Hoàngquang’s Blog

02/03/2010

Luật hoá cơ chế xin cho?

Filed under: Chính trị- xã hội — hoangquang @ 2:25 chiều
Tags:

TS. Nguyễn Sĩ Phương
28/02/2010 06:00 GMT+7


Luật Thủ đô là một văn bản lập pháp; công đoạn dự thảo hiện ở bất kỳ nhà nước pháp trị nào cũng bắt buộc phải giải trình những căn cứ soạn thảo, gồm đánh giá tình hình thực tế đối chiếu với các chuẩn mực pháp lý hiện hành, đề xuất đích đạt tới, trình bày giải pháp thực hiện, các phương án lựa chọn, kế hoạch tài chính thực thi…
LTS: Trước những phản ứng gay gắt của giới phản biện, báo chí phỏng vấn, dư luận, các nhà soạn thảo Luật Thủ đô vừa nhanh chóng cắt bỏ một số điều khoản gây tranh cãi.Tuy nhiên theo TS Nguyễn Sĩ Phương – hiện đang sống và làm việc tại CHLB Đức vẫn cho rằng, bản dự thảo hiện nay vẫn còn nhiều điều phải cân nhắc. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn này.
Một Hà Nội ngang tầm thủ đô các nước hiện đại là mong muốn của mọi người Việt Nam. Các nước đều có Điều khoản Thủ đô trong Hiến pháp, tuy nhiên văn bản lập pháp nhiều n��ớc điều chỉnh nó cũng chỉ trong mối quan hệ điạ lý hành chính quốc gia.

Ở ta, lẽ ra để thực hiện mục đích đặc biệt trên, Luật thủ đô phải giới hạn chuyên sâu vào phát triển thủ đô (Luật phát triển thủ đô), nhưng đằng này dự thảo lại dàn trải “ôm” tất cả, từ những quyền cơ bản công dân (Điều 19). Thậm chí kể cả người chỉ cần “có mặt trên điạ bàn thủ đô” (Điều 58, mục 1), đến phân định quyền và trách nhiệm của chính phủ, các bộ, chính quyền Hà Nội, không thiếu bất kỳ lĩnh vực nào, từ xây dựng, đầu tư, hợp tác quốc tế, đến văn hoá, y tế, giáo dục đào tạo, dân cư, khoa học công nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, dịch vụ, công nghiệp, quy hoạch, cơ sở hạ tầng, đất đai, môi trường, giao thông, an ninh, quốc phòng, đối ngoại (Điều 9-54) – trên thế giới vốn là đối tượng điều chỉnh của hiến pháp các tiểu bang trong thể chế liên bang, hoặc đặc khu về chính trị, trong khi Hà Nội không phải tiểu bang (như Berlin) hay đặc khu (như Hồng Kông) – dự thảo đã có phần nhầm lẫn bản chất pháp lý của đối tượng điều chỉnh; không chỉ thế, tới mức vượt quá cả cấp độ hiệu lực, đòi phủ định bất kỳ văn bản lập pháp nào khác nó?! (Điều 52, mục 2).

Đến công nghệ làm luật, Luật Thủ đô là một văn bản lập pháp; công đoạn dự thảo hiện ở bất kỳ nhà nước pháp trị nào cũng bắt buộc phải giải trình những căn cứ soạn thảo, gồm đánh giá tình hình thực tế đối chiếu với các chuẩn mực pháp lý hiện hành, đề xuất đích đạt tới, trình bày giải pháp thực hiện, các phương án lựa chọn, kế hoạch tài chính thực thi – làm cơ sở, cung cấp tư liệu cho các công đoạn tiếp theo: góp ý, thông qua, ban hành; phần cuối mới trình bày lời văn của văn bản luật nhằm thực hiện mục đích đặt ra.

Tổng số trang thường dài từ gấp đôi văn bản luật. Trong khi đó, Dự thảo Luật Thủ đô ta, vẫn công nghệ xưa nay, chỉ đơn thuần 1 văn bản luật 23 trang, người đọc không biết được văn bản này căn cứ vào những chuẩn mực lập pháp nào, thoả mãn những đòi hỏi gì từ thực tế, tốn kém ngân sách bao nhiêu…, ngoại trừ vỏn vẹn một câu mở đầu “Căn cứ vào hiến pháp…”; nếu hiểu để khẳng định thẩm quyền thông qua của Quốc hội thì không nhất thiết, bởi đó là hiển nhiên; nếu để hiểu Dự thảo được diễn dịch từ Hiến pháp, thì chỉ cần một dấu hiệu vi phạm sẽ làm thương tổn tính uy nghiêm tối thượng của Hiến pháp, vốn nhà nước pháp trị nào cũng phải “sợ”, bởi một khi chính mình đã vi phạm thì miễn đòi công dân phải thượng tôn, xã hội sẽ bị hệ lụy bất phục và bất tuân pháp luật!

Trước những phản ứng gay gắt của giới phản biện, báo chí phỏng vấn, dư luận, các nhà soạn thảo đã nhanh chóng cắt bỏ một số điều khoản gây tranh cãi. Trước đó, không ít người am hiểu bị bất ngờ, khi các nhà soạn thảo bảo vệ điều 19, mục 1, cấm công dân thường trú ở Thủ Đô, nếu không “tạm trú từ 5 năm trở lên, có chỗ ở hợp pháp… làm việc hợp pháp với mức lương ít nhất bằng 2 lần mức tối thiểu của nguời lao động…”, (phạm Điều 68 Hiến pháp 1992, Điều 48 Bộ luật Dân sự, Điều 3 Luật cư trú, Điều 13 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Điều 12 và Điều 13 Công ước quốc tế) và mục 2, cấm dân ngoại tỉnh vào thủ đô làm việc, nếu không có giấy phép lao động, (phạm Điều 55 Hiến pháp, Điều 5 Bộ luật Lao động, Điều 23 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Điều 12 và điều 13 C��ng ước quốc tế; chưa nói, khái niệm “chỗ ở hợp pháp”, “việc làm hợp pháp”, chẳng nhà nứơc pháp quyền nào dám đưa ra, để phân biệt việc làm nào đó, chỗ trú ngụ nào đó là bất hợp pháp nhưng vẫn tồn tại mà không bị phát luật trừng trị; cũng không rõ các số liệu “5 năm”, và “gấp 2 lần” tính toán từ đâu ra…), bằng cách nguỵ biện: “tạo điều kiện tối đa cho người lao động đến thủ đô để kiếm việc làm” (kiểu yêu cho roi vọt, ghét cho ngọt bùi), hoặc giải thích mâu thuẫn với chính văn bản: “mọi người vẫn được tự do lựa chọn lao động”, hoặc đưa ra một mục đích tốt đẹp: “Làm những điều này để hướng đến một Thủ đô văn minh, lịch sự”, để biện minh cho một biện pháp mang bản chất phân biệt đối xử (cho dù người soạn thảo không có động cơ đó): “Mục tiêu của Chính phủ là chọn lọc những người nhập cư có chất lượng”?! (Xã luận, An ninh Thủ đô 25/1/2010).

Hậu quả điều luật vi hiến có lẽ do người soạn thảo nhẫm lẫn: “…giấy phép lao động ở nước ta không phải là một vấn đề mới. Luật Lao động đã quy định phải có sổ lao động… Giấy phép lao động sẽ kế thừa sổ lao động”?! Cần phân biệt bản chất pháp lý giữa khái niệm “đăng ký, khai báo” với “giấy phép”, chẳng hạn, luật quy định: sinh ra phải đăng ký khai sinh, không có nghĩa không khai sinh sẽ không được chào đời. Trong khi: xây dựng cao ốc phải xin phép, nghĩa ngược lại: không có giấy phép, nhà không được xây. Lao động cần có giấy phép ngược bản chất với phải đăng ký, khai báo để cấp sổ lao động.

Hiện thế giới chưa một nhà nước pháp trị nào bắt công dân mình phải có giấy phép lao động mới được làm việc đâu đó; nếu không, quốc gia họ không còn là của họ. Nhưng cũng không nước nào không áp dụng thẻ hay bảng lương lao động để theo dõi trích nộp bảo hiểm, đóng thuế. Nhầm lẫn trên tác hại lên cả truyền thông viện dẫn chứng cứ thế giới sai bản chất để làm căn cứ thực tế cho điều khoản vi hiến, khi nhầm tưởng: “Pháp cũng có quy định lương thấp không được nhập hộ khẩu”?! (Xã luận, An ninh Thủ đô 25/1/2010).

Luật Tự do Lưu trú của EU hiện tại cho phép “mọi công dân EU” (trừ các nước mới gia nhập) được quyền cư trú tự do ở bất cứ đâu trên đất EU, chứ không chỉ ở nứơc họ. Pháp không ngoại lệ ! Cần nhận thức đúng thực tế: chế độ xin phép cấp hộ khẩu hiện đã không còn trên thế giới, ngoại trừ rất ít nước, như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên…, nhưng quy định: sinh sống ở đâu phải khai báo hộ khẩu tại đó, có ở mọi nước.

Soạn luật trong thời đại hội nhập, rất cần tham khảo luật các nước làm đối chứng. Mức khắt khe của Dự thảo Luật Thủ đô, còn vượt cả Luật lưu trú Đức dành cho người nước ngoài, (một quốc gia có lịch sử phân biệt chủng tộc), quy định tại Điều 9: “Người nước ngoài được cấp phép thường trú, khi đã tạm trú từ 5 năm… tự bảo đảm được cuộc sống… có đủ chỗ ở”. Nó cũng nhân đạo hơn, khi cho phép miễn 2 điều kiện cuối, nếu rơi vào trường hợp bất khả kháng, như “mắc bệnh thần kinh, bệnh tâm lý thể chất, hoặc tàn tật không thể đáp ứng”.

Không chỉ công nghệ, như bao văn bản luật khác, nặng ngôn từ của một nghị quyết đại hội, ít đưa ra quy tắc ứng xử, chuẩn mực pháp lý phải tuân thủ – đòi hỏi bắt buộc của một văn bản luật đúng nghĩa – Dự thảo trao vô số thẩm quyền cho Hà Nội (từ Điều 9 – 54 và 57), nhưng hoặc thiếu chuẩn mực đong đo đếm được, hoặc không phân cấp ban hành, hay ủy quyền cho văn bản dưới luật đưa ra quy phạm, nhiều điều khoản vì vậy sẽ do người hành xử quyết định, (chứ không phải luật pháp) – bản chất của cơ chế xin cho, có thể thấy rõ ở Điều 13, mục 1, Điều 21, mục 2, Điều 52, mục 2. Nhà nước pháp trị không mang nghĩa hình thức: mọi mối quan hệ pháp lý phải tuân theo văn bản lập pháp nào đó; mà mang nghiã bản chất: tuân theo những quy tắc xử sự, chuẩn mực, thứơc đo được quy định rõ trong văn bản đó. Nếu không, cơ chế hành chính xin cho chỉ cần soạn thành văn bản luật là đã có ngay một nền pháp trị!

http://tuanvietnam.net/2010-02-28-luat-hoa-co-che-xin-cho-

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. Nếu việc bọn phản động trong nước, cấu kết với bọn phản động ngoài nước luôn tìm cách phá phác sự an bình của Việt Nam không còn nữa, thì cũng nên bỏ chế độ hộ khẩu và xin đăng ký hộ khẩu…Tuy nhiên ở Việt nam việc bọn phản động phá hoạic rất phổ biến…nên chưa nên bỏ chế độ hộ khẩu, chủ quan việc này mất nước vào tay bọn du côn như chơi…

    Bình luận bởi Chế Trung Hiếu — 03/03/2010 @ 2:53 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: