Hoàngquang’s Blog

27/02/2010

Trung Quốc chuyển động nới rộng tầm với của mình

Filed under: Trung Quốc — hoangquang @ 3:41 chiều
Tags:

Đăng bởi anhbasam on 25/02/2010

Asia Times
Trung Quốc chuyển động nới rộng tầm với của mình
Bài của Antoaneta Bezlova

Ngày 29-1-2008

BẮC KINH – Ngay cả nếu như họ mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các láng giềng luôn cảnh giác ở Đông Nam Á, thì cơn khát năng lượng của Trung Quốc cũng đang lôi cuốn họ làm sống dậy những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ đối với những vùng đất chất chứa tài nguyên giàu có đã ngủ yên trong nhiều năm.

Quyết định của Trung Quốc cuối năm 2007 cho thành lập một đơn vị hành chính mới cấp thành phố để quản lý quần đảo Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa (Paracels) trên vùng Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] có thể không tạo nên một làn sóng nào tại đất nước này, song nó lại làm bùng nổ những căng thẳng trong khu vực và tập trung chú ý của các nước láng giềng trên những vùng lãnh thổ đang gây tranh cãi.

Hai thành phố quan trọng nhất của Việt Nam là Hà Nội và Hồ Chí Minh đã chứng kiến những cuộc biểu tình chưa từng thấy trên đường phố với hàng trăm thanh niên diễu hành quanh Sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc với những biểu ngữ lên tiếng “Đả đảo Trung Quốc !” và “Việt Nam muôn năm !”.

Vào đầu tháng 1, một cuộc xung đột giữa các tàu đánh cá Trung Quốc và Việt Nam trên vùng hải phận quốc tế thuộc Vịnh Bắc Bộ đã gây nên những phản kháng từ phía Trung Quốc. Phương tiện truyền thông Trung Quốc đã tố cáo các tàu cá Việt Nam đã bắn và tấn công vào các ngư dân Trung Quốc.

Và ngay cả trước khi các vùng Biển Nam Trung Hoa trở lại yên bình, Đài Loan đã tuyên bố rằng Tổng thống Chen Shui-bian (Trần Thủy Biển) đã lên kế hoạch thăm quần đảo Trường Sa, củng cố thêm cho tuyên bố chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ đang tranh chấp này.

Những chuỗi đảo thuộc Trường Sa và Hoàng Sa từ lâu đã từng là những điểm gây xung đột. Trong khi quần đảo giàu dầu lửa Trường Sa được tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc một phần bởi Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan, thì quần đảo Hoàng Sa được Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan nhận là của mình.

Những năm 1980 và đầu 1990 đánh dấu sự tranh giành dữ dội giữa các nước Đông Nam Á khi họ bắt đầu cho xây dựng những đường băng, cảng đánh bắt hải sản, cột đèn biển và các trạm quan sát trên những đảo nhỏ và bãi đá ngầm. Họ còn bắt đầu việc khai thác nguồn dầu khí qua việc hợp tác với các công ty dầy khí nước ngoài.

Trung Quốc tự hào đã đi đầu trong việc tạo sự ổn định cho phần khu vực này bằng việc cam kết một chính sách “đối xử tốt và giúp ích” cho những nước láng giềng của mình. Trong một nỗ lực tăng cường mối liên kết với 10 thành viên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Bắc Kinh đã cố kìm chế tránh nhấn mạnh đến những quyên bố chủ quyền lãnh thổ, thay vào đó là tuyên bố rằng cả khu vực sẽ cùng được phát triển.

Thỏa thuận đột phá vào năm 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN đã cam kết tất cả các bên giải quyết những xung đột trên vùng Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] trong hòa bình. Hai năm sau, Trung Quốc và Philippines đã thỏa thuận cùng khai thác dầu và nguồn khí gas dồi dào trong khu vực và năm 2005 hai nước này có thêm sự tham gia của Việt Nam tiến hành quản lý việc khảo sát thăm dò trữ lượng trên Biển Nam Trung Hoa.

“Trung Quốc luôn coi việc giải quyết những xung đột trên Biển Nam Trung hoa [Biển Đông] là một quá trình,” He Sheng, một chuyên gia nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Các Quan hệ Quốc tế Trung Quốc tuyên bố. “Chúng tôi muốn khởi động với những dự án khả thi và được thực hiện từng bước theo hướng giải quyết dần những điểm khó khăn hơn. Để hoàn thành mục tiêu cùng thăm dò và cùng khai thác các tài nguyên biển chúng ta cần có sự kiên nhẫn và tin tưởng hơn.”

Tuy nhiên thời kỳ yên bình tương đối đã chấm dứt đột ngột khi mà tháng 12 đã có những cuộc biểu tình dân tộc chủ nghĩa trên đường phố, được cho rằng do chính phủ bật đèn xanh, đã bùng lên trên các thành phố lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam đã có những mối nghi ngờ mang tính lịch sử về người hàng xóm khổng lồ của mình và năm 1979 hai nước này đã giao tranh trong một cuộc chiến biên giới ngắn ngày.

Những cuộc biểu tình tiếp theo sau những tin tức về kế hoạch được cơ quan lập pháp Trung Quốc phê chuẩn thành lập mới một đơn vị hành chính cấp thành phố lớn được gọi là Sansha (Tam Sa) với các cơ quan đầu não đóng ở đảo Hainan (Hải Nam) kiểm soát ba quần đảo Paracel (Hoàng Sa), Spartly (Trường Sa) và Macclessfield Bank (Trung Sa).

Trung Quốc – tự mình quá tinh quái trong việc sắp đặt “tự nhiên” các cuộc biểu tình dân tộc chủ nghĩa – đã quở trách Việt Nam về những cuộc biểu tình nhưng lại khước từ việc thừa nhận những thông tin về việc nâng cấp theo kế hoạch các chính quyền từ quần đảo Woody trên đảo Paracels (Hoàng Sa) lên thành một “thành phố cấp tỉnh” mới của Sansha (Tam Sa, một cái tên rút gọn của Xisha, Nansha và Zhongsha, tên Trung Quốc cho các quần đảo Tây Sam Nam Sa, Đông Sa), một phần tỉnh Hainan (Hải Nam).

Tuy nhiên lại có một trang thông tin chính thức trên Internet cho thành phố Sansha (www.sanshashi.com), tuyên bố về sự ra mắt của nó vào tháng 11-2007. Việc này căn cứ theo những đòi hỏi chủ quyền trong lịch sử của Trung Quốc đối với các quần đảo dựa trên sự phát hiện không được kiểm chứng của một người Trung Quốc thời Nhà Tần (trong khoảng năm 200 trước Công nguyên) và yêu cầu đặt các toán đồn binh đế chế Trung Hoa trên Quần đảo Hoàng Sa ngay từ năm 1045.

Tuần trước, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Tang Jiaxuan (Đường Gia Triền) và Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Gia Khiêm đã có một cuộc hội kiến ở Bắc Kinh trong một nỗ lực nhằm đặt những căng thẳng gần đây ra phía sau. Trung Quốc đã không bỏ phí thời gian lặp lại những đòi hỏi chủ quyền của họ tại những quần đảo đang tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa.

“Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi tại các hòn đảo trên Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] và vùng lãnh hải bao quanh,” người phát ngôn bộ ngoại giao Trung Quốc Jiang Yu tuyên bố tại một cuộc họp báo thường lệ hôm thứ Năm. “Các nhà lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận giải quyết những tranh chấp trên biển thông qua đối thoại và tham khảo ý kiến lẫn nhau.”

“Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã quả quyết hơn trong mọi tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết với các nước láng giềng song tôi tin vào lý do đằng sau quyết định cho những hành động về Tam Sa là chuyện dầu lửa,” một nhà ngoại giao tại Bắc Kinh nhận định.

Kể từ khi theo kịp Nhật Bản để trở thành nước nhập khẩu dầu lớn thứ hai thế giới vào năm 2003, Trung Quốc đã soi sét kỹ lưỡng vai trò của họ trên thị trường năng lượng toàn cầu. Thói phàm ăn tục uống về năng lượng và nguyên vật liệu của đất nước bị cho là đã đẩy giá dầu lên cao trên khắp thế giới.

Năm ngoái Trung Quốc dựa vào số dầu nhập khẩu chiếm 50% lượng cần thiết. Trong khi đó lượng dầu nhập khẩu của nước này chiến tới 9% tổng lượng dầu trao đổi trên toàn thế giới, việc tiêu thụ dầu của nó được dự đoán sẽ tăng vọt trong những năm tới.

Các chuyên gia Trung Quốc không giấu giếm về nhu cầu đối với Bắc Kinh trong việc triển khai “chính sách ngoại giao năng lượng” để bảo vệ nguồn cung cấp dầu lửa và khí gas của đất nước họ.

484. Trung Quốc chuyển động nới rộng tầm với của mình
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
http://anhbasam.com/2010/02/25/484-trung-quốc-chuyển-dộng-nới-rộng-tầm-với-của-minh/

FINANCIAL TIMES
Vì sao Mỹ và Trung quốc sẽ đụng độ?Đăng bởi anhbasam on 22/01/2010

Gideon Rachman

Ngày 19-1-2010

Sự xung đột của Google với Trung quốc lớn chuyện hơn nhiều so với số phận của một công ty đơn lẻ, hùng mạnh. Quyết định của công ty rút khỏi Trung quốc, nếu chính quyền sở tại không thay đổi chính sách kiểm duyệt, là một điều báo trước mối quan hệ ngày càng sóng gió giữa Mỹ và Trung quốc.

Lý do vụ Google quan trọng như vậy là vì nó cho thấy các giả định làm cơ sở cho chính sách của Mỹ đối với Trung quốc kể từ vụ thảm sát Thiên An Môn 1989 đã sai hoàn toàn. Nước Mỹ đã chấp nhận – thậm chí hoan nghênh – sự nổi lên của Trung quốc như một thế lực kinh tế to lớn vì những nhà làm chính sách Mỹ tự thuyết phục rằng mở cửa kinh tế chắc chắn sẽ dẫn đến tự do chính trị ở Trung quốc.

Nếu giả định đó thay đổi, chính sách của Mỹ đối với Trung quốc sẽ thay đổi cùng với nó. Chào đón sự nổi lên của một nền kinh tế khổng lồ châu Á cùng lúc chuyển thành một nền dân chủ tự do là một chuyện. Bảo trợ sự phát triển của một nhà nước Leninist độc đảng, là đối thủ địa chính trị xảo trá duy nhất của Mỹ, lại là một chuyện khác. Kết hợp sự tan vỡ ảo tưởng chính trị nầy với tình trạng thất nghiệp hai con số ở Mỹ vốn đang bị chỉ trích rộng rãi là do sự thao túng tiền tệ của Trung quốc, bạn sẽ có công thức của một cuộc chống lại Trung quốc.

Cả Bill Clinton và George W. Bush vững tin rằng tự do thương mại và, đặc biệt, thời đại thông tin sẽ làm cho thay đổi chính trị tại Trung quốc là điều không thể tránh khỏi. Trong chuyến thăm Trung quốc năm 1998, Clinton tuyên bố: “Trong thời đại thông tin toàn cầu nầy, khi thành công kinh tế được xây trên tư tưởng, tự do cá nhân là thiết yếu cho sự vĩ đại của bất cứ quốc gia nào. Một năm sau, Bush đưa ra quan điểm tương tự: “Tự do kinh tế tạo nên tập quán tự do. Tập quán tự do tạo nên kỳ vọng dân chủ… Thương mại tự do với người Trung quốc và thời gian thuộc về chúng ta.”

Hai tổng thống phản ánh tư duy phổ biến của các học giả có ảnh hưởng nhất của Mỹ. Tom Friedman, nhà bình luận của tờ New York Times và tác giả của các cuốn sách bán chạy về toàn cầu hóa, từng tuyên bố thẳng: “Trung quốc sẽ có tự do báo chí. Toàn cầu hoá sẽ điều khiển nó.” Robert Wright, một trong những nhà tư tưởng mà Clinton hâm mộ, cho rằng nếu Trung quốc chọn ngăn chặn tự do truy cập internet, “cái giá sẽ là sự thất bại kinh tế tồi tệ”.

Cho đến nay, thực tế đang trái ngược với lý thuyết đó. Trung quốc tiếp tục kiểm duyệt các phương tiện truyền thông mới và cũ, nhưng khó mà chỉ trích nó dẫn đến “thất bại kinh tế tồi tệ”. Ngược lại, Trung quốc giờ đây là nền kinh tế lớn thứ hai và là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, có dự trữ ngoại hối trên 2.000 tỉ đôla. Nhưng toàn bộ sự phát triển kinh tế nầy cho thấy rất ít dấu hiệu kích động những thay đổi chính trị mà Bush và Clinton dự tính. Có chăng là chính quyền Trung quốc dường như ngày càng đàn áp mạnh hơn. Lưu Hiểu Ba, nhân vật bất đồng chính kiến hàng đầu, vừa rồi đã bị kết án 11 năm tù vì dính líu đến phong trào Hiến Chương 08 kêu gọi cải cách dân chủ.

Quyết định đương đầu với nhà cầm quyền Trung quốc là dấu hiệu đầu tiên cho thấy người Mỹ bắt đầu chán ngấy làm việc với chế độ toàn trị Trung quốc. Nhưng áp lực lớn nhất hầu như từ các chính khách chứ không phải từ các nhà kinh doanh. Google là một công ty ngoại lệ trong một ngành ngoại lệ về mặt chính trị. Nếu Google thực sự rút khỏi Trung quốc, nó có vẻ sẽ không bị xô đẩy trong một cuộc tháo chạy tán loạn của các công ty đa quốc gia khác chạy theo nó. Đối với đa số các công ty lớn, thị trường của nước nầy quá lớn và quá hấp dẫn để bỏ qua. Bất chấp Google, các doanh nghiệp Mỹ vẫn duy trì cuộc vận động tranh cãi về tiếp tục cam kết với Trung quốc.

Áp lực chấm dứt cam kết sẽ đến từ các nhà hoạt động công đoàn, những viên chức an ninh diều hâu và các chính khách – đặc biệt ở Quốc hội. Đến bây giờ, chính quyền Obama đã đặt chính sách của mình vững chắc trên giả định đã chi phối cách tiếp cận của Mỹ đối với Trung quốc trong một thế hệ. Các phát biểu riêng lẻ về châu Á vừa qua là tuyên bố cổ điển của tình trạng cam kết của Mỹ với Trung quốc – bao gồm sự khẳng định mang tính nghi thức là nước Mỹ hoan nghênh sự nổi lên của Trung quốc. Nhưng sau khi bị truyền hình kiểm duyệt tại Thượng Hải và bị một viên chức Trung quốc cấp thấp công kích tại hội thảo khí hậu Copenhaghen, Barack Obama có lẽ cảm thấy bớt sốt sắng hơn với Bắc Kinh. Một dấu hiệu đầu tiên cho thấy Nhà Trắng sẽ có chính sách cứng rắn hơn trong những tháng tới, với quyết định chính thức gọi Trung quốc là “kẻ thao túng tiền tệ”.

Ngay khi chính quyền tự mình không chuyển động, những tiếng nói yêu cầu phải có chính sách cứng rắn hơn đối với Trung quốc hầu như ngày càng lớn hơn tại Quốc hội. Quyết định của Google làm rõ rằng mối nguy hiểm tấn công trên mạng từ Trung quốc sẽ đóng vai trò làm gia tăng lo ngại an ninh của Mỹ đối với Trung quốc. Sự phát triển của hệ thống hoả tiễn Trung quốc đe doạ sự thống trị của hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương cũng gây quan ngại ở Washington. Việc bán vũ khí Mỹ cho Đài loan sắp tới cũng đã khuấy động một cuộc tranh cãi.

Trong khi đó, chủ nghĩa bảo hộ dường như đang trở nên được tôn trọng về mặt tri thức hơn ở Mỹ theo những cách thức mà Trung quốc nên lo lắng.

Một cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung quốc khó mà được hoan nghênh. Nó có thể đẩy thế giới vào suy thoái và tạo ra những căng thẳng mới trong chính trị quốc tế. Nếu nó xảy ra, cả hai phía đều bị lên án. Mỹ đã chủ tâm ngây thơ về mối quan hệ giữa tự do thương mại và dân chủ. Người Trung quốc đã khiêu khích về tiền tệ và nhân quyền. Nếu họ muốn tránh khỏi xung đột tàn phá với Mỹ, họ nên có những thay đổi trong chính sách.

Người dịch: CBL
445. Vì sao Mỹ và Trung quốc sẽ đụng độ?

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng bởi anhbasam on 22/01/2010

Sự khẳng định của Trung Quốc trên biển
Biển Động

Phía Đông và phía Nam, Trung Quốc làm cho mọi người chú ý
Bắc Kinh ngày 21-01-2010

Từ Tạp chí Kinh tế – bản in

“Biển của hòa bình” là tiêu đề mà Trung Quốc đã ban cho vùng đại dương lân cận của mình. Thế nhưng tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các nước láng giềng vẫn đang sôi động. Trong mấy tuần gần đây, Nhật Bản và Việt Nam đã phàn nàn về điều mà họ cáo buộc là bị Trung Quốc xâm lấn. Rất khó quy lỗi cho bên nào. Nhưng vào lúc phương Tây càng nhận ra rằng Trung Quốc đang chứng tỏ sức mạnh cơ bắp của mình thì những nước ở gần biển với Trung Quốc cũng lo ngại rằng Trung Quốc càng có thái độ gây hấn. Những cuộc cãi vã thường trầm trọng hơn do việc tranh giành dầu lửa và khí đốt dưới đáy đại dương.

Gần hai năm trước, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt tới một thoả thuận về những đòi hỏi của đối phương của mình ở vùng biển Đông Trung Quốc làm cho nó có vẻ như thể là cuộc chiến dài hạn bằng lời nói có lẽ cuối cùng cũng đi đến kết thúc. Thế nhưng bây giờ thì hai nước đã quay trở lại cuộc chiến đó. Báo chí Nhật Bản đã đưa tin rằng Ngoại trưởng Nhật, ông Katsuya Okada, hôm 17-1 đã cảnh báo người đồng nhiệm Trung Quốc đang viếng thăm, ông Yang Jiechi, rằng Nhật có thể “đo lường” được việc Trung Quốc đơn phương phát triển khu mỏ khí Chunxiao (tiếng Nhật gọi là Shirakaba).

Khu Chunxiao chỉ nằm một ít phần bên Trung Quốc, điều mà Nhật Bản đòi chủ quyền vì là đường nằm giữa hai nước, phân chia khu đặc quyền kinh tế của hai nước ở Biển Đông Trung Quốc. Nổi lo sợ của Nhật là [Trung Quốc] khai thác khí đốt ở Chunxiao có thể hút hết gas ở mỏ từ phía Nhật. Các thỏa thuận đạt được hồi tháng 6-2008 đã cho phép hai bên khai thác chung khu vực này. Nhưng năm ngoái Nhật Bản nhận ra có các hoạt động cho thấy rằng Trung Quốc đã chuẩn bị các dụng cụ để khai thác một mình. Phía Trung Quốc thì nói rằng họ chỉ làm công việc bảo trì. Nhật Bản mong đợi đôi bên sớm có được một hiệp ước quy định chi tiết cụ thể từng phần như thế nào sau thoả thuận 2008. Trung Quốc đã cản trở điều đó. Chỉ sau khi có các cuộc tranh luận nóng bỏng diễn ra thì ông Yang mới nói với ông Okada rằng ông ta vẫn đang “ấp ủ” hiệp ước.

Ngày 19-1, Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bằng thứ ngôn ngữ gợi nhớ lại những lần đóng băng trong quan hệ song phương, họ nói rằng việc xử lý thích hợp tranh chấp mang tính quyết định đối với quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng như sự ổn định trong khu vực. Nếu đo lường đúng, nó cũng đặt vào một vụ tranh chấp phức tạp hơn về một hòn đảo nhỏ của Nhật trong vùng Thái Bình Dương, Okinotorishima. Trung Quốc nghi ngờ Nhật Bản đang cố xây lên cái mà Trung Quốc bác bỏ như “chỉ đơn thuần là một hòn đá” hơn là một hòn đảo hoàn hảo. Điều này có thể gia tăng những đòi hỏi của Nhật về một vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý (370km) từ đảo san hô, đảo nằm trong lộ trình quân sự quan trọng giữa đảo Guam của Mỹ và Đài Loan. Tuyên bố như thế sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng lợi ích của cộng đồng quốc tế, người phát ngôn của Trung Quốc nói (và có lẽ ông ta đã bỏ qua không nói, điều đó làm phức tạp đến các hoạt động của hải quân Trung Quốc).

Trung Quốc đang tăng cường [các hoạt động quân sự] riêng của mình ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo nằm ở vùng biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông của VN: người dịch) và Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền ở đó (trong khi Đài Loan thì không quan tâm lắm). Hồi tháng 12, với sự phẫn nộ của Việt Nam, Trung Quốc đã đưa cả quần đảo Hoàng Sa vào trong kế hoạch phát triển du lịch của họ trên tỉnh đảo Hải Nam. Hoàng Sa có các bãi biển đẹp nhưng toàn bộ những người cư trú trên đó là một bộ phận không được mời, Quân đội Giải phóng Nhân dân [Trung Quốc].

Lo lắng trong khu vực về những tham vọng của Trung Quốc đã gia tăng kể từ khi căng thẳng trên biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) hồi đầu năm ngoái giữa các tàu của Trung Quốc với tàu giám sát của Mỹ. Trong tường trình trước Quốc hội ngày 13 tháng giêng, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Đô đốc Robert Willard cho biết, hải quân Trung Quốc đã gia tăng tuần tra trên biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) và đã “cho thấy họ gia tăng việc sẳn sàng đối đầu với các quốc gia trong vùng, ở vùng biển phía trên và trong dãy đảo tranh chấp”. Trung Quốc giương nanh múa vuốt trước bất kỳ sự ám chỉ nào cho thấy rằng nước này có thể là một anh hàng xóm dễ cáu giận.

Người dịch: Ngọc Thu
444. Biển Động
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng bởi anhbasam on 22/01/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
VIỆT NAM ĐÓN NĂM MỚI VỚI NHIỀU VẤN ĐỀ LO TOAN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 14-1-2010

(Danchimviet)

Tập đoàn sản xuất vũ khí Raytheon của Mỹ vừa tuyên bố họ đã nhận được đơn đặt hàng quân sự trị giá 1,1 tỷ USD từ phía Đài Loan. Theo đó, Mỹ sẽ cung cấp cho Đài Loan các hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot. Câu chuyện về việc Quốc hộ Philippin đã thống qua dự luật về chủ quyền biển năm 2009 vừa xong khiến Trung Quốc tức giận thì nay lại đến chuyện Đài Loan, nơi chỉ cách Đại lục một eo biển và người dân hai bên cùng một gốc Hoa thần chủng, cùng nói tiếng Bắc Kinh (tiểng phổ thông) nay vẫn còn họ hàng anh em đi lại thăm nhau, thế mà hàng năm họ đã đổ ra hàng chục tỷ USD lo tân trang, mua sắm tên lửa, tàu chiến trước những cái mà hòn đảo này cho là mối đe doạ từ phía Đại lục.

Rồi việc Malaixia cũng phải bỏ tiền mua máy bay và nhiều vũ khí hiện đại của Pháp… là các dấu hiệu cho thấy các nước trong khu vực đang rất lo lắng về việc có các tàu chiến lớn với lá cờ đỏ nhiều sao suốt ngày diễu hành trên Biển Đông và thường làm những chuyện bất thường như bắt bỏ các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam và các nước trong khu vực chủ quyền của chính họ. Những động thái đó là bất bình thường và như thể họ tự cho đây là khu vực riêng cảu mình, có độc quyền cai quản khu vực này dù nằm cách xa đất nước họ, điểm nhô ra biển nhất cũng là hàng trăn ngàn hải lý, đe doạ đến an ninh của các nước trong khu vực cùng chung sống.

Người ta lại đặc biệt quan tâm đến việc vừa mới đây ngày 23/12/2009, Đài Loan lại quyết định mua của Tập đoàn sản xuất vũ khí Raytheon của Mỹ hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot, một điều chắc chắn không làm hài lòng người anh em ruột thịt Trung Quốc. Là người bà con anh em cùng một gốc Hoa thì câu hỏi được đặt ra là tại sao Đài Loan hàng năm cứ phải lo mua sắm tên lửa, máy bay và tàu chiến để bảo vệ lãnh thổ của mình? Phải tìm hiểu được nó thì người ta mới có thể lý giải các việc lo toan của các quốc gia khác nhau trong khu vực khi thấy một người khổng lồ chân đất sau ba thập kỷ nay trở thành một cường quốc đang khiến các quốc gia này phải toát mồ hôi lo lắng trăm chiều và cảnh giác cao độ.

Để tìm hiểu câu trả lời, người ta rất chú ý đến những phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo Đài Loan phải trả lời trước dân chúng của mình về việc chỉ số tiền tốn kém để trang bị dàn tên lửa phòng thủ của mình, đó là trước tình trạng hiện nay Trung Quốc vẫn có ít nhất 1500 tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm thấp luôn hướng về Đài Loan và nhiều tàu chiến, máy bay chiến đấu hiện đại của phía Trung Quốc luôn sẵn sàng thực hiện lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo Trung Quốc là “không tha thứ cho hòn đảo này nếu họ tuyên bố độc lập”.

Vì thế, Đài Loan nhiều năm qua liên tục mua sắm các tàu chiến và máy bay của Mỹ và nhiều quốc gia khác để phòng thủ nhưng nay họ tập trung chủ yếu vào việc mua tên lửa Mỹ để phòng vệ. Như tuyên bố của nhà lãnh đạo Đài Loan thì: “Hệ thống Patriot là một nhân tố quan trọng trong việc cung cấp khả năng phòng thủ tên lửa và phòng thủ trên không, giúp Đài Loan có thể tự bảo vệ được mình”. Ngoài ra trên dọc các bờ biển của mình, Đài Loan đã phải xây các hầm phòng thủ kiên cố để cho dân ẩn nấp khi có một cuộc giao chiến với Trung Quốc. Các hầm cố thủ đó có đủ sức chống được cả những đòn tấn công bằng tên lửa và pháo hạng nặng từ phía Trung Quốc một khi họ bị tấn công. Vì thế, dư luận quốc tế càng thông cảm với Việt Nam trong tình trạng một số đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, đã vậy người dân đánh cá luôn bị quấy nhiễu, bị săn đuổi bắt bớ dù đang làm ăn đánh bắt cá trên chính vùng biển và lãnh hải của quốc gia mình.

Không chỉ có Việt Nam mà ngay cả dư luận quốc tế đều thấy một điều lạ là mới cách đây không lâu tại các khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, các vua chúa Việt Nam còn cử người ra trông nom đảo biển của mình, điều đó đã được thể hiện bằng những chứng tích vừa thu được qua các phong dụ, bút tích của các triều đại vua chúa Việt Nam, của nhà Nguyễn và mới đây nhất của vua Bảo Đại trao thưởng cho các quần thần có công trông nom Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, trong đó có cả các sỹ quan người Pháp. Những khu vực đó từ xa xưa chưa bao giờ trong lịch sử được chính nhà Hán, nhà Thanh coi là lãnh hải của mình.

Vì thế chuyện nhà nước Việt Nam dẫu kinh tế còn có nhiều khó khăn, đời sống dân còn nhiều khó khăn, còn nghèo khó nhưng nhân dân rất vui vẻ, đồng tình với việc nhà nước phải dành tài chính mua sắm vũ khí như tàu ngầm, máy bay chiến đấu, tên lửa để bảo vệ biển và đảo của mình, đặc biệt khi mà Hoàng Sa và Trường Sa là vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Không những thế, nơi nơi nô nức sưu tầm hiến tặng các văn kiện, di tích lịch sử khẳng định chủ quyền về biển và đảo của Việt Nam từ những đời vua trước đây. Trong các văn bản thời đó cho đến thời Pháp thuộc đã chứng minh hùng hồn chủ quyền của đất nước Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và ngay cả đến thời Pháp thuộc cũng không hề có dấu ấn dù nhỏ nhất nào về chủ quyền mơ hồ của phía Trung Quốc với hai quần đảo này. Có thể nói, đây là thắng lợi quan trọng về mặt chứng cứ pháp lý.

Những ngày qua, bầu không khí tại khu vực này như lại càng nóng lên khi nhiều dân lành Việt Nam bị cướp tàu và các phương tiện sinh sống trở về nhà với hai bàn tay trắng luôn trong tinh thần hoảng loạn sau những ngày bị hành hạ, rồi lại chuyện Trung Quốc ngang nhiên tổ chức các tour du lịch đưa khách đến thăm Hoàng Sa, Trường Sa, những hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Phải chăng đây là biểu hiện rõ nết nhất về việc Trung Quốc quyết tâm thể hiện ý chí muốn biến Biển Đông thành biển nhà mình, bất chấp công ước quốc tế, không tuân thủ các nguyên tắc ứng xử về biển như họ đã cam kết với Việt Nam và các quốc gia trong khu vực và thể hiện ý đồ hợp thức hoá phù phép để biến đảo và biển của Việt Nam thành của mình? Rồi các cuộc diễu binh nhân ngày quốc khánh vừa qua, đó là lúc Trung Quốc có dịp để dương oai, trưng bày một phần kho vũ khí hiện đại của mình, nhưng liệu đã đến mức khiến các nước láng giềng nhìn vào mà khiếp nhược không? Câu trả lời dứt khoát là không! Tất cả các nước trên thế giới đều cho rằng Việt Nam từ xưa đến nay vẫn chủ trương giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải bằng thương lượng hoà bình, công bằng bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau nhưng cách làm này rất tiếc hình như phía Trung Quốc không muốn lắng nghe. Đã thế, phía Trung Quốc luôn muốn dùng thế thượng phong của một cường quốc lớn, kẻ mạnh để cho mọi người thấy Biển Đông là của mình họ”.

Người Việt Nam xưa nay có câu: “Thương nhau rào dậu cho kín”, trước những thách thức lớn không gì hơn là Việt Nam buộc phải trang bị hiện đại hoá quân đội của mình, công khai minh bạch trước dư luận quốc tế về chủ quyền biển và hải đảo của mình bằng các chứng cứ lịch sử và pháp lý không thể chối cãi, một mặt vẫn phải tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ biển và đảo thuộc chủ quyền của mình. Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần cực lực lên án hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể chối cãi của Việt Nam. Mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có các trí thức, các vị tướng lĩnh đã biểu thị lòng căm phẫn về các việc làm trên đây của Trung Quốc và đã đề nghị Nhà nước Việt Nam phải có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ lãnh hải, biển, và các đảo của Tổ quốc mình. Dư luận quốc tế cũng tỏ ra rất quan ngại về các hành động trên của phía Trung Quốc và đều nhất trí cho rằng ý đồ của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông thành “ao” của mình không phải là điều dễ dàng vì các nước càng bị sức ép của Trung Quốc họ càng tỏ thái độ không sợ sệt, càng kiên quyết hơn mà biểu hiện cụ thể là vừa qua Quốc hội Philippin đã quyết định xác lập chủ quyền vùng lãnh hải của mình bất chấp sự phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc, và càng có khả năng các nước nhỏ ở khu vực này sẽ liên kết lại thành một lực lượng lớn để đủ sức tạo cùng với Mỹ một thế cân bằng trong khu vực.

Đúng như Tướng Daniel Schaeffer (Pháp) đã tuyên bố trong cuộc hội thảo về Biển Đông tại Hà Nội vừa qua là: “ASEAN phải hành động cùng nhau trước khi thảo luận với Trung Quốc. Bằng cách đối thoại, dần dần từng bước vấn đề Biển Đông sẽ được giải quyết. Và sẽ là hữu ích nếu ASEAN tìm sự hỗ trợ từ các chuyên gia bên ngoài”. Nhận định của viên tướng này nay cũng trở thành nhận định của nhiều vị tướng lĩnh Mỹ, Pháp, Đức và là câu nói cửa miệng của các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á cũng như các nhà bình luận quân sự hiện nay.

Người ta rất quan tâm đến những ý kiến của Tướng Daniel Schaeffer tại hội thảo ở Hà Nội khi ông nêu lên sự thật về đường lưỡi bò của Trung Quốc với những sự vô lý của nó, dựa trên Công ước Luật biển Quốc tế 1982 và những bằng chứng lịch sử liên quan đến Biển Đông mà ông có điều kiện tiếp xúc sớm và tiếp tục tìm kiếm các tài liệu quý về Biển Đông tại Pháp để đưa ra các bằng chứng lịch sử không thể chối cãi. (Ông Daniel Schaeffer từng là tuỳ viên quân sự Pháp tại Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc). Người ta cho rằng nếu Việt Nam đưa vấn đề này ra trước toà án Quốc tế Lahay thì phần thắng chắc chắn thuộc về phía Việt Nam và người ta đoán biết trước là phía Trung Quốc sẽ không có mặt và không chấp nhận quyết định này, nhưng đây sẽ là một thắng lợi pháp lý mạnh mẽ cho Việt Nam.

Trung Quốc mạnh là điều không chối cãi thể hiện qua việc chính họ đã khoe khoang và biểu dương cũng như qua sự đầu tư tiền của rất lớn vào việc tân trang mua sắm nhưng không có nghĩa là các quốc gia sợ đến mức không dám phản ứng, hành động để bảo vệ chủ quyền về lãnh hải, lãnh thổ đảo của chính mình. Nếu có ai đó đặt câu hỏi: Việt Nam có sợ một Trung Quốc mạnh? Câu trả lời dứt khoát của người Việt Nam là “Việt Nam không sợ mà phải cảnh giác, có vậy thôi”. Điều này đã được thấy trong bầu không khí sôi nổi đầy lòng yêu nước tại hội nghị bàn về quốc phòng toàn dân vừa qua.

Tại diễn đàn này người ta đã thấy rõ những ý kiến vô cùng kiên quyết của nhiều vị tướng lĩnh Việt Nam khi đã khẳng khái tỏ rõ quyết tâm bảo vệ đến cùng biển và đảo của đất nước mình mà đại diện như lời phát biểu của Thượng tướng Phan Trung Kiên đã biểu thị rõ: “Nếu ai cố tình đi làm cái việc trái ngược với lương tâm, đạo lý của loài người thì sẽ bị trả giá”. Người ta cũng hoan hô lời tuyên bố của Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Trung tướng Đỗ Xuân Công: “Chúng ta có đủ điều kiện bảo vệ vững chắc biển đảo”. Mọi quốc gia trong khu vực đang hân hoan chào đón việc Việt Nam tiếp quản vai trò Chủ tịch ASEAN và hy vọng vấn đề biển và đảo trong khu vực tranh chấp sẽ sớm được giải quyết ổn thoả trên tinh thần của công ước quốc tế và của lịch sử đã để lại, có lý có tình. Người ta tin tưởng Việt Nam sẽ hoàn thành xứng đáng vai trò lãnh đạo này tương tự như vai trò trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mà Việt Nam đảm nhận trong những năm qua. Việt Nam đã để lại tiếng thơm rất đáng trân trọng. Đất nước Việt Nam luôn luôn yêu chuộng hoà bình, muốn giải quyết các bất đồng bằng biện pháp thương lượng trên những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và tôn trọng bình đẳng, có lý có tình chứ không phải là sợ đến mức không thể bảo vệ nổi biển và đảo của mình.

Đúng như Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã nói: “Trong tình hình hiện nay, lực lượng quân đội, nhất là hải quân nhân dân, phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trong nhiệm vụ bảo vệ từng tấc đất, biển đảo của Tổ quốc”. Rõ ràng nhìn vào những việc làm đó đã cho thấy Việt Nam đang cảnh giác chứ không phải nhìn bất kỳ ai dương oai múa võ là thấy sợ. Ngoài sự biểu thị tinh thần yêu nước cao độ của đồng bào trong nước, nay tại hải ngoại đa số đồng bào người Việt cũng đã biểu thị sự ủng hộ trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước thân yêu của mình. Như vậy sức mạnh của dân tộc đã được nhân lên gấp bội phần. Người ta hoàn toàn đồng ý với nhận định “Thế kỷ XIX, với một trái tim đập lạc nhịp với thế giới, cha ông ta đã thất bại khi đối đầu với làn sóng thực dân hoá. Ngày nay, chúng ta đối đầu với làn sóng toàn cầu hoá không thể bằng đôi mắt sợ hãi hay phòng thủ mà phải bằng ‘tinh thần toàn cầu’ và ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc thông qua những đóng góp của mình cho nhân loại chung” của bạn Nguyễn Lương Hải Khôi đăng trên báo Vietnamnet ngày 5/1/2010 mới đây. Biển Đông luôn bị nổi sóng, đó là do gió không ngừng thổi là sóng sẽ yên, biển sẽ lặng, vậy sóng liên tục xô vào bờ hình chữ S này là do đâu? Điều này mọi người đã có thể tự trả lời lấy câu hỏi đó, còn làm gì cho gió ngừng thổi thì mỗi quốc gia đều phải có cách của riêng mình.

Theo anhbasam.com

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: