguoi co toi.da chet am tham trong dau kho.
    tat ca da la qua khu,con hom nay dat nuoc da thong nhat lien mot giai tu bac vao nam ve mat dia ly,con ve mat nhan tam da co thong nhat hay chua?anh pham dinh trong la nguoi tra loi cho ta biet la khong,va con nhieu nguoi nua it nhieu truoc day dieu la nhung nguoi con uu tu cua che do xa hoi chu nghia kinh hoang (chu khong phai la thien duong)neu la xa hoi thien duong thi khong ai day gi ma tu bo,(dung khong thua anh pham dinh trong)
    tai sao ho da hy sinh tuoi tre cho che do cong san?den luc tuoi gia dung ra cac vi phai nghi ngoi cung con chau,ho phai dem cai tuoi gia quang doi con lai,de phan khang lai che do ma ho da tung phuc vu.boi ho da thay duoc cai gia tam cua tu tuong cac mac le nin,no khong day cho con nguoi ta lam nguoi co nhan cach tot,ma no chi day cho con nguoi tro thanh doi tra tham doc.
    de chung xay dung mot xa hoi loai nguoi,chi biet lam no le cho bay vuon thanh nguoi,chung doc tai dang tri xem dong bao dan toc nhu co rac,chung tha ho bot lot va cuop bot,chung xem dat nuoc nhu la trai ngot,chung co quyen hai dem dang cung cho quan thay han cong bac kinh.
    khi tat ca nhung nguoi viet nam con co luong tam voi dan toc dat nuoc,nhan ro chinh ta,truoc nhung noi kho ngheo cung cuc cua dan toc,truoc su an nguy cua to quoc ma bon han cong bac kinh,ngay dem am muu chiem doat co su tiep tay cua cong san vn,thi hom nay chung ta hay gat bo thanh kien quoc gia hay cong san,cung dung len chung suc chung long chong lai moi muu toan ban nuoc
    cua chinh the cong san vn,va be lu cuop nuoc han cong,de xay dung mot nuoc viet tu do dan chu,de nguoi dan viet that su co doc lap tu do am no hanh phuc,do la mot nhiem vu thieng cua moi nguoi con nuoc viet co tam voi dan voi nuoc phai lam,cam on bai viet cua anh pham dinh trong./.

    Bình luận bởi thangkhosaigon — 26/04/2010 @ 10:25 sáng | Phản hồi

  3. Tôi còn nhớ, lịch sử đã ghi lại ngày 2/11/1965, anh Noman Morixơn (Norman Morisson), một chiến sĩ hòa bình của nước Mỹ, đã dũng cảm tự thiêu trước Lầu Năm Góc (Oasinhtơn) để phản đối nhà cầm quyền Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo ở Việt Nam. Sự kiện chính trị xúc động ấy đã khiến Nhà thơ Tố Hữu viết nên bài thơ nổi tiếng “Êmili, con …”, trong đó có đoạn :

    “ Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ
    Nhân danh ai ?
    Bay mang những B.52
    Những napan, hơi độc
    Từ tòa Bạch ốc
    Từ đảo Guyam
    Đến Việt Nam
    Để ám sát hòa bình và tự do dân tộc
    Để đốt những nhà thương, trường học
    Giết những con người chỉ biết yêu thương
    Giết những trẻ em chỉ biết đi trường
    Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá
    Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc họa !”

    “ Emili, con …” – Tố Hữu

    Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên trong thời bình, chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm nhưng nay đọc lại những dòng này – những dòng mà có lẽ chỉ mới miêu tả một phần tội ác của những kẻ đem quân đi xâm lược, những tội ác mà “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội/ Nước Đông Hải không rửa sạch mùi.( Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi ) – bản thân tôi vẫn còn cảm thấy căm phẫn, xót xa. Lòng tự cường dân tộc, tinh thần yêu nước đã khiến những con người bình thường nhất cũng không thể làm ngơ trước vận mệnh dân tộc :
    “…Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ căm tức rằng: chưa xả thịt lột da moi gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng nguyện xin làm …”
    Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn – Hịch Tướng Sỹ

    Nghe rằng: Diệt kẻ thù chung.
    Tấm lòng quân tử hào hùng từ xưa.
    Quân thù xâm lấn cõi bờ
    Thì ta ném bút dựng cờ Cần vương
    Việc làm đạo nghĩa phải đường
    Chung Quân tuổi trẻ vẫn thường xách dây
    Tấm lòng báo quốc khôn khuây
    Qua sông Tổ Địch ra tay bơi chèo.
    (Lam Giang)

    Tôi hiểu rằng, “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” huống gì những người đã học đạo lý thánh hiền há lại cố tình chẳng biết nhiệm vụ của mình đối với tổ quốc hay sao? “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, hơn nữa :
    Trên địa cầu cũng loại người ta,
    Sao người chủ mà ta làm nô lệ?…
    …Xin gác tay trán, đêm nằm hỏi bụng
    Đồng bào hơn hay dị chủng là hơn?
    Sao không nghĩ thấu nguồn cơn…?
    (Nhắn quan lại – Trần Quý Cáp)

    Với khí thế đó, triệu triệu người dân Việt Nam đã ra trận, quyết tâm giành lại độc lập, tự do cho nước nhà. Rất bình dị mà phi thường, dưới lựu đạn cay và họng súng quân thù, họ vẫn ngày đêm chiến đấu, sản xuất và sáng tác những ca khúc, bài thơ, áng văn … để rồi mỗi lần hát là mỗi lần ra trận “… Ðánh cho nó chích luân bất phản/Ðánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Ðánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Quang Trung Nguyễn Huệ).

    Song, như một điều tất yếu, cuộc chiến tranh nào lại không có những mất mát, đau thương, không chỉ cho dân tộc bị xâm chiếm mà cho cả dân tộc – những người dân vô tội của nước đem quân đi bành trướng. Thế hệ chúng tôi được học về những chiến thắng vẻ vang và cả những mất mát, đau thương ấy để càng hiểu thêm về giá trị của những ngày độc lập, tự do :
    Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
    Quân xanh màu lá dữ oai hùm
    ( Tây Tiến – Quang Dũng )

    Thơ ca thời kỳ kháng chiến khi viết về người lính vẫn thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài “Đồng chí” cũng đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy :
    “ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
    Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi”
    Còn Tố Hữu khi vẽ chân dung anh Vệ quốc trong bài “Cá nước” với những hình ảnh thật cụ thể :
    Giọi mồ hôi rơi
    Trên má anh vàng nghệ

    Thế nhưng, trên tất cả vẫn là niềm vui hăm hở của tuổi trẻ ra chiến trường, tính chất tinh nghịch tươi vui và giàu suy tưởng của người lính:

    Không có kính không phải vì xe không có kính
    (Bài thơ về Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật )
    Đường ra trận đẹp lắm, nên xe không kính cứ chạy bon bon, người lái xe đã nhìn thấy, nhìn thấy và thấy. Thấy gió xoa mắt đắng, thấy con đường chạy thẳng vào tim. Quan trọng nhất, thấy được nụ cười rạng rỡ của nhau. Ấy cũng chính là thấy được lòng dũng cảm tiềm ẩn đằng sau những câu đùa vui và hành động tếu táo :

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
    Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

    Đọc đến đây, tôi tự hỏi điều gì đã tạo nên sự lạc quan ở người lính dù họ đang trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn ?

    Chỉ cần trong xe có một trái tim

    Đây là nguyên nhân… hóa ra tất cả khó khăn thử thách ở phía trên kia chẳng là gì cả, dù cho bom rơi, pháo thả, dù xe không kính, dù đường ra mặt trận có khi đồng nghĩa với cái chết thì người lính lái xe ra trận cũng luôn cảm thấy bình yên, an toàn bởi vì có một trái tim. Đó là trái tim biết thức vì Miền Nam, biết khát khao chân lí, hòa bình. Hành trang ra trận chỉ cần một trái tim như thế.
    Đọc những câu thơ trong Bài thơ về Tiểu đội xe không kính, tôi cảm nhận hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam thật bình dị, gần gũi mà vẫn không kém phần hùng dũng : Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi. Bài thơ không chứa đựng một ẩn ý sâu xa nào khiến chúng ta phải suy luận, nêu giả thiết hoặc là thế này hoặc là thế kia. Tạo dựng hình ảnh thơ bằng ngôn ngữ thô mộc của đời sống thường nhật, không sử dụng các loại mĩ từ, mĩ cảm, ẩn dụ, hình ảnh thơ thể hiện đạt tới độ chân thực cao mà vẫn rất thơ. Bài thơ có đầy đủ yếu tố cách tân và hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc của thơ ca dân tộc, nối tiếp truyền thống của thơ ca cách mạng viết về anh bộ đội trong hai cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại của dân tộc ở thế kỉ XX.

    Sẽ thật thiếu xót khi nhắc đến những tự hào về chiến thắng lừng lẫy “chấn động địa cầu” mùa xuân năm 1975 mà lại không nhắc đến hình ảnh của những người mẹ, người chị, những người phụ nữ Việt Nam. Truyền thống “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của phụ nữ Việt Nam được khởi nguồn từ thời Bà Trưng, Bà Triệu – những người phụ nữ đầu tiên đã vùng lên cùng toàn dân đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc.
    Một nhà thơ đã viết:
    “Trên đất nước nghìn năm chảy máu,
    Nghìn năm người con gái vẫn cầm gươm”
    Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc với câu nói hào hùng đầy khí phách của Bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
    Bà Đinh Phu Nhân 10 năm liền hoạt động dũng cảm trong phong trào Duy Tân, tới khi bị giặc bắt, tra khảo những bà không khai nửa lời. Trước khi tử tiết bà để lại thơ tuyệt mệnh viết bằng máu trên tường ngục, có câu:
    Suối vàng gạt lệ gặp bà Trưng
    Máu thấm hồn quyên khóc thảm thương
    Lạy Phật: thân này còn hóa kiếp
    Tay binh nghìn cánh, cánh nghìn gươm

    Trong thơ Bác, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam anh hùng cũng rất nhiều lần được Người nhắc đến :

    Việt Nam phụ nữ đời đời
    Nhiều người vì nước, vì nòi hy sinh
    Ngàn thu vang tiếng bà Trưng,
    Ra tay cứu nước, cứu dân đến cùng
    Bà Triệu – Ẩu thật anh hùng,
    Cưỡi voi đánh giặc vẫy vùng bốn phương
    (Phụ nữ)

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại Bác cũng có bài thơ Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế :

    Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
    Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
    Bác khen các cháu dân quân gái,
    Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.
    (3-1968)

    Lời thơ hết sức giản dị nhưng đã làm nổi bật một hình tượng anh hùng, ở tư thế bản lĩnh, ở tư duy trí tuệ (khôn ngoan dàn trận). Bài thơ là một cấu trúc đối lập, đối lập về số lượng (11 cháu dân quân gái) với vũ khí trang bị thô sơ (súng trường) với “giặc Hoa Kỳ” đông quân, trang bị tối tân hiện đại. Thế mà “giặc Hoa Kỳ phải nát xương”! Bài thơ không chỉ là lời khen động viên, cổ vũ mà còn là niềm tin chiến thắng, cao hơn là tư tưởng: phụ nữ cũng rất anh hùng, phụ nữ Việt Nam ta đúng là “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

    Cách đây hơn 20 năm, khi hỏi về khái niệm Đất nước, một đứa trẻ 8 tuổi như tôi lúc ấy chỉ biết đó là điều gì rất to lớn, trừu tượng. Lớn thêm chút nữa tôi hiểu Đất nước là dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, là vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, là con đường hàng ngày tôi đi học… Sau này, khi học đến trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, tôi đã nghiệm ra Đất nước chính là những gì tôi đã được nghe từ lời kể chuyện của mẹ, qua “miếng trầu bây giờ bà ăn”, qua cái kèo, cái cột, qua hạt gạo miếng cơm mà tôi ăn hàng ngày. Đất nước không phải là cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt của mỗi người :
    Trong anh và em hôm nay
    Đều có một phần đất nước
    ( Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)
    Nguyễn Khoa Điềm đã cho tôi thấy sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh chung của cộng đồng, của đất nước. Đó là tư tưởng chung của thời đại khi mà vấn đề dân tộc nổi lên như một vấn đề cơ bản nhất, có tính chất quyết định nhất, chi phối hầu như tất cả các vấn đề khác; khi mà trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải là cái gì khác mà cũng chính là trách nhiệm đối với chính bản thân mình thì đó là lúc mà mọi đau thương, mất mát, thiếu thốn đều trở thành nhỏ bé, vô nghĩa.
    Họ đã sống và chết
    Giản dị và bình tâm
    ( Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)

    Bình luận bởi Nguyen Thuy — 01/05/2010 @ 8:36 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: