Hoàngquang’s Blog

22/03/2010

Giải cứu quốc gia vỡ nợ

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 3:15 chiều
Tags: ,

Đăng bởi anhbasam on 21/03/2010

Nguyễn Quang A (*)

& Robeo84 – Bàn thêm về bài “Giải cứu quốc gia vỡ nợ” của bác Nguyễn Quang A danluan
***
Một công ty không trả được nợ khi đến hạn, sẽ lâm vào trạng thái vỡ nợ. Một quốc gia cũng vậy. Iceland năm ngoái đã rơi vào tình trạng đó, năm nay Hy Lạp đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ.

Một công ty có nguy cơ vỡ nợ nếu không được các chủ nợ, hay các bên thứ ba cứu trợ, thì có thể bị phá sản, phải thanh lý mọi tài sản để trả nợ và bị xóa sổ.

Một quốc gia khó có thể bị xóa sổ, nhưng nguy cơ phải bán tài sản, tô nhượng đất đai hầm mỏ để trả nợ là cao, hay việc các thế hệ tương lai phải còng lưng ra làm việc, chắt bóp chi tiêu để trả nợ là chuyện đương nhiên.

Chính phủ Hy Lạp đã phải đưa ra các chính sách tăng thuế, cắt giảm chi tiêu để có khả năng trả lãi và một phần gốc của món nợ quốc gia hơn 400 tỷ euro. Người dân xuống đường biểu tình chống lại chính sách tăng thuế và cắt giảm phúc lợi.

16 Bộ trưởng tài chính các nước vùng euro dường như đã thống nhất kế hoạch giải cứu Hy Lạp trong cuộc họp tại Brussels ngày 15-3 vừa qua, tuy kế hoạch chi tiết chưa được tiết lộ.

Tại sao một quốc gia có thể lâm vào tình trạng vỡ nợ?

Cũng đơn giản như một hộ gia đình, hay một công ty, chính phủ phải chi tiêu (nuôi quan chức, quân đội, công an, đầu tư phát triển,…) Cân đối với các khoản chi, chính phủ có các khoản thu, nếu thu không đủ chi thì phải đi vay trong hay ngoài nước, còn dùng máy in tiền để chi sẽ gây ra lạm phát khôn lường (thực sự là một loại thuế trá hình đánh vào tất cả mọi người dân).

Nguồn thu nội địa của chính phủ là thuế, phí, bán tài nguyên (thí dụ, dầu, than đá), các khoản khác, và các khoản vay trong nước (bán trái phiếu, tín phiếu).

Các khoản thu từ nước ngoài gồm tiền viện trợ không hoàn lại (thường không đáng kể) và các khoản vay nước ngoài (ODA hay vay thương mại, thí dụ phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế như Việt Nam đã phát hành 1 tỷ USD trong thời gian vừa qua).

Nếu sử dụng các khoản vay không hiệu quả, tham nhũng gây thất thoát và thu không nghiêm (trốn thuế) hay thu không đủ, thì nợ nần có thể chồng chất và rất dễ lâm vào tình trạng vỡ nợ.

Báo chí nêu Hy Lạp vỡ nợ vì tham nhũng và trốn thuế. Xếp hạng tín dụng của Hy Lạp từ mức (A -) đã bị hạ xuống (BBB+) mức thấp nhất trong các nước Châu Âu. Xếp hạng tín dụng thấp càng gây khó khăn cho việc vay mới (khó có thể vay hay phải vay với lãi suất cao).

Việt Nam có lẽ cũng phải nghiêm túc học các bài học đau xót này của Iceland và Hy Lạp, tuy trước mắt tình hình của chúng ta khả quan hơn nhiều do các khoản vay (ODA) dài hạn, lãi suất thấp và tổng dư nợ chưa quá cao. Tuy nhiên mức tăng dư nợ và hiệu quả sử dụng có thể gây lo ngại.

Mức xếp hạng tín dụng của Việt Nam vừa bị Fitch (**) hạ xuống một bậc (xuống mức BB-). Thâm hụt ngân sách của Việt Nam liên tục ở mức cao suốt nhiều năm trời. Các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ tăng nhanh, tuy được nhà chức trách thông báo vẫn ở mức an toàn (mức dưới 40% GDP được gọi là mức an toàn).

Theo Bộ Tài chính, ở thời điểm 30-6-2009 nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 29,8 % GDP (23,6 tỷ USD). Sau tháng 6-2009 Việt Nam đã ký thỏa thuận vay và bảo lãnh có giá trị tổng cộng gần 4,5 tỷ USD (1,205 tỷ USD với Ngân hàng Phát triển Châu Á, ADB; 927 triệu USD với Ngân hàng Thế giới; 1,33 tỷ USD với Nhật Bản; và đã phát hành 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế) đó là chưa kể khoản vay 290 triệu USD Nhật Bản vừa ký cho Việt Nam vay giữa tháng 3 này. Nếu giải ngân hết các khoản này thì nợ nước ngoài của Việt Nam có thể tăng lên khoảng 35% GDP. Chưa rõ nợ trong nước của Chính phủ là bao nhiêu. Nhiều người cho rằng nợ công (trong và ngoài nước) của nhà nước Việt Nam đã vượt quá 50% GDP.

Điều đáng lo ngại là hiệu quả chi tiêu, hiệu quả đầu tư không cao, nạn tham nhũng tràn lan và nạn “khát đầu tư” của các cơ quan nhà nước vẫn không hề dịu đi, và vì thế nợ có thể tăng nhanh nếu không được kiểm soát chặt.

Nào là các dự án bauxite, đường sắt cao tốc mà Quốc hội chắc sẽ bàn, điện hạt nhân, và bao nhiêu siêu dự án khác.

Rồi Bộ Tài chính vừa có Quyết định về việc bổ sung vốn điều lệ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với số tiền trên 10.200 tỷ đồng… vân vân và vân vân.

Tất cả các siêu dự án đó và việc chi cấp vốn cho các tập đoàn và các đại gia quốc doanh cần các khoản tiền khổng lồ.

Nhà nước trung ương vay, các tập đoàn vay và các địa phương cũng vay.

Thành phố Hồ Chí Minh vừa thành lập công ty đầu tư tài chính nhà nước (HFIC) để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, phát hành trái phiếu, vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng; tiếp nhận các nguồn tài trợ, nhận ủy thác các nguồn vốn;…

Hà Nội cũng đang đề xuất để được vay nước ngoài hàng tỷ USD. Có lẽ Hà Nội cũng sẽ noi gương thành phố Hồ Chí Minh để lập ra công ty đầu tư tài chính của mình.

Không rõ các tỉnh thành khác ra sao.

Chưa nói đến chuyện các công ty đầu tư tài chính nhà nước này sẽ chèn ép các ngân hàng trong huy động vốn, tôi chỉ cảnh báo nếu không kiểm soát chặt thì các công ty đầu tư tài chính nhà nước địa phương và các tập đoàn có thể vay tràn lan để đầu tư tràn lan (với lãi suất cao hơn nhà nước trung ương vay) có thể đẩy đất nước lâm vào cảnh nợ nần và có thể có nguy cơ vỡ nợ trong tương lai, đẩy con cháu phải còng lưng trả nợ.

Nạn khát đầu tư là một căn bệnh của bất cứ nhà nước nào, nếu không được giám sát, kiểm soát một cách chặt chẽ. Có quá nhiều cám dỗ và quá nhiều lý do nghe rất “chính đáng” cho việc vay nợ và chi tiêu, song hãy đừng đổ gánh nặng lên các thế hệ tương lai.

Phải xác định thật rõ các việc nhà nước nhất quyết phải làm, phải đầu tư (nuôi quân đội, làm luật, ép thực thi luật, xây dựng hạ tầng,…), nhưng nhà nước đừng đi kinh doanh, đừng đầu tư kinh doanh.

Nếu vẫn còn mụ mẫm trong não trạng “chính phủ không dựa vào các tập đoàn thì dựa vào ai?” hay tập đoàn “khỏe” chính phủ “khỏe” thì khả năng đất nước đến ngày vỡ nợ là rất cao.

Các vị có chức có quyền hãy cẩn trọng.

* Bài viết đã được biên tập lại và đăng trên Tiền phong Chủ nhật, 21-3-2010. Bản ở đây là đầy đủ.

** Có rất nhiều tổ chức cung cấp chỉ số rủi ro tài chính và xếp hạng năng lực tài chính, trong đó chỉ số của Moody’s, Standard & Poor’s và Fitch Ratings được tín nhiệm hơn cả (wikipedia).

513. Giải cứu quốc gia vỡ nợ

Robeo84 – Bàn thêm về bài “Giải cứu quốc gia vỡ nợ” của bác Nguyễn Quang A Kinh tế

Thực ra bài viết này lấy tiêu đề là “giải cứu quốc gia vỡ nợ” xem ra không được ổn cho lắm. Vì đúng ra, tiêu đề nên là “cảnh báo nguy cơ vỡ nợ quốc gia” thì đúng hơn.

Để nói đến “giải cứu” thì vấn đề không chỉ đơn giản là nói chung chung “các vị có chức có quyền hãy cẩn trọng”, mà phải có những phân tích mang tính cải cách, đề ra một phương án cụ thể nào đó. Trong phạm vi này, tôi xin mạn phép có một phân tích nho nhỏ như sau.

1/ Vấn đề muôn thuở: tham nhũng. Tại sao vấn đề này được cho là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng vỡ nợ quốc gia?

Theo thống kê của Transparency International, thì trừ Iceland, các nước có nguy cơ vỡ nợ (Hi Lạp) và đã từng vỡ nợ trong quá khứ (Thái Lan, Indonesia…) đều có chỉ số CPI rất thấp (nhỏ hơn 4). Khi tham nhũng đến mức tràn lan trong một quốc gia, thì sức cạnh tranh giảm sút, do có tham nhũng sẽ có bất công trong cạnh tranh và tăng chi phí bôi trơn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia hối lộ, thì cũng tham gia vào tham nhũng. Tham nhũng của doanh nghiệp là ăn bớt ăn xén trong cách dự án công. Nếu tính theo chiều hướng này, thì không chỉ Đảng viên mới có khả năng tham nhũng, mà chính những người không trong Đảng làm cho các doanh nghiệp tham nhũng cũng tham gia vào tham nhũng. Doanh nghiệp tham gia hối lộ, thì cũng tham gia vào việc gian lận trong sản phẩm, hoặc nâng cao giá thành sản phẩm, do đó sức cạnh tranh giảm sút đáng kể.

Tham nhũng cũng làm cho bộ máy hành chính hoạt động không hiệu quả và làm thiệt hại đáng kể đến sự vận hành của nền kinh tế. Tại Việt Nam, ai cũng phàn nàn rằng cơ chế cồng kềnh, chồng chéo nhưng vẫn không có sự thay đổi đáng kể nào cho đến hiện tại. Chúng ta không thiếu các cán bộ được cử sang các nước có bộ máy hành chính hiệu quả như Nhật, Hàn để học tập và trở về phục vụ cho chính phủ, nhưng những kiến thức họ học được vẫn không được áp dụng hiệu quả. Vậy đó là lý do tại sao? Đó không phải là do tham nhũng làm cản trở sự tiến bộ trong điều hành nhà nước hay sao? Khi tham nhũng can thiệp vào mọi vấn đề của nhà nước, từ việc mua quan bán chức, chạy biên chế, thì không thể hi vọng có sự thay đổi trong cơ chế, nó sẽ vấp phải sự cản trở mãnh liệt từ những người có nguy cơ bị mất hẳn quyền lợi khi có thay đổi.

Trong khi nhà nước luôn hô hào chống nạn tham nhũng, thậm chí liệt tham nhũng vào hạng “vấn nạn quốc gia”, thì ngoài những lời tuyên bố sáo rỗng, chúng ta chưa thể thấy được bất cứ một chính sách nào tỏ ra mạnh tay và hợp lý. Với vị trí một nhà quan sát, thì chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người đã đang và sẽ có hoạt động tham nhũng sẽ không thể tự “bài trừ” chính mình. Một khi phải dùng hối lộ, tham nhũng để có quyền lực, và quyền lực chỉ duy trì được trong ngắn hạn (5 năm) thì trong vòng 5 năm đó, điều đầu tiên của họ là phải “lấy lại vốn, và được lãi càng tốt”. Và đó là lý do tại sao, tham nhũng ngày càng trở nên dễ dàng và trầm trọng tại Việt Nam.

Đó cũng là lý do làm xã hội trở nên hỗn loạn, tắc trách và dẫn đến mất phương hướng.

2/ Vấn đề dân chủ. Không thể phủ nhận Hi Lạp là nhà nước dân chủ. Họ, thậm chí còn là nơi sản sinh ra nền cộng hòa dân chủ đầu tiên trên thế giới. Bắc Triều Tiên được biết đến như một nhà nước độc tài, và tuy nghèo nhưng họ không bị vỡ nợ, vì họ không đi vay tiền từ nước ngoài quá nhiều. Như vậy, vấn đề vỡ nợ của quốc gia, chỉ liên quan trực tiếp đến việc đi vay tiền từ bên ngoài mà thôi. Khi một chính phủ điều hành không hiệu quả, không cân đối được khả năng vay và trả, thì xảy ra vỡ nợ. Tham nhũng làm cho khuynh hướng vay tiền tăng lên với những sự khảo sát về khả năng trả nợ kém cỏi. Một khi con người ta mờ mắt vì viễn cảnh tham ô, thì họ không còn đếm xỉa đến việc nguồn tiền tham ô đó là ở đâu, và họ có trách nhiệm gì với việc có phải trả lại số tiền đó hay không. Một đất nước với nền “dân chủ” và lãnh đạo phi cộng sản cũng không đảm bảo cho đất nước đó không có tham nhũng. Độc quyền lãnh đạo dễ xảy ra tham nhũng, nhưng dân trí thấp kém cũng làm tham nhũng nảy nở. Tại Việt Nam, thì cả 2 đang song song tồn tại, nên tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng và mất kiểm soát.

3/ Nguyên khí quốc gia. Đây là vấn đề quan trọng nhất trong việc phát triển đất nước. Chỉ tại những nước có sự phát triển thực sự và bền vững về khoa học kỹ thuật và ý thức dân chúng mới thoát khỏi tình trạng vỡ nợ và tiến lên thành rồng thành hổ. Chúng ta không cần phải nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn sang các nước láng giềng Trung Quốc và Thái Lan là có thể thấy được điều này. Trung Quốc, như ta thấy thì tham nhũng cũng rất lớn, chỉ số CPI cũng nhỏ hơn 4, nhưng quốc gia này có sự phát triển đáng kinh ngạc cho cả thế giới phải khâm phục. Tất nhiên, vấn đề nội tại của họ về sự chia rẽ, phân hóa giàu nghèo trong nước Trung Quốc là một vấn đề lớn, nhưng rõ ràng họ không có bất cứ nguy cơ vỡ nợ nào cả. Nền khoa học kỹ thuật, nguyên khí dân tộc họ, ta cần công bằng mà nói là hơn hẳn Việt Nam. Thái Lan cũng thế, về nghiên cứu khoa học và cho ra báo, họ vẫn hơn hẳn Việt Nam. Hàng xuất khẩu cùng thể loại của Thái Lan luôn có chất lượng và giá cả tốt hơn Việt Nam. Và đương nhiên, chúng ta còn lâu mới có thể đuổi kịp được họ, một khi nguyên khí của dân tộc ngày càng xuống cấp như hiện nay.

Vậy thì, do đâu mà nguyên khí xuống cấp? Bằng cách nào để ngăn chặn tình trạng trên?

Do: giáo dục sai lệch, không hiệu quả. Xã hội manh tính bộc phát cao v.v…mà nhiều bài viết trong dân luận đã phản ánh.

Bằng cách nào ngăn chặn? Qua kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc thì điều cần thiết là phải có những phong trào nhằm cải cách xã hội.

Vận mệnh dân tộc phải do đa số người trong dân tộc đó quyết định. Để ra được quyết định đúng đắn, thì phải có nhận thức đúng đắn. Để có nhận thức đúng đắn, thì cần phải khôi phục lòng liêm sỉ của người dân và cả giới lãnh đạo cầm quyền. Phải có những tiếng nói mạnh mẽ để làm thức tỉnh lương tri người Việt. Những điều này, quả thực là rất khó, vô cùng khó.

Nhưng chúng ta có làm được không?

Nếu chúng ta không làm được việc này, thì chỉ một số bô lão có lòng tự trọng dân tộc, với tiếng nói yếu ớt của một vài cá nhân, tôi e rằng “giải cứu quốc gia vỡ nợ” là điều không thể.

Robeo84

Advertisements

1 Phản hồi »

  1. VUI SUONG NHAT KHI MUON DUOC NO LA NHA NUOC,
    ho tha ho chia nhau cau xe tham o che chen
    DAU KHO NHAT KHI QUOC GIA VO NO LA NHAN DAN,
    nhan dan thi cong lung dong thue,de tra no cho dam tham nhung nha giau.
    cai cach,thi ai cai ai cach,khong ai co the hon duoc dinh cao tri tue, la chu truong lon cua dang???

    Phản hồi bởi thangkhosaigon — 26/03/2010 @ 10:56 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: