Hoàngquang’s Blog

04/12/2009

Trông người để ngẫm lại ta: Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giải quyết một số vấn đề lịch sử như thế nào?

Filed under: Trung Quốc — hoangquang @ 3:12 chiều
Tags:

Dương Danh Dy

I. Mở đầu

Sau hơn 80 năm kể từ ngày thành lập, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã và đang lãnh đạo nhân dân Trung Quốc giành được những thắng lợi cực kỳ vĩ đại về nhiều mặt: đánh bại cuộc xâm lược của chủ nghĩa quân phiệt Nhật, giải phóng toàn Trung Quốc, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc kinh tế và quân sự, có ảnh hưởng và địa vị quốc tế ngày càng lớn…

Tuy vậy trong gần 60 năm cầm quyền, nhất là trong thời gian Chủ tịch Mao Trạch Đông còn sống (nói như vậy không có nghĩa là những người lãnh đạo sau Mao không có vấn đề gì), ĐCSTQ đã có một số chủ trương, quyết định sai lầm mang lại nhiều tai họa ghê gớm cho nhân dân Trung Quốc.

Bài viết này không đi sâu vào những nguyên nhân dẫn tới sai lầm (vì hoàn cảnh mỗi nước rất khác nhau) mà chỉ nêu lên một số vấn đề, hậu quả của chúng, những biện pháp mà ĐCSTQ đã sử dụng để xử lý, giải quyết và những bài học bổ ích có thể rút ra được qua những việc làm của họ.

II. Những vấn đề lịch sử chủ yếu

Ở đây xin giới thiệu những vấn đề đã giải quyết xong và một số vấn đề còn tồn tại.

Những vấn đề đã giải quyết xong
(giới thiệu theo thời gian được bình phản, sửa sai)

– Ngày 7 tháng 4 năm 1976 Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ căn cứ vào đề nghị của Mao Trạch Đông đã ra quyết nghị “về việc tước bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng của Đặng Tiểu Bình, nhưng giữ lại đảng tịch để xem xét sau”.

Sau khi “lũ bốn người bị bắt được gần một năm, ngày 16/7/1977 Hội nghị Ttung ương lần thứ 3 khóa 10, quyết định khôi phục lại mọi chức vụ trong ngoài đảng của Đặng Tiểu Bình.
– Ngày 5/4/1978, Trung ương ĐCSTQ phê chuẩn “Báo cáo thỉnh thị” ngày 4/4/1978 của Ban Mặt trận và Bộ Công an. Báo cáo cho biết: trong cuộc đấu tranh chống phái hữu tiến hành năm 1957, cả nước đã qui sai rất nhiều người là phần tử phái hữu, đã có mấy đợt sửa sai trước Cách mạng Văn hóa (CMVH) nhưng hiện nay vẫn còn khoảng hơn 100.000 người, phải cởi mũ cho số đông trong những người còn lại và kết thúc công việc này trước năm 1980.

– Ngày 19/8/ 1978, Trung ương ĐCSTQ quyết định giải tán tổ chức Hồng Vệ Binh vì đã hoàn thành sứ mạng lịch sử. Đoàn Thanh niên sẽ khôi phục hoạt động.

– Từ 10-11/15-12/1978, Hội nghị công tác Trung ương. Tại hội nghị Trần Vân phát biểu: phải giải quyết một loạt vấn đề trọng đại trong CMVH và vấn đề công tội, đúng sai của một loạt người lãnh đạo quan trọng. Ông khẳng định sự kiện Thiên An Môn (tưởng nhớ Thủ tướng Chu Ân Lai mất, năm 1976) là một phong trào quần chúng vĩ đại, khẳng định cống hiến của Bành Đức Hoài (bị xử lý sai năm 1959), phải bình phản (phân tích nhằm phản bác lại mọi quy kết để giải oan) cho Đào Chú (bị xử lý sai hồi đầu CMVH) cho cái gọi là “tập đoàn phản bội 61 người” (trong đó có Bành Chân, Bạc Nhất Ba), phải phê bình Khang Sinh, v.v.

– Ngày 16/12/1978 Trung ương ĐCSTQ phê chuẩn, đồng ý đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương: không tồn tại cái gọi là tập đoàn phản bội 61 người nêu ra trong CMVH, án oan này phải được bình phản.

– Ngày 18-22/12 năm 1978, hội nghị Trung ương ĐCSTQ lần thứ 3 khóa 11, ngoài việc quyết định chuyển trọng tâm công tác sang công tác kinh tế đã phê phán phương châm “hai cáí phàm là” (do Hoa Quốc Phong đề xuất), xóa bỏ cái gọi là “phản kích làn gió hữu khuynh” và “sự kiện Thiên An Môn”, sửa quyết định sai lầm với Đào Chú, Bạc Nhất Ba, Dương Thượng Côn, v.v. Hội nghị nhấn mạnh phải nhận thức một cách lịch sử và khoa học đối với công lao của Mao Trạch Đông, giương cao một cách hoàn chỉnh, chính xác hệ thống tư tưởng Mao Trạch Đông; quyết định không sử dụng mệnh đề “đấu tranh giai cấp là then chốt”, phủ định lý luận “tiếp tục làm cách mạng dưới nền chuyên chính vô sản”. Bầu bổ sung Trần Vân vào Thường Vụ Bộ Chính trị (BCT), Phó Chủ tịch Đảng và Đặng Dĩnh Siêu, Hồ Diệu Bang, v.v. làm ủy viên BCT.

– Ngày 24/12/1978 Lễ truy điệu Bành Đức Hoài, Đào Chú tại Bắc Kinh, xóa bỏ hết những lời lẽ không đúng về hai người, bình phản chiêu tuyết cho họ.

– Ngày 25/12/1978. Uông Đông Hưng không được BCT ĐCSTQ cho kiêm chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng nữa.

Ngày 29/12/1978 Trung ương ĐCSTQ ra quyết định: phải nhận thức rõ ý nghĩa trọng đại của công tác phúc tra các vụ án oan, án sai, án giả và tầm quan trọng của việc quán triệt chính sách sửa sai. Nêu rõ phương châm “có sai thì phải sửa, sai toàn bộ phải bình phản toàn bộ, sai bộ phận bình phản bộ phận, không sai không bình phản” và ranh giới giữa có tội và không có tội (sau quyết định này tổng cộng đã bình phản cho hơn 2,9 triệu người bị mắc vào các vụ án oan, án sai, án giả, động viên được tính tính cực của những người này và thân thích của họ).

– Ngày 4-22/1/1979 Hội nghị Ban kỷ luật Trung ương quyết định thẩm tra Khang Sinh và Tạ Phú Trị.

– Ngày 10/1/1979 Quyết định bình phản, khôi phục danh dự cho Đàm Chấn Lâm, Ủy viên Trung ương, Phó Thủ tướng Chính Phủ (xem thêm tin ngày 10/1/1980).

– Ngày 11/1/1979 Trung ương ĐCSTQ quyết định: các phần tử địa chủ, phú nông qua 20-30 năm lao động cải tạo đã trở thành người lao động, nay cởi mũ thành phần cho họ, họ được đối xử như những xã viên công xã nhân dân, con cháu họ được coi là xuất thân từ gia đình nông dân.

– Ngày 17/1/1979, Trung ương ĐCSTQ ra quyết định quán triệt chính sách với sĩ quan và binh lính Quốc Dân đảng khởi nghĩa, đầu hàng, không được phân biệt đối xử với họ và con cháu họ.

– Ngày 12/2/1979 bình phản cho vụ án gọi Ủy ban Thể dục Thể thao Trung ương là “vương quốc độc lập” và dùng cớ đó để hãm hại Hạ Long (Nguyên soái, Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban TDTT) một số người lãnh đạo và vận động viên khác.

– Ngày 17/2/1979 bình phản cho Bành Chân (nguyên Ủy viên BCT, Bí thư Thành ủy Bắc Kinh), khôi phục lại đảng tịch và phân công công tác mới.

– Ngày 9/3/1979 bình phản cho Ô Lan Phu (người Nội Mông, Ủy viên dự khuyết BCT khoá 8, Bí thư Đảng ủy Khu tự trị Nội Mông), trong CMVH bị vu là “tập đoàn phản đảng”, ngoài ra còn khôi phục danh dự, giải phóng cho một loạt cán bộ người Mông Cổ bị án oan, góp phần ổn định tình hình, củng cố đoàn kết dân tộc ở Khu tự trị Nội Mông.

– Ô Lan Phu chủ trì Hội nghị Ban mặt trận thống nhất, xóa bỏ vu cáo Ban Mặt trận “chấp hành chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa xét lại”, kết luận những phê phán Lý Duy Hán trong công tác mặt trận năm 1962-1964 là sai lầm. Bình phản cho toàn Ban và Lý Duy Hán.

– Ngày 21/3/1979 bình phản cho Tổng Cục chính trị Quân giải phóng (trong CMVH bị gọi là “điện Diêm Vương”).

– Ngày 23/8/1979 bình phản cho “sự kiện Dương, Dư, Phó” (tức Dương Thành Vũ – Phó Tổng Tham mưu trưỏng, Phó Sùng Bích và Dư Lập Kim – người phụ trách Quân khu thủ đô Bắc Kinh trong thời gian CMVH).

– Ngày 8/6/1979 bình phản cho Lục Định Nhất (nguyên Ủy viên dự khuyết BCT, phụ trách lĩnh vực tư tưỏng văn hoá) và Bộ Văn hóa.

Từ 4/8/1979 đến 25/2/1980, với phương châm có sai thì sửa…, Trung ương ĐCSTQ ra quyết định về việc xử lý một số vụ án xảy ra trước CMVH. Đã bình phản cho tiểu thuyết Lưu Chí Đan vì tiểu thuyết này không phải là tiểu thuyết chống Đảng, những ý kiến của Tập Trọng Huân về cuốn tiểu thuyết này là chính xác, không phải là hoạt động chống Đảng, không có cái gọi là “tập đoàn chống Đảng Tập Trọng Huân”… do Khang Sinh vu cáo.

– Ngày 14/10/1979 một số cán bộ đảng viên, dân chúng người dân tộc thiểu số, trong phong trào chống phái hữu năm 1957 và sau đó bị qui là chủ nghĩa dân tộc địa phương, được cởi mũ.

– Ngày 12/11/1979 hơn 700.000 ngàn tiểu thương, tiểu chủ bị đối xử như nhà tư bản trong cải tạo công tư hợp doanh được sửa sai, xác định lại thành phần.

– Ngày 31/12/1979 đã phúc tra được 241.000 vụ án oan, án sai, án giả trong 10 năm từ 1967-1976 (chiếm 83% tổng số) sửa được 131.000 vụ(53%). Ngoài ra còn phúc tra 507.000 vụ án hình sự, trong đó sửa được 358.000 vụ án sai. Tuy vậy vẫn còn 46.00 vụ án oan, án giả, án sai và hơn 500.000 vụ án hình sự chưa được phúc tra. Chỉ thị của Trung ương ĐCSTQ tỏ quyết tâm không để cho bất kỳ người nào chịu những án sai về chính trị.

– Ngày 29/2/1980 bình phản và 13/3/1980 tổ chức lễ truy điệu cho Lưu Thiếu Kỳ, xóa bỏ hết những tội lỗi gán ghép cho ông trong CMVH.

– Ngày 20/5/1980 bình phản cho La Thụy Khanh (Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng).

– Ngày 19/6/1980 bình phản cho tất cả những cán bộ Trung ương và địa phương cấp cao, cán bộ từ cấp Quân đoàn trở lên trong bộ đội bị điểm tên phê phán trên báo chí trong CMVH.

– Ngày 12/7/1980 bình phản cho An Tử Văn (nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương) khi ông này vừa mất.

– Ngày 30/7/1980 Trung ương ĐCSTQ ra chỉ thị yêu cầu “ít tuyên truyền cá nhân”.

– Ngày 21/8/1980, trong khi tiếp phóng viên Italia, Đặng Tiểu Bình nói, Mao Trạch Đông có một đoạn thời gian phạm sai lầm, nhưng vẫn là người sáng lập ra ĐCSTQ và nước CHNDTH.

– Ngày 26/8/1980 bình phản cho Lý Đức Sinh bị “lũ bốn người” vu cáo trong thời gian CMVH.<

– Ngày 24/9/1980 bình phản cho cái gọi là “tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong” khôi phục danh dự cho tất cả những người có liên quan.

– Ngày 10/10/1980 bình phản cho diễn viên điện ảnh nổi tiếng Triệu Đan.

– Ngày 16/10/1980 Trung ương ĐCS TQ ra quyết định coi Khang Sinh và Tạ Phú Trị là những kẻ phẩm chất chính trị vô cùng xấu xa, đã trực tiếp cùng bè lũ Lâm Bưu, Giang Thanh âm mưu cướp đảng đoạt quyền, phạm tội ác rất nghiêm trọng, quyết định hủy bỏ diễn văn truy điệu (vì hai người này chết trước lúc CMVH kết thúc) khai trừ ra khỏi đảng, đưa tro xưong của họ ra khỏi Bát Bảo Sơn.

– Ngày 19/10/1980 bình phản cho Cù Thu Bạch, xóa bỏ lời buộc tội ông phản bội khi bị bắt trước khi bị giết trước đây.

– Ngày 23/10/1980 bình phản cho Dương Thượng Côn (là Chánh văn phòng Trung ương Đảng (sau khi được bình phản, có thời gian là Chủ tịch nước) bị vu cáo là đặt máy nghe trộm, tích cực tham gia hoạt động phản cách mạng, bị mất chức từ năm 1965).

– Ngày 6/11/1980 bình phản cho Dương Hiến Trân, nguyên Hiệu trưởng Trường Đảng cao cấp.

– Từ ngày 10-11đến ngày 5/12/1980 BCT ĐCSTQ họp, phê bình Hoa Quốc Phong. Hoa Quốc Phong xin từ chức Chủ tịch đảng và Chủ tịch quân ủy Trung ương. Hội nghị quyết định từ nay đến khi họp hội nghị Trung ương 6, Hoa Quốc Phong không chủ trì công tác Trung ương nữa, Hồ Diệu Bang thay thế làm Chủ tịch đảng và Đặng Tiểu Bình thay thế làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

– Ngày 25/11/1980 toà án đặc biệt Trung ương xét xử vụ án bè lũ Lâm Bưu và “lũ bốn người”, tất cả gồm 16 chủ phạm: Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn, Trần Bá Đạt, Tạ Phú Trị, Diệp Quần, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác, Lâm Lập Quả, Chu Vũ Trì, Giang Đằng Giao. Quyết định những người đã chết không kết án.

– Ngày 25/1/1981 Tòa án đặc biệt tuyên án xử tử hình Giang Thanh, Trương Xuân Kiều nhưng cho hoãn chấp hành 2 năm; xử Vương Hồng Văn tù chung thân, Diêu Văn Nguyên 20 năm tù giam, Trần Bá Đạt 18 năm, Hoàng Vĩnh Thắng 18 năm, Ngô Pháp Hiến 17 năm, Lý Tác Bằng 18 năm, Khưu Hội Tác 16 năm, Giang Đằng Giao 18 năm tù giam.

– Ngày 9/3/1981 bình phản cho Đặng Tử Khôi.

– Ngày 27/6/1981, hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa 11 của ĐCSTQ họp ra “Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử của đảng từ khi xây dựng nước đến nay”. Nghị quyết sau khi khẳng định những thành tích đã đạt được, đã công khai đánh giá công, tội của Mao Trạch Đông, đánh giá Đại hội 9 và Đại hội 10 của ĐCSTQ, phê phán tội ác của Lâm Bưu và “lũ bốn người”, v.v. (sẽ trình bày ở phần dưới). Tại hội nghị này Hoa Quốc Phong chính thức mất chức Chủ tịch Đảng và Chủ tịch quân ủy Trung ương, sau đó không lâu cũng mất luôn chức Thủ tướng chính phủ, do Triệu Tử Dương thay thế.

– Ngày 9/9/1981 bình phản cho “Đảng Hồng Kỳ” bị Khang Sinh vu cáo từ những năm 1942 ở Diên An.

– Ngày 28/1/1982 thả toàn bộ tù binh Quốc Dân đảng từ cấp Trung đoàn trở xuống.

-Ngày 30/12/1982 Trung ương ĐCSTQ ra quyết định thanh lý “ba loại người” vì sau khi CMVH kết thúc vẫn còn một bộ phận thuộc những loại người này vẫn còn lọt lưới, chui vào các cơ quan chính quyền và đảng ủy các cấp trong cả nước (đến tháng 10/1983 còn có thông tri nhắc nhở: phải coi vấn đề này là nhiệm vụ quan trọng).

“Ba loại người” tức là: những kẻ theo tập đoàn Lâm Bưu, Giang Thanh tạo phản mà nổi đình đám; những người có tư tưởng bè phái nghiêm trọng; những phần tử đánh, đập phá, ăn cướp nghiêm trọng. Trong hơn 3 năm cố gắng đã xử lý được hơn 400.000 “3 loại người” trong đó có 43.070 người phạm sai lầm nghiêm trọng.

Để thấy rõ vấn đề, xin đưa môt vài ví dụ: ngoài Vương Hồng Văn ra còn có Từ Cảnh Hiền, Vương Tú Trân (những cán bộ, nhân viên công tác bình thường) chỉ trong mấy năm “ngồi tên lửa” đã trở thành Trung ương ủy viên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban cách mạng thành phố Thượng Hải, Khoái Đại Phú một trong 4 “tư lệnh hồng vệ binh” nổi tiếng trong thời kỳ đầu CMVH, Nhiếp Nguyên Tử – người viết bài báo chữ lớn đầu tiên, v.v. (số người này nhiều không kể hết và những người phạm tội nặng, sau khi kết thúc CMVH đều bị xử tù giam).

Để thấy hết tội lỗi của “3 loại người” xin nêu một số ví dụ.

Theo thống kê chưa đầy đủ chỉ trong tháng 8 năm 1966 tại Bắc Kinh với lý do khám nhà, bọn đập, cướp phá đã lấy đi 103.131 lạng vàng, 345.212 lạng bạc, 55,5 triệu tiền mặt và 613.688 đồ cổ (Trung Quốc tả họa, Nhà xuất bản Triều Hoa, Bắc Kinh, tháng 2 năm 1993, tr 419). Chỉ trong 66 ngày từ 13/8/ 1967 đến 17/10/1967 trong 10 khu và 36 công xã với 2.780 hộ ở huyện Đạo, tỉnh Hồ Nam đã có 4.519 người bị chết (bị giết 4.193 người, tự sát 326 người) (Trung Quốc tả họa, tr. 444).

Thủ đoạn giết người trong thời gian này là bắn, chém, dìm chết, thiêu đốt, ném xuống vực, chôn sống, treo cổ, quật chết (trẻ em).

Những thủ đoạn hành hạ người bị đấu tố vô cùng tàn nhẫn (qua sách báo, phim ảnh TQ xuất bản và chiếu ở Việt Nam đã thấy được một phần nên không nói nhiều ở đây, điển hình là cách đối xử với Lưu Thiếu Kỳ, Hạ Long, v.v.).

Mặc dù quân đội được coi là đội ngũ đáng tin cậy – bức trường thành trong CMVH – nhưng đã có tới hơn 80.000 quân nhân bị bức hại (trong đó có 8 Nguyên soái, 7 Đại tướng, 18 Thượng tướng), có 1.169 người bị bức hại đến chết.

Có hơn 34.000 người làm trong ngành công an, kiểm sát, tòa án bị bức hại trong đó bị chết hơn 1.100 người, bị đánh đập trở thành tàn tật hơn 3.600 người.

Vân vân.

Chú thích quan trọng:

Trong những vụ án bị kết tội trong thời gian này, có vụ án Lâm Bưu chưa được một số nhà nghiên cứu khoa học và một số người Trung Quốc đồng tình. Ngay sau khi vụ án xảy ra (13 tháng 9 năm 1971) không lâu trong dư luận Trung Quốc đã có người đòi xét lại vấn đề này. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay càng có nhiều bài viết đòi hỏi minh oan cho Lâm Bưu. Tin gần đây nhất cho biết nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân Giải phóng Trung Quốc ngày 1/8/2007 tại Bảo tàng quân đội Trung Quốc đã trung bày tượng Lâm Bưu bằng đồng, và nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày chiến thắng “Bình Hình Quan” ngày 24/9/2007 cũng đã dựng tượng Lâm Bưu bằng đồng tại nơi kỷ niệm là Sơn Tây, và nhân dịp 100 năm ngày sinh của Lâm Bưu ngày 12/9/2007 Lâm Lập Hằng con gái và hai mươi thân thích của Lâm Bưu đã tổ chức buổi gặp mặt (có hậu duệ của Trần Vân, Trần Nghị, Hạ Long, Đàm Chính, Đặng Hoa, v.v. tham dự). (Theo http:// http://www.epochtimes.com/gb/7/12/13/n1940727.htm. Có thể coi vụ án này chưa giải quyết xong.

Mặc dù cho đến năm 1981, ĐCSTQ vẫn kết luận Trần Độc Tú (Tổng Bí thư đầu tiên của ĐCSTQ là theo chủ nghĩa đầu hàng hữu khuynh, nhưng đến năm 2002 ông đã được chiêu tuyết bình phản. Trong lời giới thiệu cuốn Lịch sử ĐCSTQ mới xuất bản đăng trên tạp chí Bách niên trào số 10 tháng năm 2002, Thạch Trọng Tuyền, Phó chủ nhiệm Ban Nghiên cứu lịch sử Trung ương ĐCSTQ đã viết: “Phải khẳng định công lao vĩ đại của Trần Độc Tú từ ngày thành lập đảng cho đến trước thời kỳ phong trào đại cách mạng”, “ông là một trong những người lãnh đạo chủ yếu của đảng ta”, hơn nữa “luôn luôn là lãnh tụ chủ yếu của đảng ta từ đại hội 1 đến đại hội 5 (tức từ năm 1921 đến năm 1928), uy tín của ông lúc đó trùm lên bất kỳ người nào khác”. Còn nói sai lầm của Trần Độc Tú chỉ là phạm “chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh” chứ không phải là “chủ nghĩa đầu hàng hữu khuynh”.

Việc sửa sai này được thể hiện rõ khi Hội nghị Chính trị hiệp thương Trung Quốc họp kỳ họp thứ nhất khóa 10 (3/3/2003), người ta thấy trong danh sách những người tham dự có hai con gái Mao Trạch Đông là Lý Mẫn và Lý Nạp; con trai và con gái Đặng Tiểu Bình là Đặng Phác Phương và Đặng Nam và Trần Hồng cháu gọi Trần Độc Tú là ông nội. Qua việc này thấy Trần Độc Tú cuối cùng đã được đường hoàng ngồi vào hàng ngũ những người lãnh đạo ĐCSTQ.

Những vấn đề chưa giải quyết

Sau khi “Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử…” ra đờì, nhân dân Trung Quốc hy vọng những vấn đề tương tự sẽ không xảy ra nữa, thế nhưng chỉ mấy năm sau, mấy sự kiện lớn đã xảy ra trong xã hội và ĐCSTQ, đó là:

1. Việc xử lý Hồ Diệu Bang.

– Ngày 16/1/1987 Hội nghị BCT ĐCSTQ mở rộng họp, tại hội nghị Hồ Diệu Bang đã kiểm thảo trong thời gian làm Tổng Bí thư đã vi phạm nguyên tắc lãnh đạo tập thể của đảng, phạm một số sai lầm nghiêm trọng trong một số vấn đề trọng đại, và xin từ chức Tổng Bí thư. Những người tham dự đã nghiêm túc phê bình Hồ Diệu Bang, đồng ý chấp nhận đề nghị từ chức của Hồ Diệu Bang. Hội nghị cử Triệu Tử Dương làm Tổng Bí thư.

Cần lưu ý là trước đó từ trung tuần đến hạ tuần tháng 12/1986 một bộ phận sinh viên tại các trường đại học ở Hợp Phì (An Huy), Vũ Hán, Thượng Hải, Nam Kinh, Hàng Châu, Bắc Kinh đã diễu hành thị uy trên đường phố, hô to khẩu hiệu đòi dân chủ, gây ảnh hưởng nhất định dến trật tự giao thông. Đặng Tiểu Bình phát biểu cho rằng: học sinh diễu hành thị uy không thể gây ra việc lớn, nhưng xét về tính chất thì đây là vấn đề nghiêm trọng, nguyên nhân là do chống tự do hóa tư sản chưa đắc lực.

– Ngày 1/1/1987 xảy ra diễu hành thị uy lớn ở Bắc Kinh, tiếp đó ĐCSTQ đã ra quyết định khai trừ một số đảng viên có tên tuổi bị coi là dính líu vào phong trào học sinh như Vương Nhược Vọng, Chủ tịch Hội Nhà văn Thượng Hải, Phương Lệ Chi, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học, Lưu Tân Nhạn, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc.

– Ngày 15/4/1989 Hồ Diệu Bang chết vì bệnh.

2. Việc xử lý Triệu Tử Dương.

– Ngày 16/4/1989, bắt đầu có người đến đặt vòng hoa tại quảng trường Thiên An Môn viếng Hồ Diệu Bang, ngoài ra còn có biểu ngữ, khẩu hiệu, báo chữ lớn chữ nhỏ công kích người lãnh đạo Trung ương và Chính phủ.

– Ngày 17-18/4/1989 diễu hành thị uy của học sinh qui mô lớn.

– Ngày 22/4 sau lễ truy điệu Hồ Diệu Bang, “Hội đoàn kết học sinh” thành lập, số học sinh tham gia phong trào ngày càng đông.

– Ngày 24/4/1989 Lý Bằng chủ trì hội nghị Thường vụ BCT, nhận định đây là cuộc đấu tranh chính trị chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội có kế hoạch, có tổ chức, quyết định thành lập Tổ ngăn chặn. Đặng Tiểu Bình tán thành nhận định trên và cách làm.

– Ngày 27/4/1989 hơn 100.000 học sinh diễu hành thị uy trên đường phố.

– Ngày 9 và 10/5/1989 hơn 100 phóng viên của hơn 38 đơn vị tân văn, truyền thông cùng mấy vạn học sinh lại diễu hành thị uy.

– Ngày 13/5/1989 học sinh tổ chức tuyệt thực và ra tuyên ngôn tuyệt thực, trong 7 ngày liền có hơn 3.000 người tham gia tuyệt thực, học sinh chiếm đóng quảng trường Thiên An Môn, được nhiều cơ quan báo chí ủng hộ, số người tham gia biểu tình ngày càng đông, học sinh trong cả nước kéo tới Bắc Kinh tới trên 200.000 người. Bắc Kinh hỗn loạn. Triệu Tử Dương tỏ ra đồng tình với học sinh.

– Ngày 16/5/1989 Triệu Tử Dương lợi dụng cơ hội gặp Gocbachov và báo chí trực tiếp chĩa mũi nhọn vào Đặng Tiểu Bình, tình hình ngày càng xấu. Các thành phố lớn, thậm chí ở một số thành phố nhỏ cũng xuất hiện học sinh diễu hành thị uy, động loạn có xu hướng lan rộng ra cả nước.

– Ngày 19/5/1989 Trung ương ĐCSTQ triệu tập hội nghị các cơ quan dân, chính đảng và quân đội tại Bắc Kinh, tuyên bố dùng biện pháp quyết đoán ngăn chặn động loạn.

– Ngày 20/5/1989 tuyên bố thiết quân luật một phần ở Bắc Kinh.

– Ngày 3/6/1989 bộ đội từ nhiều hướng kéo vào trung tâm thành phố, trên đường đi gặp cản trở của một bộ phận người và chướng ngại vật do quần chúng dựng.

– Ngày 4/6/1989 bộ đội hoàn thành việc thanh lý quảng trường Thiên An Môn.

Chỉ trong mấy ngày động loạn này đã có hơn 1280 ô tô của quân đội, cảnh sát vũ trang… bị phá huỷ, trên 1.000 ôtô quân sự bị đốt cháy. Có hơn 60 xe bọc thép, một số vũ khí bị phá hỏng. Hơn 6.000 sĩ quan, binh sĩ và công an bị thương, bị chết hơn một chục người. Có trên 3.000 nhân viên phi quân nhân bị thương, khoảng 200 người bị chết.

Trên đây là những số liệu chính thức do chính quyền Trung Quốc công bố. Theo Tôn Phượng Minh tác giả cuốn Những câu chuyện của Triệu Tử Dương trong thời gian bị giam lỏng (Nhà xuất bản Khai Phóng, Hồng Công, 2007) thì có tới mấy chục vạn quân đội đã tham gia cuộc đàn áp này, số học sinh và quần chúng chết và bị thương rất nhiều.

Những nguyên nhân xảy ra sự kiện Thiên An Môn nói trên là do nhà đương quyền Trung Quốc đưa ra, để tham khảo sự kiện này cần đọc thêm cuốn sách nói trên của Tôn Phượng Minh (do Dương Danh Dy dịch).

– Ngày 23-24/6/1989 Hội nghị Trung ương ĐCSTQ lần thứ 4 khóa 12 họp nghe báo cáo “về những sai lầm mà đồng chí Triệu Tử Dương đã phạm phải trong cuộc động loạn chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội” đã quyết định cách chức Tổng Bí Thư, Phó Chủ tịch thứ nhất quân ủy Trung ương của Triệu Tử Dương và cử Giang Trạch Dân thay thế.

Chú thích quan trọng:

Một số dư luận và giới nghiên cứu Trung Quốc vẫn chưa đồng tình với những kết luận và xử lý sai lầm đối với Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương cũng như cách định tính sự kiện Thiên An Môn 4-6-1989. Vào dịp trước khi Đại hội 17 ĐCSTQ họp đã có nhiều người ở trong và ngoài nước lên tiếng đòi bình phản cho hai ngưòi và sự kiện trên.

III. Cách giải quyết và xử lý

Trên đây đã giới thiệu một số vấn đề lịch sử được ĐCSTQ bình phản trong thời gian qua (và cả một số vấn đề chưa giải quyết). Xin trình bày thêm về một số vụ điển hình:

Phong trào “chống phái hữu”. Nguồn gốc của phong trào này bắt đầu từ cuộc chỉnh phong: chỉnh đốn chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa quan liêu nhằm khắc phục hiện tượng Đảng ngày càng thoát ly quần chúng, triển khai tháng 3 năm 1957. Ngày 30 tháng 5 năm 1957, Mao Trạch Đông mời đại biểu các đảng phái dân chủ và nhân sĩ ngoài Đảng dự cuộc tọa đàm, hoan nghênh họ giúp đỡ ĐCSTQ chỉnh phong. Sau đó Ban Mặt trận thống nhất Trung ương ĐCSTQ đã nhiều lần triệu tập hội nghị trưng cầu ý kiến nhân sĩ ngoài Đảng về công tác của đảng. Trước những lời kêu gọi đó, phong trào chỉnh phong được tiến hành vô cùng sôi nổi. Đa số người đã góp nhiều ý kiến và kiến nghị chính xác cho Đảng và Chính phủ, nhưng có một số cực ít người có ý đồ xấu, muốn nhân dịp này công kích và đòi chia xẻ quyền lãnh đạo với ĐCSTQ. Trung tuần tháng 5/1957, Trung ương ĐCSTQ và Mao Trạch Đông đánh giá tình hình và cho rằng tình hình đã thay đổi, ra chỉ thị “Tổ chức lực lượng phản kích sự tấn công điên cuồng của phái hữu”. Ngày 1/7/1957 Mao Trạch Đông viết xã luận Nhân dân nhật báo phê phán Chưng Nãi Khí và La Chương Long, đều là nhân sĩ ngoài Đảng, qua đó chỉ ra phái hữu của giai cấp tư sản là phái phản động chống cộng, chống nhân dân, chống chủ nghĩa xã hội, đẩy phong trào chống hữu lên cao trào, mở rộng diện đấu tranh chụp mũ cho rất nhiều nhân sĩ, phần tử trí thức trong ngoài Đảng. Phong trào này cơ bản kết thúc vào mùa hè năm 1958 (khoảng một năm) mặc dù không kéo dài nhưng đã có tới 552.877 người bị qui là phái hữu (trong đó có những sinh viên vừa tốt nghiệp đại học như cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ, hoặc những kỹ thuật viên chưa đến 18 tuổi).

Trung ương ĐCSTQ đã nhanh chóng phát hiện được sai lầm. Từ năm 1959 bắt đầu sửa sai một phần, đến năm 1964 đã sửa sai được 5 đợt. Từ tháng 4/1978 tiếp tục sửa sai, tổng cộng đến tháng 5/1980 đã cởi bỏ mũ phái hữu cho 540.000 người và vẫn còn hơn 10.000 người nữa. Tiếp tục điều tra và sửa sai đến cuối năm đã đưa ra kết luận cuối cùng: Trong số 552.000 người bị qui là phái hữu chỉ có 96 người không được bình phản, xác suất chưa tới hai phần vạn (cứ qui 10.000 người chỉ đúng chưa tới hai người).

Những người bị qui sai đều là những đồng chí tốt, cán bộ tốt, trí thức tốt, vì vậy phong trào đã tạo thành tổn thất nghiêm trọng cho đảng và nhà nước Trung Quốc.

Vụ Hồ Phong. Hồ Phong là nhà lý luận, phê bình văn học nổi tiếng. Từ năm 1933 đã cùng Lỗ Tấn đấu tranh chống “văn hóa vây quét” của bọn Quốc Dân đảng phản động. Năm 1936 cùng Lỗ Tấn, Phùng Tuyết Phong (người cũng bị xử lý trong phong trào chống phái hữu) nêu khẩu hiệu “Văn học đại chúng”. Từ sau 1949 là Ủy viên thường vụ Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc. Do có lý luận văn nghệ độc đáo và ảnh hưởng cá nhân to lớn nên được mọi người chú ý, được coi là “tư tưởng văn nghệ Hồ Phong” (phải chăng đây chính là lý do khiến ông bị phê phán và đấu tố?). Năm 1954, từ một vấn đề văn nghệ đơn thuần, ông bị nâng lên là “phản cách mạng”. Có hơn 2.000 người (cả trong đảng và ngoài đảng) bị qui kết liên quan tới vụ án, trong đó có 78 người được xếp vào “tập đoàn Hồ Phong”. Ông bị giam 10 năm ở ngục Tần Thành (1955-1965) mới được đưa ra xét xử và bị kết án 14 năm tù giam, và mãi đến tháng 1/1979 mới được thả, tổng cộng sống trong tù 24 năm. Ngày 18/6/1988 ông mới được bình phản toàn diện, nhưng đáng tiếc là ông đã mất ngày 8/6/1985 (Xem thêm bài Vài nét về cái gọi là “Vụ án tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong của Dương Danh Dy, đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 125 tháng 10/2002).

– Vụ Đinh Linh. Đinh Linh, nữ văn sĩ, Ủy viên Ban Thường vụ Quốc hội, Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Trung Quốc, tác giả tiểu thuyết Mặt trời chiếu trên sông Tang Càn, được giải thưởng văn học Stalin và đã được dịch ra tiếng Việt, năm 1958 bị qui là “tập đoàn chống Đảng” đưa đi lao động cải tạo ở Bắc Đại Hoang, năm 1970 bị qui là tội phạm quan trọng, bị giam ở nhà ngục Tần Thành, năm 1978 mới được tha, đến ngày 1/8/1984 mới được khôi phục danh dự.

Vụ “thôn ba nhà”. Tháng 10/1962, Đặng Thác (Tổng biên tập Nhân dân nhật báo, Bí thư thành ủy Bắc Kinh), Ngô Hàm (nhà lịch sử, Phó thị trưởng thành phố Bắc Kinh), Liêu Mạt Sa (nhà thơ) mở mục “Bút ký thôn ba nhà” trên báo Bắc Kinh buổi chiều chuyên đăng các bài tạp văn, tùy bút khôi hài, đả kích các thói hư tật xấu của mọi người – có thể ngầm hiểu là cả người lãnh đạo cao nhất, rất có ảnh hưởng. Ngày 10/5/1966 bị phê phán là “một cuộc tiến công lớn vào chủ nghĩa xã hội có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được dày công sắp đặt” là “ngọn cỏ độc chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội”… Đặng Thác bị truy bức đến mức phải tự sát, Ngô Hàm bị bức hại đến chết năm 1969, Liêu Mạt Sa bị bắt giam. Tháng 7/1979 “vụ án” này được bình phản, ba người được khôi phục hoàn toàn danh dự.

Cái gọi là ”Cách mạng văn hóa” kéo dài hơn 10 năm, thực chất là một cuộc nội chiến, động loạn lớn, trên 20 triệu người bị đả kích bức hại, chưa rõ số người chết là bao nhiêu (có số liệu nói là trên 20 triệu người bị chết). Từ Chủ tịch nước, Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng, Nguyên soái, Đại tướng, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng (như Lão Xá) cho đến nhiều cán bộ và người dân bình thường đã bị các vụ án oan, án giả, án sai cũng như sự bức hại của “ba loại người” đến mức ngậm oan mà chết hoặc phải tự kết liễu đời mình. Tổn thất về kinh tế lên tới hơn 500 tỷ nhân dân tệ, nền kinh tế Trung Quốc đứng bên bờ vục thẳm của sự sụp đổ. Vết thương do nó tạo ra khiến một số người lãnh đạo Trung Quốc sau khi CMVH vừa kết thúc đã tỏ ý lo lắng rằng phải mấy thế hệ mới giải quyết được (trên thực tế đã có cái gọi là “Văn học vết thương” tồn tại trên mười năm sau CMVH).

Để xử lý, giải quyết những vụ án lịch sử nhiều không kể xiết ấy, trong nội bộ lãnh đạo ĐCSTQ đã có sự đấu tranh quyết liệt. Tiêu biểu cho những người kiên trì giữ nguyên hiện trạng là Hoa Quốc Phong. Ngày 7 tháng 2 năm 1977, xã luận của hai tờ báo, một tạp chí (tức Nhân dân nhật báo, Giải phóng quân báo và tạp chí Hồng kỳ) đã đăng bài xã luận, trích lời nói của Hoa Quốc Phong (lúc đó là Chủ tịch đảng, Chủ tịch quân ủy Trung ương, Thủ tướng Chính phủ) rằng: “phàm là chỉ thị do Mao Chủ tịch đã đưa ra, chúng ta đều kiên quyết ủng hộ; phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều trước sau như một tuân theo”. Câu nói đó được coi là một trong những phương châm chỉ đạo trong thời kỳ mới. Sau này, ngày 10/3/1977 trong hội nghị Trung ương, Hoa Quốc Phong còn nói thêm: “phàm là những quyết sách của Mao Chủ tịch đều phải ủng hộ; phàm là những lời nói, hành động tổn hại đến hình tượng của Mao Chủ tịch đều phải ngăn chặn”. Sau khi được phục hồi công tác, Đặng Tiểu Bình và một số người lãnh đạo khác đã kiên quyết ngăn chặn chủ trương trên. Tại hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa 11 họp tháng 6 năm 1981, “hai cái phàm là” là một trong những nguyên nhân khiến Hoa Quốc Phong bị phê phán và mất các chức vụ quan trọng đã đề cập trên, vì phương châm này đã ngăn chặn, làm chậm trễ việc giải quyết các vụ án oan, án giả, án sai trước CMVH cũng như việc xử lý “3 loại người” trong CMVH.

Phương châm sửa sai. Những đánh giá về Mao Trạch Đông
Ngay sau khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời và “lũ bốn người” bị bắt không lâu, một số cán bộ lão thành cách mạng Trung Quốc đang còn giữ được cương vị lãnh đạo lúc đó đã kịp thời đưa ra chủ trương, nguyên tắc rất kiên quyết, rất được lòng người: “Có sai phải sửa, sai toàn bộ phải bình phản toàn bộ, sai bộ phận phải bình phản bộ phận, không sai không bình phản” và “thành tựu là chủ yếu, nhưng không cho phép xem nhẹ sai lầm” để căn cứ vào đó mà đánh giá đúng, sai, công, tội của các tổ chức và cá nhân, bất kỳ là ai; do đó đã bình phản và khôi phục, đưa được một số người lãnh đạo cũ bị đánh đổ ra công tác, tăng cưòng thêm lực lượng (như trường hợp Đặng Tiểu Bình). Trần Vân là một trong những nhà lãnh đạo đi hàng đầu trong công tác sửa sai. Ông có câu nói bất hủ: “Thế hệ chúng ta phải có trách nhiệm giải quyết xong những vấn đề lịch sử để lại, không được đùn đấy cho thế hệ sau” (Trần Vân văn tuyển).

Khó khăn nhất trong việc giải quyết những vấn đề lịch sử để lại là đánh giá công tội, đúng sai của Mao Trạch Đông, qua các thời kỳ, kể từ ngày thành lập nước CHNDTH, vì ông là người vừa được coi là “cứu tinh” của dân tộc Trung Hoa, từng được đề cao như một ông thánh, một người thầy vĩ đại, một lãnh tụ thiên tài của nhân dân Trung Quốc, nhưng trên thực tế cũng là người gây ra nhiều tai họa, nhiều đau thương nhất cho dân chúng và đất nước Trung Quốc. ĐCSTQ đã giải quyết vấn đề gay cấn này như thế nào? “Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử..” viết:
Đánh giá những sai lầm của Mao Trạch Đông trước CMVH
– “Năm 1957, Đảng triển khai phong trào chỉnh phong, phát động quần chúng đề xuất phê bình, kiến nghị với Đảng là một bước đi bình thường, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhưng một số cực ít phần tử phái hữu đã thừa cơ cổ xúy cho cái gọi là “trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng”, phát động tiến công một cách bừa bãi vào Đảng cà chủ nghĩa xã hội mới ra đời, ý đồ thay thê sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành phản kích kiên quyết cuộc tấn công đó là hoàn toàn chính xác và cần thiết. Thế nhưng cuộc đấu tranh chống phái hữu do đồng chí Mao Trạch Đông phát động đã bị mở rộng một cách vô cùng nghiêm trọng, đã qui sai một loạt trí thức, nhân sĩ yêu nước và cán bộ trong Đảng là “phần tử phái hữu” tạo ra hậu quả bất hạnh…”.

“Năm 1958, hội nghị lần thứ hai Đại hội 8 thông qua đường lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội… Thế nhưng do chưa đủ kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhận thức không đầy đủ qui luật phát triển kinh tế và do đồng chí Mao Trạch Đông, do không ít đồng chí lãnh đạo Trung ương và địa phương, trước những thắng lợi đã nảy sinh tâm tình kiêu ngạo, tự mãn, muốn thành công gấp, khuếch đại tác dụng của ý chí chủ quan, nỗ lực chủ quan, không trải qua nghiêm túc điều tra, nghiên cứu, làm thử đã khinh suất phát động phong trào “nhảy vọt lớn” và phong trào công xã nhân dân khiến cho sai lầm tả khuynh lấy chỉ tiêu cao, chỉ huy mù quáng, làn gió ba hoa và “làn gió cộng sản” làm tiêu chí chủ yếu đã lan tràn nghiêm trọng… Tại thời kỳ sau của hội nghị Lư Sơn (7/1959) đồng chí Mao Trạch Đông đã phát động một cách sai lầm đợt phê phán đồng chí Bành Đức Hoài tiến tới triển khai một cách sai lầm cuộc đấu tranh “chống phái hữu”. Nghị quyết phê phán cái gọi là “tập đoàn chống đảng Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành, Trương Văn Thiên, Chu Tiểu Châu” là hoàn toàn sai lầm. Cuộc đấu tranh này về chính trị đã làm cho sinh hoạt dân chủ trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở bị tổn hại nghiêm trọng; về kinh tế làm gián đoạn tiến trình uốn nắn sai lầm tả khuynh, cộng thêm ba năm bị thiên tai nghiêm trọng đã làm rất nhiều người bị chết vì đói và vì bệnh [có tư liệu nói là 20 triệu người]”.

“Mọi thành tựu trong thời gian này đều do sự lãnh đạo tập thể của Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Đông. Những sai lầm cũng vậy, trách nhiệm là ở tập thể, đồng chí Mao Trạch Đông chịu trách nhiệm chủ yếu nhưng không thể qui hết mọi sai lầm vào đồng chí Mao Trạch Đông. Trong thời gian này sai lầm của đồng chí Mao Trạch Đông về lý luận và thực tiễn đấu tranh giai cấp trong xã hội chủ nghĩa đã phát triển ngày càng nghiêm trọng, tác phong độc đoán chuyên quyền cá nhân của đồng chí đã từng bước làm tổn hại chế độ tập trung dân chủ của đảng, hiện tượng sùng bái cá nhân phát triển từng bước, Trung ương Đảng không uốn nắn kịp thời những sai lầm đó. Bọn dã tâm Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh đã dụng tâm lợi dụng và giúp cho những khuyết điểm ấy phát triển lên. Những điều đó đã dẫn tới CMVH”.
Đánh giá sai lầm của Mao Trạch Đông đối với Cách mạng văn hoá

“Nghị quyết…” cho rằng những luận điểm để Mao Trạch Đông phát động CMVH như: “một loạt lớn nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản, phần tử xét lại phản cách mạng đã chui vào đảng vào chính quyền vào quân đội và vào các giới lãnh đạo văn hóa; quyền lãnh đạo của đa số tương đối lớn đơn vị đã không còn trong tay những người macxit và nhân dân quần chúng. Phái đương quyền đi con đường tư bản ở Trung ương đã hình thành một Bộ tư lệnh tư sản, nó có dường lối chính trị và đường lối tổ chức của chủ nghĩa xét lại… Các loại đấu tranh trước đây không thể giải quyết vấn đề, chỉ có thực hiện đại CMVH vô sản, phát động quần chúng một cách công khai, toàn diện, từ trên xuống dưới, vạch trần những mặt đen tối nói trên mới có thể cướp lại quyền lực đã bị phái đương quyền cướp đoạt. Thực chất đây là một cuộc cách mạng chính trị, giai cấp này lật đổ giai cấp khác, sau này còn phải tiến hành nhiều lần” là “không phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin cũng vừa không phù hợp với thực tế Trung Quốc. Những luận điểm này trong đánh giá tình hình giai cấp nước ta lúc đó cũng như tình trạng chính trị của Đảng và nhà nước là hoàn toàn sai lầm.” Cụ thể là:

– Đã tiến hành đấu tranh sai lầm với cái gọi là “tập đoàn phản Đảng Bành Chân, La Thuỵ Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn” và cái gọi là” Bộ tư lệnh Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình”.

– Tiến hành cải tổ sai lầm đối với cơ cấu Trung ương Đảng, thành lập cái gọi là “Tổ Văn cách Trung ương” để cho Tổ này nắm bộ phận quyền lực rất lớn của Trung ương.

– Sự lãnh đạo sai lầm tả khuynh của đồng chí Mao Trạch Đông trên thực tế đã thay thế sự lãnh đạo tập thể của Đảng, sùng bái cá nhân đồng chí Mao Trạch đông đã được cổ xúy đến trình độ cuồng nhiệt. Bọn Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh… đã lợi dụng, thừa cơ kích động “đả đảo tất cả, nội chiến toàn diện”.

– Một số đồng chí như Đàm Chấn Lâm, Trần Nghị, Diệp Kiếm Anh… khi phê bình cách làm sai lầm của CMVH đã bị vu cáo là “dòng nước ngược” bị chèn ép, đả kích.

– Sự kiện Lâm Bưu bỏ chạy ngày 13/9/1971 về khách quan đã tuyên bố sự thất bại về lý luận và thực tiễn của CMVH vô sản.

– Trong sự kiện Thiên An Môn (tháng 4/1976), Bộ Chính trị và đồng chí Mao Trạch Đông đã đưa ra phán đoán sai lầm về tính chất của sự kiện, hơn nữa còn sai lầm tước bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng của đồng chí Đặng Tiểu Bình.

Nghị quyết nhấn mạnh: “Đồng chí Mao Trạch Đông có trách nhiệm chủ yếu về những sai lầm nghiêm trọng, tả khynh, kéo dài có tính toàn cục của CMVH”, “đồng chí luôn luôn kiên trì sai lầm của CMVH”, “đồng chí dần dần kiêu ngạo lên, dần dần thoát ly thực tế và thoát ly quần chúng, chủ nghĩa chủ quan và tác phong chuyên quyền độc đoán ngày càng nghiêm trọng, ngày càng bao trùm lên Trung ương, khiến nguyên tắc lãnh đạo tập thể và chế độ tập trung dân chủ trong sinh hoạt chính trị của đảng không ngừng bị suy yếu rồi đến bị phá hoại”.
Mặc dù đánh giá sai lầm của Mao Trạch Đông là rất nghiêm trọng, nhưng ĐCSTQ đã không phủ định ông, mà cho rằng “thế nhưng sai lầm của đồng chí Mao Trạch Đông rốt cuộc vẫn là sai lầm của một nhà cách mạng vô sản vĩ đại phạm phải”, “trong lúc phạm sai lầm nghiêm trọng đồng chí vẫn nhiều lần yêu cầu toàn đảng nghiêm túc học tập các tác phẩm của Mác-Lênin, vẫn trước sau cho rằng lý luận và thực tiễn của mình là chủ nghĩa Mác”, “đồng chí cũng ngăn chặn và uốn nắn một số sai lầm cụ thể, bảo vệ một số cán bộ lãnh đạo của Đảng và nhân sĩ nổi tiếng ngoài Đảng, làm cho một số cán bộ phụ trách lại dược trở lại cương vị lãnh đạo quan trọng”, “đồng chí đã lãnh đạo cuộc đấu tranh đập tan tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, ngăn chặn dã tâm cướp quyền của “lũ bốn người”, “đất nước vẫn duy trì được thống nhất và phát huy ảnh hưởng quan trọng trên thế giới.” “ Vì những cái đó, đặc biệt là vì những cống hiến vĩ đại của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng lâu dài, nên nhân dân Trung Quốc mãi mãi coi đồng chí Mao Trạch Đông là lãnh tụ và người thầy vĩ đại, kính yêu của mình”.
Ngoài việc đánh giá sai lầm của Mao Trạch Đông qua các thời kỳ, “Nghị quyết…” đã đánh giá hai Đại hội 9 (tháng 4/1969) và Đại hội 10 (tháng 8/1973) của ĐCSTQ như sau:

“Đại hội 9 đã hợp pháp hóa sai lầm lý luận và thực tiễn của CMVH. Tăng cường địa vị cho bọn Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh trong Trung ương Đảng. Phương châm chỉ đạo về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức của Đại hội 9 đều sai lầm”.

“Đại hội 10 của Đảng vẫn tiếp tục sai lầm tả khuynh của Đại hội 9, hơn nữa còn đưa Vương Hồng Văn lên làm Phó Chủ tịch Đảng; bọn Giang thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn kết thành “lũ bốn người” trong BCT, thế lực tập đoàn phản cách mạng Giang Thanh được tăng cường”.

(Những đánh giá này có thể coi là sự phủ định hoàn toàn hai Đại hội đảng toàn quốc, một sự kiện có một không hai trong lịch sử ĐCSTQ)

Một số nhận định

Những sai lầm của ĐCSTQ và người lãnh đạo chủ yếu – Mao Trạch Đông – trong thời gian từ năm 1949 đến năm 1976 rất nghiêm trọng, làm tổn hại đến sinh mệnh và tài sản của hàng trăm triệu nhân dân Trung Quốc (có tư liệu nước ngoài nói: “nhảy vọt lớn” và “đại CMVH” đã làm chết khoảng 40 triệu người và hàng trăm triệu người bị lâm vào cảnh tù đày, đấu tố; cuốn Mao TRạch Đông ngàn năm công tội của Tân Tử Lăng, Nhà xuất bản Thư tác phường, 2007 (tái bản 2008) thống kê con số bị chết trong cả hai cuộc “đại” ấy là 55 triệu 550 nghìn người). Một câu hỏi được đặt ra: vì sao nhân dân, đảng viên ĐCSTQ lại cam chịu, không đứng lên chống lại?

Câu trả lời là: ngoài sự trấn áp dữ dội bằng quân sự sẽ có ngay nếu động loạn xảy ra, những người lãnh đạo Trung Quốc thường phát hiện được sai lầm khá sớm, sau đó họ lặng lẽ sửa sai một phần (xem phần nói về chống phái hữu, hay phần nói Mao Trạch Đông bảo vệ được một số lãnh đạo quan trọng trong CMVH) nên đã làm dịu được lòng người.

Câu hỏi trên không có ý nói tinh thần đấu tranh của nhân dân Trung Quốc không kiên cường mà muốn nhấn mạnh tai họa giáng xuống đầu mỗi người dân Trung Quốc rất lớn nhưng vì đại cục, vì tin tưởng vào Đảng, vào lãnh tụ nên những người cộng sản và đại đa số nhân dân Trung Quốc đành cam chịu, nhưng phần lớn vẫn kiên trì đấu tranh (dù là lâu dài) với phương châm và biện pháp rất kiên quyết nhưng cũng rất linh hoạt như: có sai phải sửa, việc dễ làm trước, việc khó làm sau, giải quyết từng phần tiến tới giải quyết toàn bộ, đời trước chưa xong thì đợi đến đời sau nhưng cuối cùng thì chân lý phải thắng.

Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, chỉ sau khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời, “lũ bốn người” bị bắt thì công việc sửa sai mới có thể tiến hành một cách toàn diện và tương đối triệt để (ngoại trừ vụ Lâm Bưu trước đó và vụ Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương sau này giải quyết còn dở dang).

Vì lợi ích của đất nước, Trung Quốc vẫn duy trì thần tượng Mao Trạch Đông một cách giới hạn và ngày một giảm dần, nhưng việc tiến hành mổ xẻ, phê phán nghiêm khắc những việc làm sai lầm của ông và những tổn thất do ông gây ra cho nhân dân, đất nước (“tội của Mao Chủ tịch một đoàn xe lửa chở cũng không hết” – Báo chữ lớn trong CMVH – Dương Danh Dy ghi) đã khiến nhiều cán bộ đảng viên và người dân bị tai nạn, dịu bớt nỗi đau. Đặc biệt là việc bình phản cho những án oan án sai án giả (có thể nói là “tiếng oan dậy đất”) cho tất cả những người vô tội, dù đông tới hàng chục triệu người (suy ra từ 2,9 triệu người bị liên quan trực tiếp) đã khiến nhiều người mừng rơi nước mắt, quên hết oán giận.

Đặc biệt đã xử lý nghiêm khắc bọn đầu sỏ và những phần tử thuộc “3 loại người” không nhẹ tay với bất kỳ ai, ví dụ như:

– Giang Thanh, dù là vợ Chủ tịch Mao Trạch Đông vẫn bị kết án tử hình (hoãn thi hành hai năm).

– Mao Viễn Tân, dù là cháu gọi Chủ tịch Mao Trạch Đông bằng bác ruột, con liệt sĩ cách mạng cũng bị xử 17 năm tù giam, tước đoạt quyền lợi chính trị 4 năm.

– Khang Sinh một kẻ dã tâm, trước khi chết là Phó Chủ tịch ĐCSTQ nên được hưởng mọi tiêu chuẩn đãi ngộ của chức vụ này, nay bị tước bỏ diễn văn truy điệu (vì ca ngợi công lao của hắn), khai trừ khỏi Đảng và đưa tro xương ra khỏi Bát Bảo Sơn. Tạ Phú Trị, UVBCT, Phó Thủ tuớng, Bộ trưởng Bộ Công an cũng bị xử lý như vậy.

– Hơn 400.000 phần tử thuộc “3 loại người” bị xử lý, trong đó có 43.074 người phạm sai lầm nghiêm trọng (như Mao Viễn Tân, Khoái Đại Phú, Nhiếp Nguyên Tử… đều bị khai trừ Đảng và bị tù gần hai mươi năm).

V.v.

Cách giải quyêt và xử lý kiên quyết với những kẻ phạm tội đó đã làm cho bao nhiêu nạn nhân và gia đình những người bị hại trong CMVH mát lòng hả dạ, vợi đi những đau thương.

Chính những sửa sai nói chung là chính xác, thỏa tình đạt lý, được quán triệt đến từng người dân, đã khiến cho bao nhiêu oan ức tủi hờn, đau thương mà họ và gia đình họ phải chịu dựng trong thời gian dài (có một số người là rất dài, hết cả đời người hoặc có người không còn sống để thấy ngày bình phản) được giải tỏa, bao nhiêu oán hận được quên đi, tuyệt đại đa số người dân Trung Quốc hăm hở, phấn chấn bước vào cuộc cải cách, mở cửa vĩ đại do ĐCSTQ phát động năm 1978 nhằm “chấn hưng Trung Quốc”. Họ dường như đã nhanh chóng quên được quá khứ đầy nước mắt để chung lòng chung sức phấn đấu vì mục tiêu chung nhờ đó Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn mà ai cũng thấy.

IV. Mấy đề nghị nhỏ

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam đạt được những thành tựu vô cùng to lớn. Tuy vậy Đảng ta cũng mắc phải một số thiếu sót, sai lầm.

Theo thiển ý cá nhân, trong tiến trình giải quyết những thiếu sót, sai lầm đó, Đảng ta đã rất thành công trong việc sửa sai Cải cách ruộng đất hồi miền Bắc mới được giải phóng. Do Đảng ta đã thẳng thắn, công khai thừa nhận sai lầm của mình nên những người bị qui sai thành phần thành địa chủ, phú nông, bị xử lý oan trong cải cách ruộng đất và gia đình họ đã rơi nước mắt khi được giải phóng, họ cám ơn Đảng và càng tin tưởng vào Đảng hơn. Tiếc rằng sau đó những sự việc tương tự không diễn ra nữa.

– Vụ “Nhân văn giai phẩm”, xử lý quá nặng, nhưng không dám sửa đến nơi đến chốn, mà chỉ làm một cách nửa vời, như gần đây tặng giải thưởng nhà nước cho tác phẩm của bốn nhân vật chủ yếu của “Nhân Văn, Giai phẩm” hồi đó. Tại sao không dám nhận sai và sửa sai triệt để và nêu tên những người đã xử lý sai?

– Vụ cái gọi là “nhóm chống đảng trong và ngoài quân đội”. Xin hỏi họ mắc tội gì? Sao không dám công khai? Nếu họ không có tội, thì ai là người dựng nên chuyện và xử lý? Người viết bài này từng có quan hệ khá thân thiết với một vài đồng chí trong nhóm này (có người còn sống, có người đã mất) được biết những lý do để xử lý các đồng chí ấy là không thể chấp nhận được, và người đứng ra làm việc đó ai cũng biết cả. Tại sao Đảng ta đến tận bây giờ vẫn im lặng, không dám nhận sai và sửa sai triệt để?

– Nhiều vụ công dân bị lặng lẽ bắt đi cải tạo, giam giữ mà không hề có lệnh của cơ quan có trách nhiệm (không biết là bao nhiêu người), bản thân họ và thân thuộc bị phân biệt đối xử và phải sống trong kỳ thị một thời gian dài. Đảng ta có ý định sửa sai cho những người dân vô tội này không?

– Đã đến lúc phải nghiêm túc, công khai đặt vấn đề và tiến hành đánh giá công tội, đúng sai cho một số nhân vật lịch sử mà trước đây do một số người trong Đảng ta nhận định chưa chính xác, nên đã tạo ra những ngộ nhận về họ như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, v.v. Ngay cả một số người trong Chính quyền Sài Gòn trước đây như Trần Văn Hữu, v.v. hoặc sự hy sinh của các sỹ quan và binh lính Sài Gòn trong cuộc chiến đấu tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974 cũng nên được xem xét tới.

Tôi trộm nghĩ, so với những sai lầm và tai họa mà ĐCSTQ và Chủ tịch Mao Trạch Đông gây cho các đảng viên ĐCSTQ và nhân dân Trung Quốc thì những sai lầm của Đảng ta không thấm vào đâu. Những vết thương tự gây ra trên mình ĐCSTQ và nhân dân Trung Quốc sưng tấy, đầm đìa máu mủ, tưởng rằng không thể chữa được hoặc phải một thời gian rất dài mới có thể chữa lành. Thế nhưng do dám dũng cảm nhìn thẳng vào sai lầm, thấy được trách nhiệm của mình và cao hơn cả là vì mục tiêu đoàn kết toàn dân, phấn đấu đưa Trung Quốc tiến lên thành một cường quốc, những người lãnh đạo Trung Quốc đã cương quyết tiến hành sửa sai dù phải qua nhiều khó khăn, sức cản, tốn kém rất nhiều công sức và tiền của. Đến nay xem ra họ đã thành công (ngoại trừ mấy tồn tại nêu trên).

Cuối cùng người viết bài này xin mạnh dạn đề nghị: Đảng ta cũng cần phải dũng cảm đánh giá một cách khoa học một số nhân vật trong đảng đã thành lịch sử. Sau khi đọc tập sách viết về một số người lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta, tôi có cảm tưởng là đồng chí nào cũng mình đầy công lao, ưu điểm, sáng suốt không hề có một tí khuyết điểm nào. Nếu các đồng chí ấy đều tài đức như vậy thì vì sao đất nước chúng ta phải lâm vào cuộc đối đầu căng thẳng với người láng giềng phương Bắc trong gần hai chục năm (trong đó có cuộc chiến tranh biên giới mà đến bây giờ vì “đại cục” chúng ta không dám công khai nói tới nửa câu?). Vì sao nhân dân ta phải sống cực khổ, đất nước ta bị bao vây cấm vận mười mấy năm ròng sau ngày thống nhất đất nước, tụt hậu một bước dài so với các nước trong khu vực? Vì sao Đảng ta chỉ tổng kết 20 năm cải cách đổi mới mà không tổng kết mười năm trước đó? V.v.

Vô cảm trước những đau thương, chịu đựng của đồng chí, đồng bào, gác vấn đề lại làm như không biết, hoặc chỉ sửa sai nhỏ giọt, hoặc sợ sệt, nhát gan không dám nhìn thẳng vào sự thật…, đều không phải là thái độ của những người macxit chân chính. Hiện nay những người trong cuộc vẫn còn nhiều, đánh giá lại một số sự kiện và nhân vật lịch sử vào lúc này sẽ dễ hơn nhiều nếu như Đảng ta để lại vấn đề đó cho thế hệ sau.

Người viết bài này đã nghiên cứu, chăm chú theo dõi việc ĐCSTQ giải quyết một số vấn đề lịch sử trong đảng họ từ năm 1979 đến nay (2007). Những đề nghị nhỏ nói trên không phải là suy nghĩ nhất thời mà là sự nghiền ngẫm suy nghĩ từ nhiều năm, là tâm huyết của một người nghiên cứu và trên hết là lời nói từ đáy lòng của một đảng viên có trách nhiệm với sự nghiệp của dân tộc. Vì vậy có điều gì chưa thoả đáng, mong được thông cảm và lượng thứ.

(Bắt đầu viết năm 2002, đã đăng một phần trên tạp chí Xưa & Nay năm 2002, hoàn thành ngày 16 tháng 12 năm 2007, có bổ sung thêm một số sự kiện mới nảy sinh năm 2008)

D. D. D.

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
http://bauxitevn.net/c/20229.html

2 phản hồi »

  1. Cam on tac gia da cung cap nhieu thong tin quy giup chung ta co cai nhin dung dan ve lich su .Tai sao DCS VN khong dam cong khai va sua sai…?phai chang ho dat quyen loi cua dang len tren loi ich dan toc?

    Bình luận bởi Tran Van Nam — 11/08/2010 @ 9:57 sáng | Phản hồi

  2. “Trông người lại nghĩ đến ta” phần nào “Ta” cũng đã được giải mã trong tập thơ Điều tàn của Chế Lan Viên:
    Chế Lan Viên- Điêu tàn năm 1937: “kinh dị, thần bí, bế tắc”, đã và đang được trả nghiệp trên đất đại Việt từ năm 1945 đến nay, và nhân dân Việt Nam còn phải nhận quả báo sau một thời gian nữa ?.
    Điêu tàn- kinh dị : Từ 1945 đến 1975, 30 năm chiến tranh “giải phóng dân tộc” để dành thống nhất dải đất S Việt Nam, so với các nước Thái Lan, Malaisia, Philipine, Indonesia,Mianma, nhân dân Việt Nam đã phải trả một giá quá đắt: Hàng triệu bà mẹ Việt Nam “anh hùng”, hàng triệu gia đình liệt sỹ (tính theo một bên), hàng triệu người mẹ mất chồng, trẻ thơ mất cha. Biết bao mái nhà, nhà thờ, chùa chiền tan hoang, đồng ruộng điêu tàn, hàng trăm ngàn nghĩa địa “khang trang” mọc nên trên khắp dải đất S… Ít nhất hơn 4 triệu thanh niên bị chết trận, hàng trăm ngàn nhà trí thức khoa học, văn sỹ, địa chủ, tiểu tư sản bị tiêu diệt, nhiều tỷ dolar tài sản của nhân dân bị phá hủy, hàng trăm ngàn người vượt biên chết mất xác trên biển, hàng triệu người di tản sống tha phương cầu thực… Và hiện nay, nhất là từ thời gọi là “mở cửa”, một cơ chế Chính phủ độc Đảng-Cộng sản, các lãnh tụ Đảng trình độ dân trí quá thấp lãnh đạo xây dựng lại đất nước; Càng xây dựng chính phủ càng lợ lần, người dân lao động càng nghèo khó, tài nguyền cạn kiệt nhanh chóng, môi trường ô nhiễm trầm trọng. Xây dựng đến đâu lại tục hậu lại so với các nước Thái Lan, Malaisia, Philipine, Indonesia… đến đó (hiện nay tục hậu hàng nửa thế kỷ so vói họ).
    Điêu tàn- thần bí: Trước năm 1945 trong và ngoài nước An Nam có nhiều phong trào, tổ chức của các tầng lớp nhân dân (nhà nho, quan lại phong kiến, trí thức, học sinh sinh viên do chính phủ Pháp đào tạo, công nhân, nông dân…), đứng lên đấu tranh chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp. Hay còn gọi là đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng các cá nhân và tổ chức trước đó đều không thành công mặc dù trong họ nhiều người có tri thức, học vị và rất có tài.
    Năm 1945 Nguyễn Ái Quốc, bất ngờ xuất hiện và bản tuyên ngôn nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Một sự kiện đặc biệt ở Đông Nam Á, Đông nam Á xuất hiện một con người đặc biệt trong các dân tộc, các tầng lớp nhân dân An Nam. Một Hồ Chí Minh (trước đó chưa từng ở trong một tổ chức chính trị yêu nước nào của An Nam), đã trở thành lãnh tụ của nhân dân Viêt Nam. Không chấp nhận xu hướng thời đại, không nhận trao trả độc lập bất bạo động của thực dân Pháp và Anh dành cho các nước thuộc địa ở Đông Nam Á như: Thái Lan, Malaisia, Miện Điện, Indonesia…. Không chấp nhận thành lập một chính phủ bầu cử tự do dân chủ, dân cử để thống nhất Viêt Nam. Hồ Chí Minh quyết tâm đưa chủ nghĩa Cộng sản vào Viêt Nam, lãnh đạo nhân dân An Nam chiến đấu thống nhất Việt Nam bằng con đường bạo động. Và hậu quả như phần kinh dị.
    Điêu tàn- bế tắc. Giải đất hình chữ S An Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản của Người thống nhất đến nay ở Việt Nam: Nông dân không có ruộng cày (theo đúng luật đất đai hiện hành), công nhân không có nhà ở (với lương bình quân 2- 3 triệu/tháng/người, bao giờ công nhân mới có nhà ở), trí thức không có tiếng nói phản biện, học sinh không còn “tiên học lễ hậu học văn”. Giáo viên phải “tổ chức” dạy thêm lấy tiền của học sinh, hoặc buôn bán làm thêm mới đủ sống. 70-80% các quan chức chính phủ học giả bằng thật, nhân dân sống trong sự no sợ chính quyền. Một Chính phủ độc quyền, cồng kềnh song song một bên Đảng- một bên Chính quyền, thủ tục hành chính rườm rà, xin cho- Phong bì, tham nhũng… Với một nền giáo dục đào tạo Đảng hóa- văn hóa thấp, (các ủy viên BCT không có ngoại ngữ, không có bằng cấp nghiêm chỉnh kể cả tốt nghiệp từ trường Chính trị Nguyễn Ái Quốc), không có tâm linh, không có hướng thiện hướng đạo, chỉ có Đảng là trên hết.
    Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người xuất phát từ đâu. Toàn bộ các đồng chí của Người từ đâu sinh ra, Người và các đồng chí của Người sao lại không có tôn giáo, mặc dù gia đình ông bà cha mẹ của Người và các đồng chí của Người sinh ra trên giải đất đại Việt đã có truyền thống văn hóa theo đạo Phật hàng nghìn năm. Người và các đồng chí sao lại vận dụng Chủ Nghĩa Mác Lênin một cách “hoàn hảo” trên đất Viêt như vậy, mặc dù nơi sinh ra nó (nước Nga) đã được xóa bỏ vĩnh viễn. , Đảng lãnh đạo vận dụng Chủ Nghĩa Mác Lênin xây dựng đất nước, càng xây tệ nạn xã hội càng tăng; tai nạn giao thông người chết hàng năm hơn một cuộc chiến tranh/ 12000-15000 người/ năm, ô nhiễm môi trường vệ sinh thực phẩm trầm trọng, y tế bẩn thỉu…
    Hiện nay trên các diễn đàn công khai trong và ngoài nước, trên các trang mạng internet có nhiều nhà lý luận sắc bén, nhiều nhà bất đồng chứng kiến, có người đã bị bắt và sẽ có người tiếp tục bị bắt do phản đối, bất bình với chính quyền, đòi dân chủ, đa nguyên đa đảng… Các học giả, các Trí thức, các công dân mong muốn xây dựng một đất nước Việt Nam hình chữ S Thống nhất, thực sự Dân chủ, Phát triển, Văn minh và Hạnh phúc, là một điều thật khó khăn.
    Luận theo quy luật: Nhân quả và Nghiệp báo (1).
    Năm 1890, +/ – 5 năm, hiện chưa xác định được chính xác, tại Nam Đàn Nghệ An, nơi nằm gần biên ải của nước Đại Việt với ChamPa cũ, nơi cũng đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Nguyễn Sinh Cung ra đời.
    Nguyễn Sinh Cung lớn lên ở nơi sinh ra Nghệ An, trưởng thành thành một thanh niên- Nguyễn Tất Thành có trí tuệ bẩm sinh tuyệt vời, sau nhiều năm lăn lộn tìm hiểu mảnh đất quê hương: từ xứ Quảng đến cố đô Huế, Phan Rang, Phan Thiết … Nguyễn Tất Thành không vào lục tỉnh miền Nam (đất Khơme cũ) đã xuất ngoại và bôn ba đó đây trên thế giới. Năm 1945 bất ngờ trở về Hà Nội với tên mới Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – và trở thành Lãnh tụ của Việt Nam. Mặc dù trước đó Hồ Chí Minh chưa từng nằm trong một tổ chức chính trị yêu nước nào, chưa phải một học giả, một nho sỹ hay một quan lại của Việt Nam. Dân An Nam từ cố đô Huế, ra đô thị Hà Nội đến thương cảng Saigon không ai biết Hồ Chí Minh là ai. Trở về đại Việt năm 1945 ở độ tuổi 50-55 (với bộ dâu thưa thưa), Hồ Chí Minh đã được dân An Nam tôn gọi là Cụ. – Cụ Hồ ?.
    Tiền kiếp trước kia Nguyễn Sinh Cung- Cụ Hồ có thể là một trong những Thái tử con của một trong những vua ChamPa, hoặc là một trong những quan Nhiếp chính Nhất phẩm nhà Chăm theo đạo BaLaMon thuần túy. Sau 4- 5 thế kỷ nhà nước ChamPa đánh nhau với Đại Việt, bị đại Việt tiêu diệt xóa sổ, sang thế kỷ 18-19 cơ duyên đến, hồn thiêng tái sinh, một Nguyễn Sinh Cung ra đời. Việc Nguyễn Sinh Cung đổi từ họ Nguyễn thành họ Hồ không phải là vô tình, sự việc này nó cũng giống la lá như việc Lê Quý Ly đổi từ họ Lê sang họ Hồ, Hồ Quý Ly. Và có thể Nguyễn Sinh Cung đã nhận thấy nhà Chăm bị đại Việt tiêu diệt hoàn toàn do chính sách của Lê Quy Ly khi còn làm quan nhiếp chính nhà Trần và sau là vua Hồ Quý Ly của nhà Hồ. (xem thêm lịch sử đại Việt thời nhà Trần và nhà Hồ thế kỷ 14-15). Nên trở về lãnh đạo Việt Nam Nguyễn Sinh Cung đã đổi họ Hồ (họ này trước mắt sẽ được sự vô minh của dân Việt (kinh) ca gợi, nhưng sau này sẽ bị các dân tộc sống trên đất An Nam S thống nhất nguyền rủa, đây là sự huyên thâm của nhân quả – nghiệp báo).
    Cùng về báo nghiệp: Trên mảnh đất miền Trung khô cằn nắng gắt ChamPa, sau Nguyễn Sinh Cung “trời” đã sinh ra một loạt các Thị Giả: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Võ Chí Công, Tố Hữu, Lê Đức Anh, Trần Đức Lương…. Và năm 1945 Họ đã đón Cụ Hồ về. Như thiên định, Nguyễn Sinh Cung- Hồ Chí Minh phải là lãnh tụ (vua); trở về nước Hồ Chí Minh đã quy tập được các tổ chức đảng phái chính trị tại Việt Nam thành một mặt trận, chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng cộng sản do ngưới làm chủ tịch. Các thị giả Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Võ Chí Công, Tố Hữu… trong đời sống riêng tư của các vị có những người giản dị thanh bạch, có người thâm hiểm độc ác nhưng họ đồng nhất với ý chí của Hồ Chí Minh là phải thống nhất Đại Việt bằng bạo lực ?.
    Cùng với Hồ Chí Minh, các Thị Giả của người chắc tiền kiếp cũng không theo đạo Phật truyền thống, không theo đạo Thiên chúa mới du nhập vào Việt Nam. Nên ngay từ thời gian đầu dựng nước Họ đã cùng với Hồ Chí Minh xóa bỏ các tôn giáo (từ 1953 đến 1980 trên đất đại Việt cũ biết bao mái đình, nhà thờ, chùa chiền tan hoang điêu tàn), thay vào đó là một tổ chức nhất Đảng- Cộng sản. Họ bầu Hồ Chí Minh là Chủ Tịch, Họ truyền bá, xây dựng hư cấu, thần tượng hóa… những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch – Trần Dân Tiên. Họ tôn sùng “Cụ” như là một vị Thánh sống (không vợ không con?) và khi Cụ chết, 1969 Họ đã huy động dân đại Việt xây một cái lăng rất giống những chiếc tháp Chăm đặt ở giữa trái tim thủ đô Hà Nội rồi đặt xác Người vào trong đó. Lịch sử đại Việt chưa bao giờ có trường hợp này.
    Tháp Chăm và lăng Hồ Chí Minh
    chỉ khác nhau một chú ít, lăng HCM không có đỉnh chóp.
    Trợ duyên: Để trên mảnh đất S đại Việt phải khốc liệt và điêu tàn, trong vùng ChamPa cũ còn có thêm những gia đình như Ngô Đình Diệm (sinh ở Đất Quảng), Nguyễn Văn Thiệu (sinh ở Nha Trang)… là những người đứng đầu Chính phủ phía Nam đối kháng với Hồ Chí Minh. Hai phe (một bên là cộng sản cầu xin viện trợ Liên xô & Trung Quốc để phát triển chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á, một bên là cộng hòa cầu xin viện trợ của Mỹ ngăn cản chủ nghĩa Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á), huy động nhân dân đại Việt tàn sát lẫn nhau trên mãnh đất S dẫn đến hậu quả cho Việt Nam như phần kinh dị.
    Hành nghiệp:
    Để lãnh đạo đại Việt đấu tranh giải phóng dân tôc bằng con đường bạo động, vị Thánh và các đồng chí- Thị Giả của Người phân loại các tầng lớp nhân dân nước Việt: Ai có xu hướng đấu tranh dân chủ thỏa hiệp, ai có tài sản ruộng đất (phú nông, địa chủ), nhà cửa công xưởng (tiểu thương, tư sản), ai có kiến thức (nhà nho, trí thức, sinh viên học sinh)…, bất cứ ai không theo ý tưởng của họ sẽ được gọi là thù trong. Họ tập trung kêu gọi lực lượng đồng thuận trong nước, xin viện trợ và tư vấn các thủ lĩnh ngoại bang (Stanin, Mao Trạch Động) trước tiên Họ tiêu diệt thù trong trước và sau đó Họ huy động đánh giặc ngoài- đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ quyết dành được một nước Việt Nam thống nhất với những hậu quả như phần kinh dị.
    Duy trì nghiệp báo sau khi Việt Nam thống nhất, hệ con cháu của Cụ Hồ và các Thị Giả củng cố xây dựng một chính đảng Cộng sản- độc quyền lãnh đạo, xây dựng một nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo kinh tế thị trường (không giống ai trên thế giới). Nêu cao học tập gương Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhưng Đảng viên con cháu của cụ và các Thị Giả hiện nay không ai là không tham tài. Ai là Đảng viên có chức có quyền mà không có nhiều tài sản người đó bị các đồng nghiệp coi là cán bộ thường. Với thực tế đó, Đảng viên con cháu cầm quyền của Cụ hiện nay quyết tâm chiếm độc quyền về quản lý tài nguyên thiên nhiên dải đất S. Duy trì quản lý độc quyền về Chính trị, kinh tế, thi nhau tham nhũng, làm giầu. Ai phản đối sẽ bị quy tội là chống phá nhà nước, diễn biến hoà bình, âm mưu lật đổ chính quyền, và bị lực lượng vũ trang công an – an ninh, tòa án, quân đội nhân dân của Cụ đàn áp ngay.
    Giải Nghiệp:
    Nợ nghiệp phải trả nghiệp đó là quy luật của nhân quả- nghiệp báo luân hồi nhưng thời gian trả nhanh hay chậm và luân hồi cũng phụ thuộc vào con người sinh ra trong thời trả nghiệp đó có giác ngộ, sám hối (2) hay không. Và giác ngộ, sám hối ở mức độ nào:
    – Dải đất An Nam xưa kia bao gồm Nước Đại Việt (phía bắc), Chămpa (miền trung) và Nam bộ (khơme), ngày nay đã trở thành một nước Việt Nam thống nhất với hình chữ S rõ ràng. Trên dải đất S hiện nay: Chữ Hán Nôm của người Việt, chữ Sancrit của người Chămpa và chữ Pali của người khơme không còn nữa. Các dân tộc sống trên dải đất Việt Nam thống nhất đã và sử dụng chung một mẫu tự Latin do ông Alexandre de Rhodes xây dựng gọi là chữ quốc ngữ. Với mẫu tự và chữ viết này đã làm cho các dân tộc sống trên đất Việt Nam phát triển, tiếp thu khoa học kỹ thuật văn hóa Tây phương nhanh hơn. Với lợi ích căn bản này các dân tộc sống trên dải đất Việt Nam hiện hành có điều kiện hòa hợp xây dựng một nước Việt Nam phát triển nhanh mạnh.
    – Dù tiền kiếp thế nào nhưng để được một nước Việt Nam thống nhất như ngày nay, các dân tộc sống trên đất đại S này gần 70 năm qua đã phải trả một giá quá khổ cực, quá đau thương (đặc biệt là dân tộc Kinh) … biết bao người mẹ mất chồng trẻ thơ mất cha. Biết bao mái nhà, nhà thờ, chùa chiền tan hoang, đồng ruộng điêu tàn, hàng trăm ngàn nghĩa địa mọc nên…(phần kinh dị.). Sự đau khổ này không phải chí đến đối với người ở “phía bên này, bên kia”, mà đối với tất cả các dân tộc, các tầng lớp nhân dân sinh ra sống trên dải đất S An Nam trong gần 02 thế kỷ qua.
    – Với khẩu hiệu ban đầu để thu hút các tầng lớp nhân dân “ Giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước để nông dân có ruộng cày, công nhân có công ăn việc làm nhà ở, học sinh được đi học miễn phí, trí thức- những người có tài có đức không phân biệt tôn giáo chính trị được tham gia chính quyền xây dựng đất nước. Xây dựng một nước Việt Nam dân chủ- cộng hòa. Hồ Chí Minh kêu gọi các Đảng viên cộng sản nắm chính quyền phải làm đúng nghĩa với điều lệ của Đảng: Cộng sản là vô sản, cán bộ phải là công bộc của nhân dân…”. Nhưng thực tế sau 30 năm chiến tranh, sau ngày thống nhất các Thị Giả của Cụ dần dần đã loại bỏ hết các thành phần yêu nước mà không theo ý Cụ. Rồi sau 35 năm thống nhất, ngày nay Đảng viên của Cụ không còn là người Cộng sản nữa. Cán bộ Đảng viên có chức vụ quyền lợi đã hưởng lương + lậu (bổng lộc) gấp hàng trăm lần lương nông dân, công nhân lao động phổ thông. 35 năm hòa bình Đảng của Cụ lãnh đạo xây dựng đất nước, độc quyền về Chính trị, độc quyền quản lý đất đai- tài nguyên, độc quyền ra những chính sách kinh tế và tham nhũng có tổ chức, có sinh hoạt Đảng đã cho ra đời một tầng lớp tư sản Đỏ. Những lãnh tụ sau Cụ càng ngày càng ngu dốt tham lam. Một số ít Đảng viên con cháu Cụ thì nắm giữ quá nhiều tài sản (bộ Chính trị, Ban Bí thư không dám công khai), còn nông dân và công nhân là 2 giai cấp mà trước kia Cụ dựa vào thì nay càng ngày càng nghèo khó.
    Sống trên dải đất Việt Nam ai cũng biết câu nói của tiền nhân “Lấy oán trả oán thì không bao giờ hết oán. Chỉ có lấy ân trả oán mới hết oán”. Hiện tại chúng ta không thể lại làm một cuộc cách mạng nữa, (nhân dân trong và ngoài nước lại đứng lên theo một “Hồ Chí Minh” mới để tiêu diệt bọn bọn chính quyền quan lại tham ô, nhà giàu bất chính, đòi lại ruộng đất và nhà cửa đã bị chính quyền chiếm hữu tịch thu…?), chúng ta phải tỉnh giác không chính chúng ta lại tạo nghiệp nữa. Và không biết đến bao giờ con cháu các dân tộc sống trên dải đất S An Nam mới được sống đúng với nghĩa của nó “An Nam – Nước bình yên ở phương Nam”.
    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ cho chúng sinh (con người) thấy rõ rằng: “Mọi nhân quả nghiệp báo xuất phát từ lòng tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến”.
    Hướng theo lời dạy của Phật những người thủ lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành cùng các tầng lớp nhân dân, các dân tộc sống trong và ngoài nước Việt Nam phải quán giác ngộ, sám hối:
    1- Giảm bớt lòng tham: Đảng Cộng sản đang nắm độc quyền lãnh đạo đất nước phải: Tổ chức xây dựng lại cơ chế, chia xẻ quyền lực bớt cho các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, (đa nguyên rồi đa đảng) để các tổ chức cùng có quyền lợi và nghĩa vụ xây dựng đất nước. Nếu cố tham giữ một thời gian nữa thì dân trí Đảng càng nghèo nàn, lãnh tụ không có kiến thức và lãnh đạo xây dựng kinh tế đất nước càng nợ nần tụt hậu.

    2- Giảm bớt sự sân hân: Các thủ lĩnh Đảng Cộng sản không nên bực tức dẫn đến sử dụng công an- quân đội bắt bớ các tầng lớp Trí thức trong và ngoài nước phản biện lại đường lối lãnh đạo của Đảng, đàn áp các tầng lớp Nông dân Công nhân biểu tình đấu tranh đòi đất đai do Chính quyền tham nhũng, hoặc biểu tình chống Chính phủ Trung Quốc xâm lấn biên giới Hải đảo…Vì đó là quyền lợi và nghĩa vụ của người dân. Và Công An, Quân đội là của Nhân dân ?
    Các tầng lớp nhân dân Việt kiều hải ngoại cũng giản bớt sân hận hằn thù kêu gọi đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ trong nước nữa, vì nếu đấu tranh vũ trang lại đổ máu lại tạo nghiệp. Không nên căm tức ông Hồ (vì ông Hồ không phải là Nguyễn Sinh Cung, không phải Nguyễn Tất Thành, không phải là Nguyễn Ái Quốc, cũng không phải là Hồ Chí Minh, Ông ta không phải là ai hết… mà là do nghiệp báo).(Nghiệp lực mạnh nhiều khi không giải thích nối, khi phát ra nó được phù trợ, được đồng thuận, nhiều khi người ta cảm tưởng như nó được cả Thiên thời Địa lợi nhân hòa, và hậu quả của nó nhãn tiền chưa nhìn thấy nhưng quán kỹ sẽ thấy vô cùng khủng khiếp- kinh dị).

    3- Giảm bớt sự Si mê: Bộ máy Chính quyền không nên tuyên truyền lãng phí tài chính về chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Giả tưởng. (Trên thế giới ta bà từ nguyên thủy tới nay không có một tôn giáo, một chính phủ, một nền đạo đức nào sung bái một người có vợ có con mà không nhận hoặc không giám nhận có vợ có con. Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ thời 18 vua Hùng dựng nước đến nay các vua chúa lãnh tụ nào cũng công khai có vợ có con. Và thế giới hiện đại các cụ cách mạng đàn anh của cụ Hồ như cụ Cacmax, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, cho đến các cụ đàn em Phidencsto… Putin, Obama ngày nay mỗi người đều có ít nhất một vợ và một vài con. Họ tự hào, tự nhận, và có trách nhiệm với vợ con cái mình. Khoa học đã chứng minh những người lãnh tụ là những người rất thông minh và sinh lý rất khỏe. Và những người có sinh lý khỏe nếu không được giải quyết sinh lý, không có vợ sẽ bị ngu đần và không làm được việc gì. Hồ Chí Minh có vợ có con hay không dân tộc ta Đảng ta do Nghiệp báo chưa giám xác định công khai điều này. Mà gần đây nhất mới có một sự trả lời bất hiếu và không xấu hổ với đài BBC của ông Nông Đức Mạnh “hiện nay ở Việt Nam ai cũng là con cháu bác Hồ” . Vậy mà đài báo Đảng ta cứ xa xả suốt ngày yêu cầu thanh niên học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại). Hãy học tập vận dụng quy luật xây dựng xã hội của các nước tư bản tiên tiến trên thế giới có vận dụng văn hóa Phật giáo vào Việt Nam. Hòa hợp dân tộc, đổi lại màu cờ sắc áo, xóa bỏ quá khứ đau thương. Xây dựng lại hệ thống pháp luật thực sự tam quyền phân lập, dân chủ phù hợp quyền lợi các dân tộc sống trên dải đất S An Nam mới. Tập hợp những người có tài có đức thành lập Nhà nước Dân chủ, Cộng hòa dân cử xây dựng đất nước trong thời đại mới thống nhất hòa bình, phù hợp xu thế thế giới – WTO.
    Các tầng lớp Ngoại kiều hải ngoại không kỳ vọng nhờ Chính phủ nước ngoài, Chính phủ Hoa kỳ hỗ trợ về chính trị, kinh tế để trở về lật đổ Chính phủ Cộng sản hiện hành. Nếu làm căng quá, Đảng- con cháu của cụ Hộ sợ mất quyền lợi sớm, họ lại sang cầu viện nhà Hán (như con cháu cuối đời nhà Trần đã cầu nhà Minh, cuối đời nhà Lê đã cầu nhà Thanh) thì dân An Nam lại bị Bắc thuộc – tạo nghiệp khổ mới.
    (Hiện tại Chính quyền Cộng sản Trung Quốc đang theo dõi sát sao Việt Nam, Chính quyền và nhân dân Việt Nam chỉ sơ hởi một chút là họ lấn chiếm hải đảo, mua chuộc chính trị Chính quyền bằng nhiều thủ đoạn…không loại trừ họ sãn sàng nuôi dưỡng một số phần tử xấu, cho chúng dựa dẫm tham nhũng, cho chúng tị nạn chính tri khi cần thiết).
    Các tầng lớp Ngoại kiều hải ngoại hãy đầu tư cho con cháu học giỏi có kiến thức khoa học kinh tế cao, sau dùng kiến thức nội lực trở về Việt Nam- quê hương giải nghiệp cho tổ quốc.

    4- Giảm bớt sự tự Mãn: Chính phủ trong nước không nên “nêu cao” vai trò lãnh đạo của Đảng, tổ chức ăn mừng to lớn những ngày hội chiến thắng. Làm việc này chỉ gợi lại sự đau thương mất mát, hằn thù dân tộc: Mừng đánh thắng Pháp thì dân Pháp và dân Việt nghi kỵ nhau, mừng đánh thắng Mỹ thì dân Mỹ và dân Việt cũng lại nghi kỵ nhau, mừng đánh thắng quân xâm lược Bắc Kinh thì dân Trung Quốc lại càng ghét dân Việt Nam. Mừng Chính quyền Cộng sản bắc Việt Hà Nội đã đánh thắng chính quyền miền Nam Cộng hòa thì những người con cháu của chính quyền Việt Nam Cộng hoà lại nghi kỵ căm ghét những người con cháu chính Quyền Cộng sản Bắc kỳ… Nghiệp báo đã và đang trả muốn rút ngắn lại, ta phải lấy ân trả oán mới hết oán. Chúng ta hãy học tập cách đối xử của Chính phủ Nhật và Chính phủ Mỹ sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2.
    Lịch sử Đại Việt đã có Vua Trần Nhân Tông sau khi nhìn nhận thấy việc ác của vua cha quá lớn (Thái sư Trần Thủ Độ lập bẫy bãi sập giết hết tôn thất, mầm mống nhà Lý để an tâm chiếm ngôi), sau khi lãnh đạo nhân dân đánh thắng quân Nguyên, Trần Nhân Tông đã nhường ngôi xuất gia đi tu- sám hối cho vua cha, đoàn kết lại dân tộc, lấy lòng từ bi phục hưng lại đất nước. Chỉnh Phủ Cộng sản hiện nay nên học tập gương Vua Trần Nhân Tông giác ngộ- sám hối xây dựng dải đất S An Nam mới khiêm nhã phát triển.

    5- Giảm bớt sự nghi ngờ, nghi kỵ: Đảng cầm quyền phải xem các lời phản biện của các tầng lớp trí thức trong và ngoài nước như là những lời tâm huyết, là nguyên khí của quốc gia. Sự đấu tranh của nông dân, công nhân là quyền lợi của nhân dân lao động. Không thể nghi kỵ cho rằng bất cứ ai có ý kiến góp ý, có bất đồng chứng kiến là bọn phản động âm mưu lật đổ chính quyền, bọn diễn biến hòa bình…Đảng cũng không nên can thiệp theo dõi quản lý tôn giáo. (Tôn giáo mà chịu sự lãnh đạo của Đảng, là đồng nghĩa với tôn giáo đã bị ngoại đạo xâm hoại). Đảng cũng giảm bớt sự độc quyền báo chí, thông tin.

    6- Giảm bớt Ác kiến: Chính quyền đoàn thể không nên chỉ tổ chức cầu siêu cho những vong linh liệt sỹ “phía mình”. Mà phải cầu siêu cho tất cả các vong linh, những công dân của các dân tôc Việt, Chăm, Khơme, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nga… đã không may xấu số bị chết ở biên giới, vùng biển hải đảo, đất liền, các bãi chiến trường Việt Nam. Vì nếu chỉ cầu siêu cho một phía thì không phù hợp với tinh thần từ bị của đạo Phật, bác ái của đạo Thiên chúa, tinh thần nhân đạo của dân tộc, tinh thần vô sản của Đảng. Và nếu chỉ cầu siêu một phía, nếu còn có các linh hồn phía bên kia chưa siêu thoát họ sẽ phiền não, oán hận, phá phách. Nếu không siêu tất cả hàng nghìn năm sau ta vẫn phải làm. (Chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Trung Ương giáo hội Hội Phật giáo từ ngày 15-17/4/2010 vừa qua đã làm lễ cầu siêu cho các vong linh Tôn thất nhà Lý bị nhà Trận đặt bẫy giết tại Bãi Sập và chùa Phúc Lâm).
    Về việc xây dựng duy trì một chiếc Lăng giống như một Tháp Chăm cổ, chứa thân xác của Hồ Chí Minh đặt tại thủ đô, trái tim của nước Việt Nam hiện nay đó là một nghiệp báo quá nặng nề vì:
    – Theo phong tục tập quán đại Việt từ thời Vua Hùng cho đến nay ai chết đi cũng được chôn-cải táng, hoặc thiêu- hỏa táng để cát bụi lại trở về với cát bụi.
    – Về duy tâm, phong thủy Á Đông không bao giờ người ta để lù lù một chiếc lăng mộ ở trái tim của một ngô nhà, (mộ Hồ Chí Minh đang đặt ở trái tim thủ đô của Đất nước). Để như vậy gia đình,đất nước, con cháu, nhân dân làm ăn luôn luôn bất an, bị động.
    – Những nhà khảo cổ đến Hà Nội xem Lăng Hồ Chủ Tịch rồi vào miền Trung xem Tháp cổ của người Chăm người ta sẽ thấy ngay một sự sao chép chưa hoàn hảo.
    – Chỉ có những con thú khi chết đi, do người ta thích chơi làm cảnh người ta mới mổ bụng moi sạch nội tạng rồi tẩm ướp sấy khô để chưng chơi.
    – Việc hàng năm phải duy trì bảo quản, bảo vệ Lăng quá tốn kém (chính phủ chưa giám công khai, giả sử một năm Chính phủ phải chi ra 10 tỷ nuôi Bộ tư lệnh bảo vệ Lăng và bảo quản thân xác Bác, 10 tỷ : 10 triệu/01 ngôi nhà = 1000 ngôi nhà, làm trong 10 năm ta sẽ xây được 10.000 nhà tình thương cho 10 tỉnh có dân tôc nghèo ở miền Trung). Điều này không biết có phù hợp với ý muốn của Cụ Hồ không, hay là do vô tình mà con cháu đang cố hành xác Cụ.
    Năm gạch đầu dòng trên, gợi ý người kế tiếp vai trò lãnh đạo Đảng Cụ lần thứ XI nên tổ chức cầu siêu, hỏa táng, giải tro cụ Hồ về dải đất miền Trung, giải phóng thân xác cho Cụ, ngỡ bỏ mộ táng ở trái tim của đất nước. Nghiệp đời được trả, Cụ sẽ hoan hỷ phụ hộ cho Chính quyền mới dân chủ, trí sáng- tâm khai, an tâm xây dựng đất nước phát triển hòa bình ổn định.
    Từ năng kính Từ bi của Phật giáo, thời gian và tâm trí có hạn, người viết phân tích- giải mã phần nào về Điêu tàn năm 1937: “kinh dị, thần bí, bế tắc”, của Chế Lan Viên. Người viết trân trọng các bạn đọc hoan hỷ, bổ sung góp ý cho bài viết rõ nghĩa thấu tình hơn. Mong sao dải đất S An Nam mới, các dân tộc sống trên đó nghiệp báo sớm hết, nghiệp ác mới không tạo, được sống trong hòa bình an lạc- hạnh phúc.
    Namo Bổ Sư Tích Ca mâu Ni Phật,
    Namo A Di Đà Phật,
    Namo Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,
    Namo Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ tát,
    Phù hộ độ trí cho tất cả các vong linh tử sỹ của các dân tôc Việt, Chăm, Khơme, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nga…không may xấu số đã phải chết ở biên giới, vùng biển hải đảo, đất liền, dải đất S Việt Nam do chiến tranh, do hậu quả của chiến tranh- tỵ nạn, do công việc làm ăn…được siêu độ về thế giới Tây phương cực lạc đại từ đại bi A Di Đà Phật.
    Namo A Di Đà Phật, Namo A Di Đà Phật, Namo A Di Đà Phật.
    Chú giải:
    (1) Nhân – quả có khi thấy ngay (nhãn tiền), có khi sau thời gian (nhiều kiếp) mới thấy được. Nghiệp báo có khi nhận thấy một cách rõ ràng, có khi không dễ nhận thấy một cách rõ ràng và trừu tượng.
    Ví dụ: Thời gian gần đây, thế kỷ trước tại bắc châu Á; Phát xít Nhật gây chiến tranh thế giới thứ 2 (tạo nhân), nhân dân Nhật đã nhận 02 quả bom nguyên tử (nhận quả). Chính quyền Trung Quốc chiếm Tây Tạng (tạo nhân), sau đó tự Trung Quốc đã làm cuộc cách mạng văn hóa, phá đi rất nhiều kiến trúc văn hỏa cổ của dân tộc Đại Hán và tự tiêu diệt hàng chục triệu nhân dân mình (nhận quả nghiệp báo).
    (2) Giác ngộ- sám hối: Dùng trí tuệ soi xét nhận ra những điều mình đã làm (ý, khẩu, thân) sai khuấy (như cộng sản tạo ra chiến tranh lợi mình, hại mình- hại người), và sẽ không làm những điều sai khuấy nữa giúp cho mọi người được bình an hạnh phúc (Đảng- Quốc hội xây dựng lại hệ thống Pháp luật thật sự Dân chủ vì quyền lợi của các tầng lớp nhân dân…Ví dụ: Không phải “tự sát” nhưng vẫn bỏ điều 4 của Hiến pháp hiện hành). Theo Blogger SaoBang

    Bình luận bởi Hoang Sa — 30/09/2010 @ 1:43 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: