Hoàngquang’s Blog

06/06/2009

Giáo dục Việt Nam thừa tiền?

Filed under: Không phân loại — hoangquang @ 6:58 sáng
Tags:

NXHGiáo sư Hãn nói so với GDP chi tiêu giáo dục của Việt Nam ở mức 9,2%, cao hơn cả Mỹ

Một giáo sư hàng đầu ở Việt Nam, người từng xin ứng cử bất thành ủy viên Trung ương Đảng, nói giáo dục Việt Nam ”không thiếu tiền” và thậm chí có thể giảm học phí chứ không cần tăng như chính phủ Việt Nam đề nghị.

Phát biểu một ngày trước khi Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đọc tờ trình tại quốc hội về giáo dục trong đó có vấn đề tăng học phí, giáo sư Nguyễn Xuân Hãn nói với Thông tấn xã Việt Nam rằng ”không nên đặt ra” vấn đề tăng học phí.

”Trong khi nền kinh tế toàn cầu đang rơi vào khó khăn, ngay các đại học kếch xù của Mỹ cũng giảm 50% học phí thì mình lại thò tay vào túi tiền dân.”

”Hơn nữa giáo dục nước ta không thiếu tiền. Nếu thu chi công khai, minh bạch, quản lý tốt và chi tiêu hợp lý, thậm chí có thể giảm học phí.”

Ông Hãn nói so với năm 1990, số học sinh sinh viện hiện là 22 triệu, tăng chưa đến gấp đôi nhưng chi cho giáo dục hiện khoảng 4,7 tỷ đô la Mỹ, tăng 40 lần.

Ông cũng nói thêm so với GDP thì chi tiêu cho giáo dục Việt Nam ở mức 9,2% so với con số 7,2% của Mỹ, 6,1% của Pháp và 4,7% của Nhật trong lúc đồng minh cộng sản Cuba của Việt Nam vẫn có chế độ giáo dục miễn phí.

‘Bí mật’

Tiền chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để làm giáo dục thành công.

Giáo sư Nguyễn Xuân Hãn

Ông Hãn cũng đặt những câu hỏi về thống kê của chính Bộ Giáo dục và Đào tạo xung quanh vấn đề lương của giáo viên.

Giáo sư nói dự vào số giáo viên hơn 870.000 và qũy lương theo công bố là hơn 38.000 tỷ đồng thì lương trung bình của giáo viên phải ở mức 3,6 triệu đồng một tháng.

Nhưng theo ông trên thực tế mức lương trung bình hiện nay là 1,5 triệu đồng một tháng và đặt câu hỏi ”Số tiền hơn hai triệu còn lại đáng lý phải thuộc về giáo viên thì đã đi đâu?

”Nếu số tiền này được trả đủ, đúng cho giáo viên thì không cần phải tăng học phí.”

”Tài chính cho giáo dục từ cơ sở đến Trung ương là một ẩn số, mà giáo sư Phạm Minh Hạc – nguyên Bộ trưởng Giáo dục cũng từng gọi là ”bí mật của các bí mật”.

Mới đây, thanh tra nhà nước vừa kết luận hàng chục tỷ đồng đã bị dùng sai nguyên tắc và lãng phí trong chương trình cải thiện chất lượng giáo viên và cơ sở vật chất của một loạt các tỉnh trong đó có nhiều tỉnh miền núi.

Giáo sư Hãn nói: ”Tiền chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để làm giáo dục thành công.”

Ông nhấn mạnh tới vai trò của những người quản lý trong việc xây dựng giáo dục Việt Nam.

Theo BBC.co.uk

Không thiếu tiền sao phải tăng học phí?

Bài này đăng từ 31 Tháng mười 2005

Điện tăng giá; vàng tăng giá; rau quả tăng giá… các tin tức trên hàng ngày, hàng giờ tác động vào đời sống con người song có lẽ không có tin nào gây sốc bằng việc tăng học phí…

Việc tăng học phí sẽ tăng gánh nặng cho các sinh viên

Không cần tăng nhiều lần như giá các mặt hàng khác, mặt “hàng” chữ nghĩa này ngay lập tức tăng 5 lần!

Như vậy sẽ có hơn 5 triệu con người (khoảng 2,5 triệu học sinh THPT và gần 3 triệu học sinh, sinh viên các trường ĐH, CĐ và THCN) sẽ chịu tác động trực tiếp của việc “tăng giá” chữ này.

Tiền phong xin trích đăng cuộc trao đổi giữa phóng viên với GS, TSKH Toán Lý Nguyễn Xuân Hãn (ĐHQG HN), một nhà giáo tâm huyết với giáo dục đã từng có nhiều bài viết về những bức xúc của ngành.

Thực sự… choáng

GS, TSKH Nguyễn Xuân Hãn nói: “Việc tăng học phí đã được dự kiến ba năm nay, song đề án chưa hội tụ đủ cơ sở khoa học và thực tiễn. Năm nào Bộ cũng trình Chính phủ, song không năm nào đề án được xã hội chấp nhận.

Tăng học phí thì không bất ngờ, nhưng cách tính học phí của ngành đã gây “choáng” thực sự, theo quan điểm “tính đúng tính đủ” vào học phí.

Cơ sở việc tăng này, theo đề án, là “chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 25%, GDP tăng 1,5 lần kể từ 1998 đến 2005, mức lương tối thiểu đã tăng, và định mức chi phí đào tạo/học sinh/năm tương ứng với các cơ sở GD.

Như vậy học phí tối đa SV đại học sẽ lên 900.000đ/tháng, học sinh học nghề 600.000 đ/tháng, nghiên cứu sinh là 1.250.000 đ/tháng v.v.” (theo tin của Bộ đăng trên báo Gia đình và Xã hội 29/10/2005) và người ta còn công bố “ thu như vậy vẫn còn… quá thấp” (!?).

Khác với mức tăng giá sinh hoạt, theo kiểu cộng tính dần dần, còn học phí được thiết kế tăng theo “bội số của mức chuẩn tối thiểu” tương tự như việc tăng lương và trượt giá như “buôn bán”(!?). Chuyện tính toán của Bộ GD-ĐT như vậy thì sao mà không choáng được?

Có ý kiến cho rằng quan điểm tính đúng, tính đủ đối với giáo dục giống như đối với một loại hàng hóa là đi ngược với cương lĩnh chính trị của Đảng CS và trái với bản chất của chế độ ta là chăm lo cho con người, đặc biệt cho thế hệ tương lai. Nói như thế có đại ngôn quá không, thưa ông?

Đúng, sự thay đổi ở đây là thay đổi bản chất giáo dục.

1) Để làm rõ cơ sở lý luận, gốc tính học phí hiện nay, thiết nghĩ cần phải phân biệt rõ một số triết lý khác nhau (Triết lý là cách gọi ở phương Tây, còn bên ta triết lý được hiểu là quan niệm – nói theo cách thông thường ở nước ta) nhìn nhận về GD trên thế giới:

i/ “GD là GD của dân, do dân và vì dân” là triết lý về GD của các nước XHCN. ii/ “GD được xem là một lợi ích công, cung cấp rộng rãi cho mọi người không phân biệt giàu nghèo” là được thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới.

Còn “GD được coi là hàng hóa” và “tính đúng tính đủ” vào học phí là triết lý mới về GD, nhằm thương mại hóa mọi lĩnh vực dịch vụ của đời sống kinh tế xã hội do Tổ chức Thương mại Thế giới khởi xướng vào năm 1994 với mục đích loại bỏ vai trò Nhà nước và thúc đẩy tiến trình tư nhân hóa, thị trường hóa, tự do hóa trong đó có giáo dục.

Xin lưu ý, triết lý mới này không phải được chấp nhận rộng rãi trên thế giới ngày nay, ngay ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Hiện mới chỉ có ba nước (Mỹ, Úc và New Zealand) theo nghiên cứu cá nhân ủng hộ triết lý này. Mục đích của họ là kinh doanh và xuất khẩu giáo dục sang các nước nghèo, chứ chưa hẳn thương mại hóa giáo dục ở nước mình.

Việc đổi mới cách tính học phí ở nước ta hiện nay về thực chất là một sự thay đổi lớn bản chất của GD – triết lý giáo dục. Giáo dục của dân, do dân và vì dân, được đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước, được quy định ở Điều 36 trong Hiến pháp 2002.

Theo dự kiến và kế hoạch của Bộ GD-ĐT, thì GD nước ta sẽ được thả nổi cho thị trường tự điều tiết, vai trò Nhà nước giảm dần và triệt tiêu vào năm 2010. Các cơ sở GD được trao quyền “tự chủ” về tài chính và nhân sự, tương tự doanh nghiệp.

2) Chế độ XHCN coi giáo dục miễn phí là một yêu cầu cơ bản. Vì vậy, tất cả các nước XHCN đều thực hiện miễn phí giáo dục đào tạo. Việc thu một phần đóng góp của dân trong giai đoạn chuyển tiếp này chỉ là một sách lược.

Mục tiêu lâu dài vẫn là một nền GD miễn phí trong tương lai. ấy nhưng, vào năm 2010, các cơ sở đào tạo sẽ được trao quyền “tự chủ” xây dựng mức học phí để cân đối thu chi, cho GD nghề nghiệp và GD đại học. Lộ trình tự do hóa giáo dục do Bộ GD-ĐT dự kiến chỉ đạo, còn diễn ra nhanh hơn các nước tư bản, kể cả Mỹ hiện nay.

Xin lưu ý, ở những trường giàu nhất nước Mỹ như Harvard, tiền học phí chỉ đủ trang trải 30% chi phí hoạt động, và phần còn lại 70% do Nhà nước cung cấp. (Theo thư của một GS Mỹ gửi Thủ tướng 22/7/2005). Còn theo một báo cáo của Hội đồng giáo dục quốc gia ấn hành năm 2004, thì năm 2000, phần thu học phí ở nước ta đã chiếm gần 40% tổng thu từ các trường ĐH!

3) Học phí liên quan đến công bằng cơ hội học tập được tất cả các quốc gia đều coi trọng. Vậy học phí trên thế giới được tính như thế nào? Có hai loại trường công và trường tư.

Đối với trường công, kinh nghiệm “tính đúng, thu đủ” học phí trên thế giới đến nay chưa được bất cứ nước nào áp dụng. Tùy theo điều kiện cụ thể từng nước học phí có thể miễn, có thể thu ít, nếu có thu đều dưới mức 50% chi phí.

Trường tư có hai loại. Loại trường tư phi lợi nhuận không chia lãi như công ty cổ phần được khuyến khích. Loại này có nhiều ở Mỹ. Loại trường tư có thu lợi, được Nhà nước khống chế khung học phí. Tất cả đều nằm trong một tổng thể đặt dưới quyền quản lý của Nhà nước.

Nói ngành GD thiếu tiền là không đúng

Nhưng ngành Giáo dục đang thiếu tiền, không lẽ các thầy cô hay các sinh viên, các bậc cha mẹ không nên cảm thông với ngành sao?

Nói Giáo dục thiếu tiền là không đúng. Giáo dục nước ta không thiếu tiền. Thiếu ở đây là thiếu sự quản lý Nhà nước do chủ trương “phi Bộ chủ quản” hiện nay. Kinh phí cho GD hiện nay bao gồm kinh phí của Nhà nước cấp và tiền đóng góp của người dân.

Theo số liệu điều tra của các tổ chức quốc tế và các cơ quan có thẩm quyền ở nước ta, 50% tổng chi cho GD là do người dân đóng góp. Con số này là cao, và có thể cao nhất thế giới.

Tại các nước Anh, Đức, Nga, Mỹ, Pháp, Trung Quốc, việc thu của dân nằm trong khoảng 7% đến 20% tổng chi của GD. Năm 2003, sự đóng góp của dân đạt mức 2 tỷ USD/năm.

Phần đầu tư của Nhà nước 2 tỷ USD (2003), 2,67 tỷ USD (2005), và dự kiến sẽ là 55.000 tỷ đồng- xấp xỉ 3,53 tỷ USD (2006). Nguồn kinh phí Nhà nước ở cấp T.Ư lại được ba bộ: Bộ Tài chính, Bộ KH-ĐT, Bộ GD-ĐT cùng quản, nên “chỉ một số liệu chi tiêu ngân sách trong một lĩnh vực mà 3 bộ cung cấp ở 3 nơi cho 3 con số khác nhau”.

Còn ở cơ sở, các trường tự lo, ngoài phần ngân sách Nhà nước cấp. Tiền thu được một phần giữ lại “chia nhau”, một phần “nộp” lên trên. Con số thu chi này nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước. Cách quản lý kinh phí kiểu này của ta cũng chẳng giống ai.

Thông tin tại Hội thảo ngày 14/10/2005 do Liên hiệp Hội KHKT Hà Nội tổ chức cho thấy “Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cũng không có quyền và cũng không nắm được con số về tài chính GD”. Điều này được khẳng định bởi người có trách nhiệm. Vậy ai nắm thu chi tài chính GD nước ta?

Giả sử lương bình quân cho GV là 100 USD/người/tháng (thực tế lương GV hiện nay thấp hơn), thì tổng kinh phí lương cho tất cả GV từ mẫu giáo đến đại học cũng chưa đến 1 tỷ USD/năm.

Vậy ý kiến của các cơ quan chức năng TƯ cho rằng “Ngân sách Nhà nước chi đáp ứng 70% nhu cầu tối thiểu của GD, trong đó tỷ lệ chi lương, phụ cấp có tính chất lương chiếm khoảng 85%-90%” tại Quốc hội tháng 11/2004 là chưa chuẩn.

Kể từ 1993 đến nay, mỗi năm, theo Bộ GD – ĐT, ta vay của nước ngoài trung bình 100 triệu USD/năm, chưa kể nhiều dự án “xóa đói giảm nghèo”, cũng có phần chi cho GD. Rõ ràng kinh phí Nhà nước, đóng góp của dân, và tiền vay của nước ngoài cho GD là rất lớn.

Là một nhà giáo, nhà khoa học ông có hình dung được sự nguy hiểm nếu đem nhãn mác “hàng hóa” đặt lên trên chữ nghĩa ?

Giáo dục là “hàng hoá”? Xin lưu ý, tất cả cái gì do con người làm ra được gọi là sản phẩm. Sản phẩm và hàng hóa là hai khái niệm khác nhau. Sản phẩm vẫn có thể trao đổi. Sản phẩm chỉ trở thành hàng hóa khi người ta làm ra nó với mục đích lợi nhuận.

Trường tư ở các nước đều có, song giáo dục cũng không được hiểu là “hàng hóa”. Phải chăng sự bất cập trong “Đề án học phí” của Bộ xuất phát từ nhận thức “giáo dục được coi là hàng hóa” mua bán trên thị trường, nên việc “tính đúng, tính đủ” vào học phí được coi là cơ sở tính toán học phí của Bộ? Cách tư duy này đã bị Quốc hội bác bỏ trong kỳ họp tháng 11/2004.

Cần đưa ra Quốc hội

Có ý kiến lại cho rằng đó mới chỉ là đề xuất của ngành GD-ĐT, vấn đề được cho là thiếu tính khả thi này có hợp pháp hay không còn phải chờ vào sự quyết định của Quốc hội? Vậy thực chất của sự hợp pháp của vấn đề là như thế nào?

Vấn đề này theo thiển nghĩ của tôi là nên bàn và quyết định ở hội nghị cấp cao của Đảng và Quốc hội. Học phí liên quan đến công bằng cơ hội học tập của lớp trẻ, và được toàn dân quan tâm, nên đề án này cũng cần công bố cho toàn dân góp ý kiến.

Ông có cho rằng điều này cũng na ná như việc ngành điện đã một lần phải bỏ phương án đề xuất khi phương án đó không có đất sống trong đời sống thực tế hay không?

Đúng, cách làm cũng na ná, song trong GD vấn đề lại nghiêm trọng hơn nhiều. Ví dụ, việc “tự hạch toán” và “tính đúng thu đủ” vào học phí, dự kiến thí điểm ở trường THPT Lê Quý Đôn tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 28/8/2005.

Ngày 31/8/2003, chỉ sau 3 ngày, Ủy ban MTTQ tp Hồ Chí Minh đã họp, và tiếp đó đề nghị HĐND TP và UBND TP dừng cách làm sai trái này. Lý do, lòng dân không yên và bất an, cách làm này sẽ biến nhà trường thành nơi “bán chữ”.

Xin chân thành cám ơn ông.

Hồ Thu (thực hiện)
Việt Báo (Theo_Tien_Phong

GS-TSKH NGUYễN XUÂN HÃN
“NGƯờI PHảN BIệN” NGÀNH GIÁO DụC

http://www.nld.com.vn/167647P0C1017/nguoi-phan-bien-nganh-giao-duc.htm
22/10/2006

Nếu có thể nói gọn trong một câu, trường hợp này đúng với GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn. Nhưng đó là “phản biện” đáng yêu đối với hầu hết những người quan tâm, lo lắng cho ngành giáo dục; kể cả những người lãnh đạo ngành giáo dục, có thể khó chịu nhưng họ cũng phải thừa nhận những căn cứ khoa học thuyết phục ông đưa ra

Với trách nhiệm của một nhà khoa học, ông tự nguyện tham gia phản biện hầu hết các chính sách lớn –nói đúng hơn là quốc sách – của ngành giáo dục. Tham gia giám sát phản biện xã hội trong giáo dục-khoa học, đổi mới giáo dục đại học, góp ý chương trình và biên soạn sách giáo khoa (SGK)…

Gần đây nhất, “quả bom tấn” trong ngành giáo dục: Doanh thu của NXB Giáo dục lên tới 100 triệu USD/năm dựa trên sự độc quyền làm và in SGK, ông cũng là một trong những nguồn phát ra. “Chính xác hơn, tôi chỉ là người tập hợp, đưa thông tin này đến với công luận, xã hội” – GS Nguyễn Xuân Hãn “đính chính”. “Doanh thu chứ không phải lợi nhuận trên 100 triệu USD/năm của NXB Giáo dục mà GS Nguyễn Lân Dũng đưa ra” – ông Hãn chữa lại.

Với sự cẩn thận, chính xác của một nhà khoa học, ông trích dẫn các số liệu cụ thể… Những luồng thông tin này, trong đó có thể có vai trò của ông đã được sự quan tâm của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Mới đây, như Báo Người Lao Động thông tin, nguyên Thủ tướng đã có thư gửi Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, nêu những bất cập trong việc xuất bản SGK của NXB Giáo dục.

“Độc quyền in sách còn tệ hại hơn cả sự ngu dốt”

. Phóng viên: Thưa GS, xin GS lý giải thêm về con số 100 triệu USD?

GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn có 65 công bố khoa học, trong đó gần 50 công trình đăng trên các tạp chí quốc tế, được thưởng Huy chương Vì sự nghiệp khoa học – công nghệ, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, Huy chương Vì sự nghiệp khuyến học. Năm 1998, ông được Thủ tướng bổ nhiệm là ủy viên Hội đồng Giáo dục quốc gia. Hiện là ủy viên thường vụ Hội Vật lý Việt Nam, thư ký hội đồng biên tập sách dạy vật lý, toán cho bậc đại học, trên đại học; Tổng biên tập tạp chí Vật lý Ngày nay; giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

GS Nguyễn Xuân Hãn: Doanh số 100 triệu USD của NXB Giáo dục dựa vào số liệu của Cục Xuất bản (Bộ VHTT) và số tem “chống in lậu” do NXB này sử dụng. Năm 2001, tổng số xuất bản phẩm được xuất bản và phát hành là 237,76 triệu bản với tổng doanh thu 1.705 tỉ đồng, trong đó riêng NXB Giáo dục đã chiếm 200 triệu bản ấn hành (mỗi con tem 40 đồng, 8 tỉ tiền tem), tương đương 84% lượng in ấn cả nước, vào khoảng 1.434,2 tỉ đồng. Vào thời điểm đó, tương đương 100 triệu USD. Kể từ đó đến nay, lượng phát hành sách của NXB này tăng 10%/năm. Trước khi đưa ra công luận, tôi đã lưu ý sự không bình thường này với những người có trách nhiệm, kể cả giám đốc NXB Giáo dục tại Văn phòng Chính phủ.

. Ông đã đón nhận thông tin Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chỉ đạo tiến hành thanh tra tài chính và việc xuất bản SGK như thế nào?
– Tôi không bất ngờ! Đáng ra đã phải làm việc này từ lâu. Làm gì có quốc gia nào thay SGK xoành xoạch hằng năm như ta? Lãng phí khủng khiếp. Năm nào cũng thay đổi SGK có rất nhiều cái tai hại. Đó là phản ánh hình ảnh của một nền giáo dục không ổn định, bất bình thường. Với các nước, ngay cả ở Mỹ, SGK cũng được sử dụng nhiều năm, ở thế hệ chúng tôi là 30 năm.

Theo những số liệu thống kê, có thể khẳng định mỗi đầu sách khi thay mới, NXB có thể lãi tới cả triệu USD, đồng nghĩa với việc 1 triệu USD khác (sách của năm trước) chỉ còn giá của… giấy vụn! Một thực tế đang tồn tại trong ngành giáo dục từ hàng chục năm nay là học sinh phổ thông đã bị “bội thực” SGK, năm nào cũng bị ấn thêm SGK; ngược lại ở bậc ĐH “đói” giáo trình. Ấy thế mà người ta cứ nhào vào đòi làm SGK còn giáo trình chả mấy ai màng.

Cái tội không có chương trình chính thức, SGK chuẩn

. GS có suy nghĩ gì về sự độc quyền của NXB Giáo dục trong việc in SGK?

– Sự độc quyền ấy sinh thêm lắm cửa quyền. Theo số liệu do chính NXB Giáo dục công khai, để trung bình mỗi học sinh có một bộ sách mới thì NXB Giáo dục phải in khoảng 340 triệu bản. Nhưng năm nào NXB này cũng chỉ in một nửa số đó. Họ chỉ cần thay vài trang trong chương trình sách, năm nay bài tập ở trang 5, năm sau chỉnh sửa sang trang 7 thế là lại in sách mới.

Chả thế mà có học sinh nói với tôi rằng: “Bài tập thầy giao ở trang 5 nhưng sách của em lại ở trang 8”. Theo tôi, đây là hành vi gian dối trong giáo dục để trục lợi.
. Theo GS, ai là người phải chịu trách nhiệm?

– Theo Hiến pháp và luật pháp, trách nhiệm của việc thay SGK không chỉ riêng Bộ trưởng Bộ GD-ĐT. Ý nghĩa của chương trình SGK rất quan trọng. Chương trình là cốt lõi nền học, SGK là tài liệu mang tính pháp lý trong dạy và học.

25 năm nay VN không có chương trình chính thức, không có SGK chuẩn với nghĩa khoa học. Tất cả giao khoán cho Bộ GD-ĐT! Không một người có trách nhiệm nào trả lời trước Quốc hội và nhân dân để ổn định giáo dục phổ thông.

. Cũng có một số GS là đại biểu Quốc hội cho rằng chỉ cần 1 chương trình là có thể có nhiều bộ SGK?

– Đông tây kim cổ, chương trình chỉ có một. SGK thì phải hiểu là từ lớp 1 đến lớp 12 và phải có tư tưởng học thuật, chứ không phải là có 2 người (hay nhóm) khác nhau viết thì thành ra 2 bộ SGK như cách hiểu ở VN hiện nay. Ví dụ, ở ngành sinh vật học, có 3 cách viết SGK: 1/ Từ đơn giản, cụ thể đến phức tạp; 2/ Ngược lại cách 1; 3/ Viết theo kiểu thực nghiệm. Tuy nhiên, ở những nước còn giữ chế độ thi cử như VN mình, người ta phải chọn lấy một bộ chính thức (bộ này phải thực sự phổ thông, dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ), các bộ còn lại chỉ có tính tham khảo. Chính vì cái cách làm theo kiểu 2 người viết thành

2 bộ SGK ấy nên kỳ thi ĐH năm 2003 mới có chuyện đề thi môn vật lý không chuẩn; đầu tiên là các giáo viên chấm thi rồi đến các nhà chuyên môn tranh luận, “nóng” gần tháng trời. Ấy chỉ vì cái tội không có SGK mang tính “pháp lệnh” chuẩn để tham chiếu xem ai đúng, ai sai.

Cách làm SGK phổ thông hiện nay giống như việc xây tòa nhà giáo dục 12 tầng, mỗi tầng một người xây một kiểu bởi chẳng có thiết kế tổng thể cũng như chi tiết chuẩn cho cả tòa nhà. Viết đến đâu, thay “cuốn chiếu” đến đấy, chứ không chịu làm xong cả 12 lớp rồi mới thay. “Đó là cách làm kiểu nông dân!”.

. Phàm việc gì nói cũng dễ hơn làm. Vậy nếu được giao trọng trách xây dựng chương trình, biên soạn SGK ông có thể làm tốt như ông nói?

– Năm 1945, sau Cách mạng Tháng Tám, GS Hoàng Xuân Hãn chỉ trong vòng 2 tháng đã biên soạn xong cả chương trình SGK. Cái chương trình SGK chuẩn bị “vội vàng khoa học” ấy thế mà vẫn sử dụng được ổn định ở miền Bắc cho đến năm 1954; ở miền Nam lâu hơn, đến tận 1972. Năm 1955, GS Nguyễn Văn Chiển và GS Hoàng Tụy cũng chỉ mất 6 tháng cho công việc này và đã được sử dụng ổn định tới 35 năm.

Giữa năm nay, GS Trần Hữu Tá từ TPHCM cũng có gọi điện ra hỏi: Tại sao có thể làm được trong thời gian ngắn và ít tiền như vậy? Tôi trả lời rằng phải tập hợp trí tuệ trong Nam, ngoài Bắc. Kinh nghiệm quý báu của lớp trí thức cách mạng lão thành như ông Lê Văn Giạng, GS Nguyễn Văn Chiển, GS Hoàng Tụy, nhà giáo Lê Hải Châu… trong việc thiết kế chương trình và biên soạn SGK là rất quý báu. Rồi việc kế thừa của lớp trước thôi cũng đã rút ngắn đáng kể thời gian. Tôi đã đối chiếu chương trình SGK của miền Bắc, miền Nam trước 1975 (chỉ lược bớt một số phần không phù hợp) với sách của các nước tiên tiến như Mỹ, Nga hiện nay thì cơ bản là giống nhau.

Trên cơ sở hiện đại hóa kinh nghiệm này của các năm 1945, 1955, 1975 và đội ngũ trí thức hiện có, không có gì là không thể. Xin khẳng định, việc chuẩn bị và biên soạn chương trình SGK từ lớp 1đến lớp 12 sẽ được hoàn tất và có thể triển khai ngay trong năm học tới.

Luật hóa việc thay SGK, sự độc quyền tự “teo” luôn

. Thưa GS, cũng có một số ý kiến cho rằng để phá thế độc quyền này, tốt nhất là xã hội hóa, cho các NXB khác, tư nhân cùng làm SGK?

– Chưa chắc! Chuẩn giáo dục gần 30 năm nay, lãnh đạo ngành giáo dục thực thi nhiều biện pháp nhưng có ra đâu. Có cho tư nhân làm cũng chẳng giải quyết được.

. Vậy GS sẽ làm gì, nếu đóng góp của GS được lắng nghe, áp dụng?

– Không phải ý kiến của tôi mà là những kinh nghiệm tôi học hỏi, chắt lọc được từ kinh nghiệm trong và ngoài nước. Tất cả các NXB phải chịu trách nhiệm về nội dung, in ấn; riêng SGK thì NXB chỉ là phương tiện của các nhà khoa học. Bản thảo chương trình SGK là công trình khoa học cấp quốc gia. Sau khi bản thảo đã được hoàn chỉnh, NXB nào cũng có thể in được.

Tất cả các nước đều có chế tài, SGK phải được sử dụng ổn định, ít nhất là sau 10 năm mới được thay. Nếu làm được như thế, tự thân NXB Giáo dục cũng sẽ “teo” đi rất nhiều mà cũng chẳng ai còn buồn nhảy vào cạnh tranh. Hiện nay, tất cả do NXB Giáo dục làm tất, từ chịu trách nhiệm biên soạn nội dung đến in ấn.
Việc làm đầu tiên: Lại vẫn là… ổn định chương trình SGK!

. Vốn đã nổi tiếng với tư cách “nhà phản biện” ngành giáo dục, GS cũng đã tự ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X hồi tháng 4-2006 vừa rồi. Vậy giả dụ, khi đó nếu trúng cử, GS sẽ làm việc gì đầu tiên?

– Ổn định chương trình SGK! Năm nay Nhà nước đầu tư cho ngành giáo dục 3,5 tỉ USD, chưa kể tiền đóng góp của dân, rồi hàng chục dự án vay của nước ngoài cũng gần 100 triệu USD… Chỉ khi nào ổn định được nền giáo dục thì VN mới tránh được sự thất thoát, lãng phí trong giáo dục.
. Năm 2007 tới đây, cả nước sẽ bầu Quốc hội khóa XII, ông còn đủ nhiệt huyết và sự tự tin để tự ứng cử tiếp?
– Tôi chưa biết!
. Xin trân trọng cảm ơn GS.
Thái An thực hiện

nld.com.vn

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: