Hoàngquang’s Blog

21/04/2010

Người Việt đã khác trước

Filed under: TƯ LIỆU — hoangquang @ 1:48 chiều
Tags:

Trân Văn, phóng viên RFA
2010-04-20

Giới trẻ biểu tình phản đối Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Photo courtesy of GiaophanVinh

&Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích – Hà Văn Thùy

+Tổ tiên người Việt là người Trung Hoa?-tuanvannguyen.

Ban Việt ngữ Đài BBC vừa giới thiệu bài viết “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”(*) của bà Đỗ Ngọc Bích trên chuyên mục Diễn đàn và các ý kiến được nêu trong bài viết này, đã trở thành đề tài được quan tâm.

Giới trẻ biểu tình phản đối Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Photo courtesy of GiaophanVinh

Sự kiện vừa kể có gì đáng chú ý? Mời quý vị theo dõi Trân Văn tổng hợp và tường trình thêm…
Nên học như thế nào?

Việc bà Đỗ Ngọc Bích phê phán chuyện chống Trung Quốc, rồi cho rằng đó là các biểu hiện không lành mạnh của phong trào bài Hoa, cảnh báo về sự xuất hiện “chủ nghĩa dân tộc mù quáng”, đồng thời gợi ý nên tìm hiểu và học lại về lịch sử Việt Nam, bởi hình như lịch sử Việt Nam thiếu chính xác,… đã bị người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam phản bác mạnh mẽ.

Đáng chú ý là ngoài những bài phản biện của giới nghiên cứu văn hoá – lịch sử, giới sử dụng Internet ở trong và ngoài Việt Nam cũng đã góp thêm rất nhiều ý kiến phản bác các luận điểm như: Người Việt có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hoặc vua Việt cũng xuất thân từ Trung Quốc, thậm chí đã coi Trung Quốc như cha, anh. Hoặc xét cho cùng, lãnh thổ Việt Nam hiện nay cũng nhờ chiếm đóng đất đai Chiêm Thành, Kh’mer,… của bà Đỗ Ngọc Bích.

Trên website “anhbasam.com”, một độc giả tự giới thiệu tên là “Thanh”, đã giải thích với bà Đỗ Ngọc Bích, vì sao người Việt chống Trung Quốc: Theo Luật Biển quốc tế, Việt Nam có 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trên biển Đông nhưng “đường lưỡi bò” của Trung Quốc khiến Việt Nam chỉ còn bờ biển. Trung Quốc “thực thi chủ quyền” trên lãnh hải của Việt Nam “không” theo cách của một quốc gia văn minh mà theo kiểu của một quốc gia mọi rợ, dùng tàu chiến đâm chìm tàu cá, đánh đập ngư dân, bắt cóc đòi tiền chuộc, chưa kể vụ thảm sát năm 2005 giết chết 11 ngư dân Hậu Lộc, Thanh Hóa. Đó chính là lý do khiến tinh thần căm ghét Trung Quốc bùng nổ. Chỉ cần bà có một chút đồng cảm với những ngư dân tan cửa nát nhà, bà sẽ không viết như thế…

Độc giả vừa kể chất vấn thêm: Bà hỏi thanh niên Việt Nam đã bao giờ đọc Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu từ nguyên bản chưa (?) nhưng Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu chỉ còn 29 đoạn chép trong Toàn thư, làm sao đọc từ nguyên bản?.. Bà viết về quá trình chiếm hữu Hoàng Sa – Trường Sa, phải nói ngay kiến thức của bà là một số 0 tròn trĩnh. Chỉ cần bà lên diễn đàn “hoangsa.org”, chịu khó đọc kho tư liệu về mà các bạn trẻ đó dày công sưu tập, bà sẽ hiểu rằng kiến thức lịch sử về Hoàng Sa – Trường Sa của bà thua xa các bạn sinh viên đó… Bà nói các vua Việt Nam coi vua Trung Quốc như là cha, là chú? Bà lấy thông tin đó ở đâu vậy?

Không ngộ nhận

Sự kiện vừa kể, còn một điểm đáng chú ý khác là cả giới nghiên cứu văn hoá – lịch sử, lẫn giới sử dụng Internet ở trong và ngoài Việt Nam, cùng tỏ ra băn khoăn trước tương quan giữa thông tin về cá nhân bà Đỗ Ngọc Bích với nội dung bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”.

Theo giới thiệu trên Diễn đàn của BBC, bà Đỗ Ngọc Bích hiện là Tiến sĩ, đang giảng dạy về Việt Nam học tại Đại học Yale, cũng như đang tham gia dịch thuật các chương trình sử học cổ, trung, cận đại tại Đại học Yale, song nội dung của “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”, lại có nhiều điểm không tương xứng với hàm lượng tri thức, cũng như các thuộc tính vốn không thể thiếu, trong bài viết của một người chuyên làm công việc nghiên cứu.

Với một tiến sĩ như thế, học giới và nhiều người sử dụng Internet cùng tỏ ra nghi ngại về việc Đại học Yale đã cũng như sẽ đào tạo ra sao về chuyên ngành Việt Nam học?

Tiến sĩ Erik Harms, Phó Giáo sư Khoa Nhân học của Đại học Yale, giải đáp các thắc mắc này trực tiếp bằng Việt ngữ: Cho tôi giải thích vấn đề này. Trên BBC người ta ghi cô Bích là Tiến sĩ giảng dạy ở Yale. Nó sai nhiều điểm.

Điểm thứ nhất là cô Bích chưa có Tiến sĩ. Cô Bích nói cho mình biết là cô có gửi CV cho BBC. CV là lý lịch và trong CV đó có nói là ABD Tiến sĩ. Chữ ABD bằng tiếng Anh nó hơi phức tạp cho người không biết. ABD có nghĩa là “All but dissertation”, nghĩa là đang học Tiến sĩ nhưng có qua quá trình giảng dạy rồi, mình đang viết luận án. Nếu không hiểu chương trình Mỹ, người ta nghĩ: Ồ!Là Tiến sĩ rồi. Thế nhưng thực sự một người ABD có nghĩa là chưa có bằng, chưa nộp luận văn.

Thực sự bây giờ cô Bích là sinh viên cao học, sắp viết luận văn ở Đại học Hawaii trong Khoa Hoa Kỳ học, chứ không phải là Tiến sĩ đang giảng dạy ở Yale.

Erik phải điều chỉnh lại thông tin một cách rõ rang nữa là cô Bích đang sống ở đây, ở New Haven (bang Connecticut, nơi Đại học Yale tọa lạc).

Có một chương trình ngoại ngữ cho những sinh viên ở Yale muốn học thêm về ngoại ngữ. Ở Yale mình dạy tiếng Việt đến lớp hai. Có nghĩa là dạy hai năm tiếng Việt. Sau đó có sinh viên nào giỏi tiếng Việt, muốn tìm người dạy kèm tiếng Việt thì Yale sẽ thuê một người để dạy thêm một chút.

Trước đây mình không biết nhưng mà cô Bích có dạy tiếng Việt cho hai sinh viên ở đây. Sinh viên rất là giỏi tiếng Việt, muốn đọc báo hay là đọc sách gì đó thì họ gặp cô Bích. Ví dụ một tuần, một tiếng đồng hồ gì đó.

Thực sự thì có thể nói là cô Bích có dạy nhưng không phải trong chương trình chính thức ở Yale. Cô Bích có dạy kèm cho mấy sinh viên học ở Yale nhưng mà là dạy kèm ngoài giờ học cho mấy sinh viên ở Yale học thêm, ngoài giờ học bình thường.

Có thêm một câu mình nhớ là người ta có hỏi là cô Bích có dịch thuật tài liệu? Đây không phải là việc chính của Yale. Ví dụ có một ông giáo sư chuyên môn về Việt Nam muốn có sự giúp đỡ trong một vài tài liệu về lịch sử…

Do sự kiện có liên quan đến đồng nghiệp, chúng tôi đã liên hệ với nhà báo Nguyễn Giang, Trưởng Ban Việt ngữ của Đài BBC. Ông cho biết, đây là một cuộc thảo luận nên BBC sẽ có ý kiến chính thức khi cuộc thảo luận chấm dứt.

Ngoài Tiến sĩ Erik Harms, nhiều người sử dụng Internet còn cung cấp thêm các thông tin, cho biết, bà Đỗ Ngọc Bích chỉ mới rời Việt Nam cách nay ít năm chứ không phải là người Việt, sinh ra hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Những người theo dõi sát các diễn biến thời sự tại Việt Nam nhận định, trước khi các thông tin có liên quan đến học vị, nguồn gốc của bà Đỗ Ngọc Bích được bạch hoá, tuy không đồng tình với cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề của bà Bích, song nhìn chung, dư luận cả trong lẫn ngoài Việt Nam tỏ ra khá điềm tĩnh.

Gần như không có ý kiến nào khái quát sự kiện vừa kể theo luận điểm quen thuộc mà người ta vẫn nghe như: Việt kiều là vong bản, mất gốc. Hoặc các ý kiến mà Việt kiều đóng góp cho những vấn đề liên quan đến chủ quyền, quan hệ Việt – Trung đều từ ý đồ xấu, do các thế lực thù địch, phản động kích động. Có thể là nhờ vậy, sự đồng thuận giữa trí thức nói riêng, cũng như giới sử dụng Internet nói chung, ở cả trong và ngoài Việt Nam, trước các vấn đề thời cuộc nóng bỏng, liên quan đến vận mệnh quốc gia, không bị sự kiện này làm cho rạn nứt.

Mục tiêu và phương tiện

Sau khi các diễn đàn điện tử, các blog giới thiệu hàng trăm bài phản biện và ý kiến phản bác “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”, ngày 20 tháng 4, Ban Việt ngữ BBC tiếp tục giới thiệu thêm quan điểm của bà Đỗ Ngọc Bích đối với ý kiến độc giả.

Bà cho biết, bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”, được viết từ cảm giác bực dọc, khó chịu khi phải đọc những lời phỉ báng, lăng mạ của các blogger trong nước và hải ngoại đối với nhà nước Việt Nam hay nhân vật lãnh đạo Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc trên Facebook hay diễn đàn BBC, VOA tiếng Việt.

Theo bà: Tôi thấy họ có vẻ ghét Trung Quốc quá thể, nên muốn tìm ra nguyên cớ tại sao họ ghét Trung Quốc và một số lãnh đạo Việt Nam đến thế, và cố gắng làm cho họ bớt thù hận, bình tĩnh, rộng lượng hơn một chút với một số bối cảnh ngoại giao Việt Trung hiện thời.

Tôi tin rằng kiểu phê phán lăng mạ chỉ gây phản cảm, phản tác dụng, và theo tôi không thể có kết quả gì.

Giới sử dụng Internet tại Việt Nam nghĩ gì? Một người sử dụng Internet, có nickname la “Tin Kinh tế” nêu nhận xét trên blog Quê choa, của nhà văn Nguyễn Quang Lập: Thực ra em chả quan tâm đến quan điểm của bà Ngọc Bích, bà muốn bày tỏ thế nào tùy bà, đó là quyền của bà. Điều em quan tâm là những người đang nắm vận mệnh dân tộc trong thời điểm hiện nay có quan điểm thế nào kia, bao nhiêu % “đồng thuận” với bà Ngọc Bích? Bao nhiêu % phiếu trắng? Bao nhiêu % phiếu chống?

Bác nào có đủ dữ liệu, phân tích cho bà con mở mang tầm hiểu biết thì tốt quá.

Đến nay, ba ngày sau khi “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” trở thành sự kiện nóng, khiến cả ngàn người lên tiếng. Hệ thống truyền thông Việt Nam vẫn im lặng, cho dù gần đây, một số cơ quan truyền thông trong nước như Nhân Dân, Quân đội nhân dân vẫn lặp đi, lặp lại những lời kêu gọi kiều như bài “Chủ động phản bác thông tin xuyên tạc”, trên tờ Quân đội nhân dân số ra ngày 21 tháng 3 vừa qua: Để ngăn chặn ảnh hưởng xấu của các loại thông tin này, một mặt, chúng ta vẫn phải kiên quyết vạch trần âm mưu chế tác, truyền bá loại thông tin phản tuyên truyền, xuyên tạc. Mặt khác cần thiết phải tìm ra nguồn gốc phát sinh, nhận diện loại thông tin đó để cảnh báo cho đông đảo công chúng. Qua đó, từng bước ngăn chặn chiến thuật gây nhiễu loạn thông tin.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese-people-have-grown-up-politically-TrVan-04202010225443.html

***
Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích

Hà Văn Thùy

Gửi cho BBCVietnamese.com từ Sài Gòn

Bài viết của bà Đỗ Ngọc Bích rất ấn tượng. Trước hết, ở cái giọng khinh bạc, mục hạ vô nhân trái ngược với vẻ xinh xắn trời cho của một phụ nữ Việt.

Sau bởi tri thức lịch sử đáng lẽ phải dấu đi ở một người mang học vị tiến sĩ.

Đó là tri thức mà không ít người Việt đã bỏ lại ở cuối thế kỷ trước.

Đến nay, hết thập niên đầu của thế kỷ XXI, không ít người Việt trong và ngoài nước biết rằng, không phải 4000 năm mà lịch sử của tộc Việt bắt đầu khoảng 70.000 năm trước, khi hai đại chủng Homo sapiens là Europid và Mongoloid theo con đường phương nam tới miền Trung và miền Bắc Việt Nam để hòa huyết sinh ra 4 chủng Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid.

Rồi từ Việt Nam, người Việt lan tỏa sang câu Úc, ra khắp Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Việt lên khai thác đất Trung Hoa để 4000 năm TCN xây dựng tại Á Đông nền văn hóa nông nghiệp sớm và rực rỡ nhất hành tinh.

Khoảng 2600 năm TCN, người Hoa Hạ, tiền thân của người Hán ra đời, là con lai giữa người Bách Việt và người Mông Cổ sau cuộc xâm lăng của người Mông Cổ.

Tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là sản phẩm của tộc Việt.

Hà Văn Thùy

Do vậy, tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là sản phẩm của tộc Việt.

Năm 2006 tôi bạo gan đưa ra giả thuyết: “Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán” thì mùa Xuân năm nay, bạn tôi, anh Đỗ Thành, gốc Việt Triều Châu đang sống ở Sacromento Hoa Kỳ, từ giáp cốt văn, kim văn và những thư tịch cổ nhất của Trung Hoa như Việt chép (Việt tuyệt thư), Thuyết văn giải tự đã “Phát hiện lại Việt nhân ca”, “Phục nguyên Duy giáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn” và tìm ra “Nguồn gốc chữ Nôm”, chứng minh không thể phản bác là, chữ Nôm của người Việt có trước, từ đó được cải tiến thành chữ Hán! Chiêm Thành, Lâm Ấp cũng không như nữ tiến sĩ lầm tưởng!

Trong cuốn “Nhìn lại sử Việt” in tại Hoa Kỳ, tiến sĩ Lê Mạnh Hùng chứng minh được rằng, đó là đất của quốc gia Văn Lang do các vua Hùng làm chủ.

Khi Việt Nam bị người Hán xâm lăng, những đất trên trở thành vô quản, tù trưởng của các bộ lạc người Việt tự lập thành quốc gia riêng. Việc tổ tiên ta mở rộng bờ cõi xuống phía Nam là sự sắp xếp lại giang sơn của các vua Hùng!

Lịch sử, văn hóa Việt là câu chuyện dài, mà tôi đã trình bày trong hai cuốn Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007) và Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008) nên khó nói hết trong bài báo nhỏ! Nếu có dịp về lại quê hương, mời tiến sĩ dành thời gian vài ba ngày tới gặp tôi để trao đổi về câu chuyện lý thú này.

Tôi sẽ tặng riêng bà cuốn Tìm cội nguồn qua di truyền học và cuốn Cội nguồn văn hóa Việt mà tôi đã dịch sang tiếng Anh với nhan đề The source and culture of Vietnamese sắp xuất bản. Tin rằng, qua đó, tiến sĩ học được những tri thức mới về Việt học để truyền thụ lịch sử, văn hóa Việt cho người Mỹ!
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100420_havanthuy_dongocbich.shtml

***
Tổ tiên người Việt là người Trung Hoa?
Monday, April 19, 2010

Sau entry hôm qua bàn về cô Đỗ Ngọc Bích, người mà BBCVietnamese giới thiệu là tiến sĩ và đang là giảng viên của Đại học Yale, nhưng tôi có viết rằng không tìm thấy tên cô Bích trong website Đại học Yale. một người bạn bên Mĩ có gửi email cho tôi với lời đính chính của Gs Erik Harms như sau:

“From: Erik Harms
Sent: Monday, April 19, 2010 2:02 PM
Subject: Important Correction to Article

Xin Chào,

Tôi tên là Erik Harms, hiện là Assistant Professor of Anthropology (Phó Giáo sư, khoa nhân học) tại Đại học Yale.

Tôi rất ngạc nhiên khi đọc bài ý kiến (opinion piece) của Nghiên cứu sinh Đỗ Ngọc Bích trên mạng BBC. Tôi ngạc nhiên bởi vì BBC đã cho các độc giả nghĩ phải là cô Bích là Tiến sĩ đang dạy tại ĐH Yale. Thông tin này hoàn toàn sai. Cô Bích hiện là sinh viên cao học tại Đại học Hawaii, đang học (nhưng chưa có bằng) tiến sĩ trong khoa Hoa Kỳ Học (American Studies). Tôi xin BBC tiếng Việt điều chỉnh lại thông tin này.

Cô Bích đang sống ở New Haven, nhưng cô ấy không làm việc cho Yale. Mọi người đều có phép phát biểu ý kiến cá nhân của mình, và tôi sẽ không bao giờ “điều chỉnh” nội dung của bài cá nhân của cô Bích. Nhưng, tôi cũng nghĩ là độc giả phải biết bài ấy là một ý kiến cá nhân của cô ấy, và không đại diện ý kiến của trung tâm Đông Nam Á học tại Yale.

Xin cám ơn

Erik Harms”

Chú ý là email viết tiếng Việt không dấu, nên tôi đánh dấu để dễ đọc.

Như vậy những gì tôi viết hôm qua là đúng: cô Bích không phải là người của Yale và cũng chưa bao giờ giảng dạy tại Yale. BBCVietnamese bị lường gạt rồi chăng?

NVT

===

Entry 19/4/2010

Mấy hôm nay dư luận có vẻ xôn xao về một bài báo của một người có tên là Đỗ Ngọc Bích viết về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam mà cô dùng những từ tương đối trịch thượng và mỉa mai như “mù quáng”, “bài xích”, “rên rỉ”. Lập luận của cô ĐNB có thể gói gọn trong giả định quan trọng này: “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…”, rồi đi từ giả định đó, cô cho rằng những phản ứng của người Việt trước hành động xâm lấn và giết hại người Việt là cực đoan, là mù quáng, gây tác hại hơn là đem lại lợi ích. Có lẽ cái thông điệp ngầm mà cô muốn nói cho người Việt là nên buông tay, quay về với tổ tiên Trung Hoa, và trở thành một huyện hay gì đó của Trung Quốc. Tôi biết cô chưa viết ra điều này, nhưng cái thông điệp đó bàng bạc trong bài viết.

Vậy thì chúng ta phải xem xét giả định của cô Bích có đúng không. Cách đây trên 15 năm, tôi có viết một loạt bài về nguồn gốc người Việt, và xin trích lại vài ý chính trong entry dưới đây. Xin tóm tắt như thế này: cho đến nay, không có bằng chứng nào để nói rằng người Việt xuất phát từ Trung Quốc. Thật ra, có bằng chứng di truyền học cho thấy ngược lại: người Nam Trung Quốc có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Nên nhớ rằng ngày xưa không có người Thái, Việt, mã Lai … mà chỉ có Đông Nam Á. Do đó, nói Đông Nam Á ở đây tôi muốn nói đến người Thái, Mon-Khmer, Tạng-Miến, Mã Lai, hay gọi chung là Bách Việt.

Xin nói thêm rằng người Trung Hoa không phải là dân tộc đầu tiên phát triển kĩ thuật trồng lúa nước. Người Đông Nam Á mới chính là chủ nhân của kĩ thuật này. Hạt lúa lâu đời nhất được tìm thấy trong một hang động ở Thái Lan. Nghiên cứu di truyền gần đây cho thấy tất cả các loài gia cầm như gà, chó, heo, v.v… trên thế giới đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Trong cuốn “Origin of species”, Darwin cũng từng khẳng định rằng tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Đông Nam Á. Trong một bài viết cho Tập san National Geographic, W. G. Solheim II nhận xét rằng Đông Nam Á là nơi phát triển nền chăn nuôi đầu tiên trên trái đất [18]. Điều này phù hợp với giả thuyết Đông Nam Á là một cái nôi văn minh nông nghiệp đầu tiên của con người, và cư dân tại đây rất là những người phát minh ra kĩ thuật trồng lúa nước, chăn nuôi, và truyền các kĩ thuật này lên phía Bắc (tức miền Nam Trung Quốc ngày nay).

Như vậy có thể suy luận rằng trước khi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, vùng Đông Nam Á đã hình thành một nền văn hóa lúa nước, và cư dân cổ ở đây (dân Bách Việt) đã phát triển một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trong đó có cả văn minh châu thổ sông Hồng, hay văn minh Đông Sơn. Theo Trần Quốc Vượng, chính nghề trồng lúa nước (một ngành nghề đòi hỏi người dân phải nắm vững và thích nghi với thời tiết, môi trường sông nước) đã dẫn người cư dân cổ Đông Nam Á sáng tạo ra lịch dùng 12 con vật gần gụi với nền văn minh lúa nước làm biểu tượng.

Do đó, tôi nghĩ rằng giả định (assumption) của cô Bích không có cơ sở khoa học. Thật ra, tôi thấy những lập luận của cô Bích – nói theo người Tây phương là – chưa học thuộc bài. Ấy thế mà BBCVietnamese trịnh trọng giới thiệu cô Bích như sau: “tác giả […] là tiến sỹ về Quan hệ Quốc tế và Hoa Kỳ học, hiện đang giảng dạy Việt học và tham gia dịch thuật các công trình sử học cổ, trung đại của VN tại Đại học Yale, Hoa Kỳ.” Thật ra, ngay cả lời giới thiệu này hình như không đúng. Trong website của Đại học Yale không thấy tên cô Đỗ Ngọc Bích, chứ nói gì đến chuyện cô ấy “giảng dạy” ở đó. Một bạn đọc gửi email cho tôi chỉ ra rằng cô Bích hình như đang theo học PhD ở Hawaii. Website Đại học Hawaii cho biết cô là công dân Việt, từng học ở Hà Nội và đang theo học PhD ở Hawaii:

“Bich Ngoc Do is currently in the department’s PhD program. She was born and raised in Hanoi, Vietnam, where she also did her undergraduate work. Bich has a BA in Foreign Language Studies, with a major in English and a minor in French, and another degree in Sociology. For several years before coming to Hawai`i she taught English for Specific Purposes in the Departments of Sociology and International Studies at Hanoi University of Social Sciences and Humanities – Vietnam National University. She also served as a part-time project assistant for an Australian NGO in Hanoi that was working on women’s reproductive health (1997) and as a director assistant to the International Relations Office – Asia Pacific Committee, at her university (1999). At UH she is focusing her studies on cultural studies, diplomatic history, and popular culture. She fulfilled a Certificate of International Cultural Studies at the East West Center in May 2002 with a project on the politics of nostalgia and visual representations in Vietnamese American music productions. In November 2002, she defended her MA thesis on Volunteers in Asia – Vietnam Program (1990-2002) and Vietnam – U.S. relations, and entered the PhD program. At the moment, she is completing her coursework and preparing for her qualifying as well as the comprehensive exams. The dissertation topic she is contemplating is “The cultures of Vietnam-U.S. normalization,” with an emphasis on tourism, mass media, army museums, and politics. Upon the completion of her ABD, Bich plans to return to Hanoi to teach and do fieldwork research before coming back for the doctoral defense.”

Nếu đúng thế thì chẳng trách lập luận của cô Bích còn nhiều thiếu sót. Tôi chợt nhớ câu “Chưa đỗ cô / ông nghè đã đe hàng tổng”.

NVT

===

Bàn về nguồn gốc người Việt

Hỏi một người Việt bình thường về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, câu trả lời mà người ta thường nghe là tổ tiên của chúng ta xuất phát từ Trung Quốc. Ngay cả người có kiến thức rộng, có quan tâm đến dân tộc và văn hóa Việt cũng có những ý kiến tương tự. Đào Duy Anh, trong Việt Nam Văn hóa Sử cương; và Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, cũng từng cho rằng người Việt có nguồn gốc hoặc từ Trung Quốc [1] hay từ Tây Tạng [2], dù họ có chút dè dặt và thận trọng trong phát biểu.

Có lẽ cái quan điểm dân tộc Việt có nguồn gốc từ Trung Quốc đã ăn sâu vào tâm trí của chúng ta, nên văn minh Việt Nam cũng được nghiễm nhiên suy luận là bắt nguồn từ văn minh Trung Quốc. Quan điểm này phù hợp với sách vở của Trung Quốc. Chẳng hạn như trong Hậu Hán thư , các sử gia của Trung Quốc, với một giọng văn cực kì trịch thượng và kì thị chủng tộc, viết rằng tổ tiên ta ngày xưa giống như loài “cầm thú”, xã hội thì chẳng có tôn ti trật tự gì cả, phải đợi đến khi hai quan thái thú của họ là Tích Quang và Khâm Diên dạy cho tổ tiên ta cách ăn mặc và cách trồng lúa. Sau đó các nhà sử học này thản nhiên kết luận: “Miền Lĩnh Nam theo phong hóa Trung Quốc là bắt đầu từ hai thái thú ấy” [3].

Điều thú vị là nhận xét này đã được giới có học của Việt Nam tiếp nhận và lấy làm một thứ kinh điển, một câu văn giáo khoa, mà không có một chất vấn tính trung thực, hay thách thức tính khoa học của nó. Tính dễ dãi chấp nhận sử liệu ngoại bang của giới có học ngừơi Việt đã vô tình gieo vào lòng nhiều người Việt một tâm lí tự ti, đánh giá thấp nền văn hóa Việt Nam khi so sánh với các nền văn hóa khác, như của Trung Hoa chẳng hạn.

Thực ra, chẳng riêng gì giới trí thức Việt Nam, ngay cả một phần lớn trong giới sử học Tây phương cũng từng quan niệm, hay nói đúng hơn là giả định, rằng các nền văn minh Đông Nam Á (kể cả của Việt Nam) chỉ là những chi nhánh của hai nền văn hóa lớn hơn: Trung Hoa và Ấn Độ. Giả định này đã được dùng như là một sử liệu, một thuyết đáng tin cậy để dạy học cho học sinh (trong đó có cả học sinh người Việt); và một cách vô tình, nó được lưu truyền hết thế hệ này sang thế hệ khác như là một sự thật! Bởi vì qua nhiều năm, chẳng ai chất vấn lý thuyết này, nên một cách nghiễm nhiên, nó được xem là một “thuyết chính thống.”

Mãi đến thập niên 1960s, một số nhà khảo cổ học rất uy tín (phần lớn là Mĩ), dựa vào nhiều kết quả của một loạt nghiên cứu ở Việt Nam và Thái Lan, đã bắt đầu chất vấn sự chính xác và tính logic của thuyết chính thống trên đây [4]. Có thể nói họ là những “con cừu đen” trong giới tiền sử học, vì đã can đảm thách thức một quan điểm mà đại đa số đồng nghiệp đều mặc nhiên công nhận. Nhưng họ không phải là những người đơn độc. Gần đây, đã có một số nhà nghiên cứu từ Việt Nam, Thái Lan, và Nam Dương công bố nhiều dữ kiện khảo cổ học cho thấy rằng thuyết văn hóa Đông Nam Á xuất phát từ văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ không còn đứng vững nữa.

Nhưng trong những nhà nghiên cứu chuyên môn này, chưa ai trình bày dữ kiện một cách có hệ thống và nghiên cứu một cách sâu xa bằng một nhà nghiên cứu “tài tử” là ông Stephen Oppenheimer trong cuốn sách “Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia” (tạm dịch là “Thiên đàng ở phương Đông: Lục địa chìm đắm của Đông Nam Á) [5]. Trong tác phẩm này, qua những dữ kiện dồi dào được thu thập một cách công phu từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau, Oppenheimer trực tiếp thách thức cái thuyết chính thống, và làm thay đổi những quan niệm về thời tiền sử mà chúng ta từng hiểu và từng được dạy. Đặc biệt, cuốn sách đặt trọng tâm vào việc thẩm định lại các quan điểm về văn minh vào thời tiền sử ở Đông Nam Á, tác giả cho rằng:

(a) Trận đại hồng thủy [6] được đề cập đến trong Kinh Thánh là có thật và xảy ra vào cuối thời đại Băng hà (Ice Age).

(b) Trận đại hồng thủy này xảy ra khoảng 8000 năm về trước làm chìm đắm lục địa Đông Nam Á, và làm cho dân chúng phải di tản đi các vùng đất khác để sống. Họ chính là những người gầy dựng nên nền văn hóa Tân Đồ Đá (Neolithic cultures) của Trung Quốc, Ấn Độ, Mesopotamia, Ai Cập và vùng đông Địa Trung hải, và do đó, họ là những người cha đẻ và vun đắp các nền văn minh vĩ đại ở phương Tây.

(c) Những dân tộc thuộc quần đảo Polynesian không phải xuất phát từ Trung Quốc, nhưng có nguồn gốc từ Đông Nam Á.

(d) Người Trung Quốc không phải là người sáng chế ra kĩ thuật trồng lúa. Khoảng 9,000 đến 10,000 năm về trước, một số dân thuộc vùng Đông Nam Á đã là những nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới (chứ không chỉ sống bằng nghề săn bắn), họ đã phát triển kĩ thuật trồng khoai và qua đó làm một cuộc cách mạng nông nghiệp.

Nói một cách khác cho rõ ràng hơn, qua công trình nghiên cứu này, Oppenheimer đề xuất một thuyết cho rằng Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Thuyết này thể hiện một thách thức rất lớn đến các tri thức về thời tiền sử đã và đang được lưu truyền trong giới khoa bảng. Và do đó, Oppenheimer đã, lần đầu tiên, đặt vùng Đông Nam Á vào vị trí xứng đáng của một vùng đất thường bị lãng quên bên cạnh hai nền văn minh lớn là Trung Hoa và Ấn Độ.

Theo thuyết của Oppenheimer thì người Trung Quốc và Ấn Độ ngày nay có gốc gác từ Đông Nam Á, chứ không phải nguồn gốc của người Đông Nam Á là ở Trung Quốc hay Ấn Độ. Đây cũng là một đảo vòng xoay 180 độ về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Mà, xem ra thuyết của Oppenheimer có nhiều “đồng minh.” Một số học giả khác (như M. Colani, J. Hornell, P. van Stein, H. Geldern, B, Karlgren, NJ Krom) cũng cho rằng làn sóng người từ Bắc Việt tràn xuống phía Nam và vào Ấn Độ trước khi vùng này bị giống dân Aryan xâm chiếm. Giáo sư Solheim II căn cứ trên những dữ kiện khảo cổ thì thấy rằng giống người Hoà Bình tràn lan xuống phía nam, lên hướng bắc, và sang hướng tây. Tại mỗi nơi, người Hòa Bình phối hợp với dân địa phương để tạo thành các chủng tộc mới của mỗi vùng.

Thuyết của Oppenheimer có cơ sở khoa học. Sau khi cuốn sách Eden in the East xuất bản, một loạt nghiên cứu di truyền học cung cấp nhiều bằng chứng quí báu về hành trình của con người. Tưởng cần nhắc lại rằng trong quá khứ người ta thường tập trung vào nghiên cứu các đặc tính nhân trắc và ngôn ngữ để xác định nguồn gốc con người, và xu hướng này làm xao lãng các dữ kiện có thể cho chúng ta nhiều thông tin hơn: đó là gien. Không giống như xương sọ, những thay đổi trong gien thường xảy ra theo những qui luật mà chúng ta hiểu khá rõ, và vì thế gien và các đặc điểm của gien, như tầng số gien, cấu trúc DNA, phân phối gien, v.v… cho chúng ta những thông tin cực kì quí giá về sự tiến hóa của con người. Ngày nay, những tiến bộ phi thường trong ngành di truyền học và sinh học phân tử (molecular biology) trong mấy năm gần đây đã cung cấp cho ngành nhân chủng học một phương tiện cực kì quan trọng trong việc xác định lịch sử tiến hóa của con người và mối liên hệ giữa các dân tộc.

Giá trị của di truyền học trong việc truy tầm nguồn gốc dân tộc đã được đánh giá cao về mức độ tin cậy. Di truyền học là một cửa sổ để chúng ta nhìn lại quá khứ của chúng ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu về di truyền học trong người Việt còn cực kì khiêm tốn, nếu không muốn nói là không đáng kể. Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, đã có một số bằng chứng, tuy gián tiếp, nhưng cũng đủ để chúng ta có lí do để xem xét lại lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt. Những bằng chứng này là:

(a) Năm 1998, Giáo sư Chu và đồng nghiệp (thuộc Trường Đại học Texas) [7] phân tích 15 đến 30 mẫu “vi vệ tinh” DNA (microsatellites) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á (hai thuộc thổ dân Mĩ, một thuộc thổ dân Úc châu, và một thuộc Tân Guinea), 4 nhóm dân da trắng (Caucasian), và 3 nhóm dân Phi châu. Bằng một phương pháp phân tích thống kê có tên là “phân tích phát sinh chủùng loại” (Phylogenetic analysis)”, một số kết quả đáng ghi nhận như sau:

(i) hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi châu và các dân không thuộc Phi châu;

(ii) tất cả các nhóm dân Đông Nam Á “tập hợp” thành một nhóm, và nhóm dân có đặc tính di truyền gần họ nhất là người thổ dân Mĩ châu, kế đến là thổ dân Úc châu, và Tân Guinea (Những kết quả này cũng phù hợp với thời gian định cư ở Úc châu (khoảng 60,000 đến 50,000 năm trước đây, và thời gian định cư ở Mĩ châu (từ 30,000 đến 15,000 năm trước đây);

(iii) các nhóm dân miền nam Trung Quốc phân phối thành ba nhóm, gọi là S1, S2, và S3 (ngoại trừ nhóm S2 là người Hán từ tỉnh Henan, phần còn lại (S1 và S3) gồm các sắc dân trong vùng Yunnan); và

(iv) các sắc dân miền bắc Trung Quốc phân phối thành hai nhóm, gọi là N1 và N2. Nhóm N1 gồm 6 sắc dân nói tiếng Altaic, một nhóm Hán tộc miền bắc từ tỉnh Yunnan. Nhóm N2 gồm 4 sắc tộc thiểu số có lịch sử sinh sống lâu đời ở miền bắc, trong đó có một sắc tộc từ tỉnh Ninxia.

Từ những phát hiện trên, một số mô hình có thể đặt ra để giải thích, nhưng mô hình thích hợp với dữ kiện của Giáo sư Chu và đồng nghiệp là các dân tộc miền Bắc Á được tiến hóa từ các dân tộc Đông Nam Á châu. Các dữ kiện liên quan đến răng, sọ [8-9] cũng nhất quán với mô hình này. Do đó, Giáo sư Chu và đồng nghiệp kết luận rằng: “Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á.” Nói một cách khác, các dữ kiện di truyền học của Giáo sư Chu và đồng nghiệp cho thấy tổ tiên của những người nói tiếng Altaic từ Đông Á đã di cư vào Á châu từ ngã Đông Nam chứ không phải từ ngả Trung Á.

(b) Nhưng nghiên cứu của Giáo sư Chu và đồng nghiệp có một điểm yếu, đó là họ dựa vào vi vệ tinh DNA, một chất liệu di truyền rất “nhạy” (sensitive) và dễ bị đột biến (mutation). Để khắc phục nhược điểm này, một nhóm nghiên cứu khác đã tiến hành một nghiên cứu độc lập và qui mô hơn để xác định nguồn gốc Đông Nam Á của dân tộc Trung Hoa. Nhóm nghiên cứu Mĩ – Trung Quốc phân tích DNA trong nhiễm sắc thể Y trong các nhóm dân Hán (thuộc 22 tỉnh của Trung Quốc), 3 nhóm dân Đông Bắc Á (Buryat, Đại Hàn, và Nhật Bản), 5 nhóm dân Đông Nam Á (Cambốt, Thái Lan, Mã Lai, Batak, và Java), và 12 nhóm dân ngoài Á châu (3 nhóm từ Phi châu, 3 từ Mĩ châu, 2 từ Âu châu, và 4 từ châu Đại dương). Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) trong các nhóm dân Đông Nam Á cao hơn trong các nhóm dân thuộc vùng Bắc Á. Điều này có nghĩa là các sắc dân ở Đông Nam Á có một quá trình định cư lâu dài hơn là các nhóm dân Bắc Á. Dùng các phương pháp phân tích di truyền quần thể (population genetics), các nhà nghiên cứu kết luận rằng con người thời đó đã di cư từ Phi châu sang đến Đông Nam Á [10] vào khoảng 60 ngàn năm về trước, và sau đó đã di chuyển lên phía Bắc Á (kể cả Trung Quốc ngày nay) và Siberia [11]. Ngoài ra, còn có bằng chứng di truyền cho thấy các nhóm dân Polynesians cũng có nguồn gốc từ Đông Nam Á [12].

(c) Trong một nghiên cứu trên 103 người ở Hà Nội [13], các nhà nghiên cứu Việt – Pháp phân tích DNA trong hai gien (HLA-DR và DQB1), và so sánh kết quả này với các sắc dân thuộc châu Đại Dương (Oceania) và Đông Á. Sau khi ước tính khoảng cách di truyền [14] giữa các sắc dân, các nhà nghiên cứu kết luận rằng cấu trúc di truyền của hai gien này trong người Việt gần với người Thái và người Hoa. Các nhà nghiên cứu này kết luận rằng dữ kiện của họ phù hợp với giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ người Trung Hoa và Thái-Nam Dương.

Tuy nhiên, sau khi xem xét kĩ phần phương pháp nghiên cứu, tôi có lí do để cho rằng kết luận này rất có thể không đúng. Những lí do này là: Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ dựa vào hai gien mà thôi (con người có khoảng 35 đến 39 ngàn gien), và với những yếu điểm của mtDNA, các ước đoán về khoảng cách di truyền không ổn định. Thứ hai, ngay cả trong bài báo các nhà nghiên cứu không xây dựng được một cây di truyền nào, và cũng chẳng phân tích phát sinh chủùng loại thì không thể phán đoán về chiều hướng di cư hay nguồn gốc dân tộc được.

(d) Khoảng 2 năm sau, các nhà nghiên cứu này lại tiến hành một nghiên cứu khác trên 50 người cũng ở Hà Nội [15], và cũng qua dùng kĩ thuật PCR (polymerase chain reaction) họ phân tích 6 “restriction enzymes”, và ghi nhận khoảng cách di truyền giữa người Việt và người Hoa rất thấp (chỉ 0.0022), nhưng giữa người Việt và Ấn Độ thì tương đối cao hơn (0.0468), có nghĩa là quan hệ giữa giống người Việt và Hoa gần nhau hơn so với quan hệ Việt và Ấn.

Nghiên cứu này cũng có những yếu điểm như nghiên cứu trình bày phần (c), tức là số lượng gien quá ít (trong trường hợp này chỉ có một gien), và tác giả cũng không tính toán mức độ biến thiên của chỉ số khoảng cách di truyền, nên không thể nào phát biểu khoảng cách giữa Việt – Hoa gần hơn khoảng cách giữa Việt – Ấn. Thực ra, sau khi tính toán lại, tôi thấy hai khoảng cách di truyền (Việt – Hoa và Việt – Ấn) không có sự khác biệt đáng kể (non-significant)!

(e) Tuy nhiên, một nghiên cứu khác trên 5 gien trong nhiễm sắc thể Y trong hai nhóm dân: Bắc Á (Bắc Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Mông Cổ), và Nam Á (Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái, và Việt Nam) cho thấy người Việt gần với các nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á [16]! Chúng ta biết rằng, qua nghiên cứu của Giáo sư Chu, người Hoa phía Bắc Trung Quốc có cấu trúc di truyền khác với người Hoa phía Nam Trung Quốc. Do đó, phát hiện này quả rất khó giải thích. Càng khó giải thích hơn nữa khi phần lớn những người Việt trong nghiên cứu này là cư dân ở Hà Nội, tức gần miền Nam Trung Quốc.

(f) Trong một nghiên cứu dùng mtDNA, Ballinger và đồng nghiệp [17] ghi nhận rằng chỉ số biến thiên (trong di truyền học gọi là F-value) trong người Việt cao nhất trong các sắc dân vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, các tác giả kết luận một cách mơ hồ rằng các dữ kiện này cho thấy “người Á châu có nguồn gốc từ nhóm dân Nam Mông” (nguyên văn: “The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNA with HpaI/HincII morph 1 were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians”). Thực ra, các dữ kiện mà tác giả trình bày không cho phép họ kết luận như thế, bởi vì họ chỉ 7 nhóm dân Á châu mà thôi, và cũng chỉ nghiên cứu trên vài mẫu gien rất nhỏ. Nhưng qua số liệu của các nhà nghiên cứu này, chúng ta có thể phát biểu rằng trong hai gien mà họ nghiên cứu, người Việt có lẽ là một sắc dân cổ nhất trong vùng Đông Nam Á.

Qua các nghiên cứu di truyền dựa vào nhiễm sắc thể Y và mtDNA mà tôi vừa tóm lược và nhận xét cho chúng ta thấy rằng các nhóm dân Đông Á có cùng một nguồn gốc chung: đó là tất cả đều xuất phát từ Phi châu. Cũng dựa theo các dữ kiện mới này, các nhà nghiên cứu ước đoán rằng đợt người đầu tiên di cư đến Đông Nam Á xảy ra vào khoảng 18.000 đến 60.000 năm trước đây, và sau đó từ đây một đợt di cư về phía Bắc. Một đợt khác cũng từ Đông Nam Á di cư sang các quần đảo Thái Bình Dương qua ngả Mã Lai Á ngày nay. Tất nhiên, đây chỉ là “câu chuyện” mới được phát họa, nhiều chi tiết vẫn còn trong vòng nghiên cứu thêm.

Các kết quả của các nghiên cứu này đã cung cấp thông tin cho chúng ta để phát biểu một giả thuyết mới, rằng người Hoa ngày nay, nhất là người Hoa ở phía Nam Trung Quốc, có thể xuất phát từ Đông Nam Á; và có bằng chứng [tuy chưa đầy đủ] cho thấy người Việt có thể là một dân tộc cổ nhất trong vùng Đông Nam Á; cho nên có thể người Việt cũng có thể chính là tổ tiên của người Hoa ngày nay, nhất là các sắc dân ở miền Nam Trung Quốc. Cố nhiên, đó chỉ là một giả thuyết cần được thử nghiệm.

Nguồn gốc con người hiện đại, mà đặc biệt là nguồn gốc dân tộc Việt, là một câu hỏi đơn giản, nhưng câu trả lời thì không đơn giản chút nào. Tổ tiên chúng ta xuất phát từ đâu, họ đến Việt Nam bằng cách nào, vẫn còn là những vấn đề khoa học “nóng”, đòi hỏi nhiều nghiên cứu về di truyền học, khảo cổ học, và ngôn ngữ học. Tuy nhiên, với sự tiến bộ phi thường về khoa học di truyền và công nghệ sinh học trong khoảng mười năm qua, chúng tôi tin rằng việc nghiên cứu quá trình lịch sử di truyền của người Việt chúng ta sẽ đem lại nhiều kết quả thích thú và làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc tổ tiên của chúng ta. Chúng tôi đang làm việc này và hi vọng sẽ có dịp trình bày kết quả nay mai.

NVT

Chú thích:

1. Trong Việt Nam Văn hóa Sử cương (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm 1992), ở trang 24-25, Đào Duy Anh viết: “Nay ta hãy căn cứ vào sự nghiên cứu của các nhà sử học, nhất là các vị giáo sư ở trường Viễn Đông bác cổ, mà xem gốc tích của dân tộc ta như thế nào. Có người cho rằng tổ tiên ta phát xuất từ Tây Tạng, sau theo lưu vực sông Nhị mà di cư xuống miền trung châu Bắc Việt. Nhưng theo ông Aurousseau dẫn chứng có điều rất kỹ càng thì tổ tiên ta lại là người nước Việt ở miền hạ lưu sông Dương Tử, sau bị nước Sở (đời Xuân thu) đánh đuổi phải chạy xuống miền nam ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, rồi lần lần đến Bắc Việt và phía Bắc Trung Việt. Theo nhiều nhà nhân chủng học hiện thời thì ở thời thượng cổ, giống người Indonesian bị giống Aryan đuổi ở Ấn Độ mà tràn sang bán đảo Ấn Độ Chi-na, làm tiêu diệt giống người thổ trước đầu tiên ở đây là giống Melanesian rồi một phần trong đám di dân ấy đi thẳng mãi sang Nam Dương quần đảo, còn một phần ở lại Ấn Độ Chi-na, ở phía nam thành người Chiêm Thành và Cao Man sau đồng hóa theo văn hóa Ấn Độ, ở phía bắc thì hỗn hợp với giống Mông Cổ ở Trung Hoa xuống mà thành người Việt Nam.”

2. Trong Việt Nam Sử Lược (Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, Sàigòn, 1971), ở trang 5, Trần Trọng Kim viết: “Theo ý kiến những nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần xuống phía Đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn người Thái thì họ theo sông Mê-kông xuống, lập ra nước Tiêm la (tức là Thái Lan) và các nước Lào. Lại có nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán tộc (tức người Tàu bây giờ) ở phía Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía nam, người Tam Miêu phải lẩn núp vào rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ. Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ cũng chưa có cái gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.”

3. Sách Hậu Hán thư (tức sử của Trung Quốc) chép: “Phàm đất thuộc bộ Giao Chỉ, tuy đã đặt quận, huyện, nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, nhưng ngôn ngữ vẫn khác nhau, phải có thông ngôn mới hiểu. Người như cầm thú, không phân biệt trưởng ấu (tức không có tôn ti trật tự), búi tóc ở gáy, đi chân không, lấy vải quấn qua đầu làm áo. Sau đó những người tội phạm Trung Quốc đến ở lẫn với họ, mới biết ngôn ngữ dần dần thấy hóa theo lễ. Đến thời Quang Vũ Trung Hung, Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cử Chân, bấy giờ mới dạy cho dân biết cày cấy, biết đội mũ đi giày, đặt mối lái, dân mới biết hôn nhân, dựng học hiệu dạy lễ nghĩa …”

4. Về các bài báo khoa học mang tính tiền phong trong ngành khảo cổ học ở Đông Nam Á, xin xem những bài sau đây: (i) “On the improbability of Austronesian origins in South China,” của Giáo sư William Meacham, đăng trong Tạp san Asian Perspectives, quyển 25, năm 1984-5; (ii) “The nusantao and North-South dispersals,” của Giáo sư Wilhelm G. Solheim II, in trong “Indo-Pacific Prehistory Association Bulletin,” quyển 2, năm 1996; (iii) “Southeast Asia and Korea: from the beginings of food production to the first states,” cũng của Giáo sư Solheim II, in trong “The History of Humanity: scientific and cultural development,” quyển I: “Prehistory and the Beginning of Civilization,” do UNESCO/Routledge (London) xuất bản năm 1994.

5. Sách “Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia,” của Stephen Oppenheimer, Nhà xuất bản Phoenix (London), 1998. Sách khổ 13 x 20 cm, dày 560 trang, kể cả 47 trang tài liệu tham khảo và 28 trang bảng danh mục, chữ loại nhỏ (Times cỡ 8). Giá đề 15 đô-la Canada, hoặc 9 sterling Anh.

6. Theo sách Genesis, và theo truyền thuyết của nhiều nền văn minh cổ, ngày xưa có xảy ra một số trận lụt vĩ đại (hay đại hồng thủy) phủ ngập cả trái đất. Huyền thoại về lụt nổi tiếng nhất là câu chuyện về Noah, một giáo trưởng, được của Thượng đế, xây dựng một chiếc thuyền lớn tên là Ark để gia đình ông ta và mọi sinh vật có thể sống sót qua cơn lụt.

7. Xem bài “Genetic relationship of populations in China,” tác giả J. Y. Chu và đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA) 1998; số 95, trang 11763-11768.

8. Xem bài “Major features of Sundadonty and Sinodonty, including suggestions about East Asian microevolution, population history, and late Pleistocene relationships with Australian aboriginals”, C. G. Turner, Tập san American Journal of Physical Anthropology, năm1990; bộ 82, trang 295-317.

9. Xem bài “Population prehistory of east Asia and the Pacific as viewed from craniofacial morphology: the basic populations in east Asia, VII” T. Hanihara, American Journal of Physical Anthropology, năm1990, năm 1993, bộ 91, trang 173-87.

10. Xem bài “African origin of modern humans in East Asia: a tale of 12000 Y chromosomes,” tác giả Yuehai Ke và đồng nghiệp, [Tập san] Science, năm 2001, bộ 292, trang 1151-1153.

11. Xem bài “Y-chromosome evidence for a northward migration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age,” tác giả Bing Su và đồng nghiệp, [Tập san] American Journal of Human Genetics, năm 1999, bộ 65, trang 1718-1724.

12. Xem bài báo khoa học “Polynesian origins: insights from the Y chromosome,” tác giả Bing Su và đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA), năm 2000, bộ 97, trang 8225-8228.

13. Xem bài “HLA-DR and DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population in Ha Noi”, tác giả A. Vu-Trieu và đồng nghiệp, Tập san European Journal of Immunogenetics, năm 1997, bộ 24, trang 345-356.

14. Khoảng cách di truyền (hay còn gọi là genetic distance) là một thông số di truyền học đo lường mức độ khác nhau giữa các nhóm dân. Chỉ số này có giá trị tối thiểu là 0 (tức hai nhóm dân giống nhau về mặt di truyền), và giá trị tối đa là 1 (tức hai nhóm dân hoàn toàn khác nhau).

15. Xem bài “Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population”, tác giả R. Ivanova và đồng nghiệp, Tập san European Journal of Immunogenetics, năm 1999, bộ 26, trang 417-422.

16. Xem bài “Y chromosomal DNA variation in East Asian populations and its potential for inferring the peopling of Korea”, tác giả W. Kim và đồng nghiệp, Tập san Journal of Human Genetics, năm 2000; bộ 45, trang 76-83.

17. Xem bài “Southeast Asian mitochondrialDNA analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration,” tác giả S. W. Ballinger và đồng nghiệp, Tập san Genetics, năm 1992, bộ 130, trang 139-45.

18. Solheim II WG. New light on a forgotten past. National Geographic, 1971;139:number 3. Trích đoạn, “Theo truyền thống, người ta cho rằng trong thời kỳ tiền sử, kỹ thuật miền Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang đến. Riêng tôi cho rằng văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Trung Quốc mà người ta biết đến chính là kết quả của một nền văn hóa tiền Hòa Bình đã di chuyển từ miền bắc Đông Nam Á lên phía bắc vào khoảng 6000 hay 7000 năm trước Công nguyên.” và […] “Văn hóa Long sơn (Lungshan) vẫn được xem là phát triển từ Ngưỡng Thiều, […] thực ra là đã [được] khai sinh ở Nam Trung Quốc và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình.”

Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 3:32 AM
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/to-tien-nguoi-viet-la-nguoi-trung-hoa.html

(*)

%(count) bình luận »

  1. bai viet cua ba (nghe)do ngoc bich rat nguy hai cho tuoi tre va nhung the he mai sau,ho co tinh dem nhung tu tuong mat goc danh vao tri nao non not cua tuoi tre,lam cho ho mo ho ve nguon goc to tien,day co the la bai viet duoc (dac hang) tu the luc ban nuoc va bon cuop nuoc,khong le ho hoc cao qua,roi quen mat nhung bai hoc lich su so cap,nao nhung tien nhan nhu (tran hung dao,nguyen trai, nguyen hue),da co bao cong lao danh duoi bon giac phuong bac xam chiem viet nam,duoc ca dan toc ton tho, ho lai quen nhung bo mat mai quoc cau vinh (le chieu thong,tran ich tac)bi dan toc khinh bi,la nhung nguoi co trach nhiem nghiem cuu ve lich su viet nam,toi kinh mong chu liet vi nhan gia tri thuc vn,hay da pha nhung bai viet co tinh cach vong no,va noi sai ve lich su vn,lam nguy hai cho lop tre ke thua,va lam loi cho bon ban nuoc va lu cuop nuoc han cong bac kinh./.

    Bình luận bởi thangkhosaigon — 23/04/2010 @ 9:00 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: